Những biện pháp tăng cường quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục học sinh nội trú của trường THPT Nội trú Đồ Sơn - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM VŨ XUÂN KHIÊM

NHỮNG BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC HỌC SINH
NỘI TRÚ CỦA TRƯỜNG THPT NỘI TRÚ - ĐỒ SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC


Mã số : 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN ĐỨC CHÍNH Hà Nội - 2005
3
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
6. Giả thuyết nghiên cứu.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.
8. Cấu trúc của luận văn.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG


10
11

11
15
16
18
18
18
18
19
19

19
20
20

21 4
1.5. Mô hình quản lý chất lƣợng
1.5.1. Mô hình BS 5750/ISO 9000
1.5.2 Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements
Model), (SEAMEO, 1999)
1.5.3. Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (Ashworth và
Harvey, 1994)
1.6. Khái niệm QLCL - Các hệ thống ĐBCL trong QL
1.6.1. Khái niệm ĐBCL:

27

28

28
33 35
35

37
37
39

40

40
41
42
42
42

42
42
44 5
2.5.1. Về đội ngũ giáo viên.

3.4. Giảng dạy, học tập, chƣơng trình, tổ chức lên lớp, thi
45
46
47
47

48
48
48

51
53
53
54
54
54
54
55

57
59
59
62

64

65
67

68


74

74

76
80 85

85
86

91
94
97 
Công trình được hoàn thành tại :

Người hướng dẫn khoa học : GS-TS. Nguyễn Đức Chính.

Phản biện 1 :

Phản biện 2 :

định đến CLGD) chỉ được xem như là điều kiện cần trong nhà trường.
Trường THPTNT Đồ Sơn ra đời là mô hình mới của GD&ĐT thành phố
Hải Phòng. GD&ĐT Hải Phòng đã thực hiện chủ chương đa dạng hoá các loại
hình đào tạo. Sự ra đời của mô hình GD nội trú dành cho con em các huyện
đảo, con em vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, con em gia đình chính sách,
gia đình đặc biệt khó khăn vượt khó vươn lên học giỏi, góp phần nâng cao
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương đó, giữ vững công tác phổ
cập, rút ngắn khoảng cách dân trí giữa thành thị với nông thôn, giữa đất liền
với hải đảo.
Vấn đề quản lý chất lượng, đảm bảo chất lượng giáo dục và nâng cao
chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông là mối quan tâm của tất cả
những người làm giáo dục bao gồm: Cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân
viên, phụ huynh học sinh. Chính vì vậy chúng tôi rất băn khoăn và trăn trở
trong công tác quản lý mô hình GD mới này. Xuất phát từ những lý do trên
chúng tôi chọn đề tài: “Những biện pháp tăng cường quản lý các điều kiện
đảm bảo chất lượng GD học sinh nội trú của trường THPTNT Đồ Sơn”. 2
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý để tìm
tòi và bổ sung các biện pháp nhằm tăng cường quản lý các điều kiện đảm bảo
chất lượng GD học sinh nội trú của trường THPTNT Đồ Sơn nhằm ổn định và
phát triển mô hình mới và khẳng định sự tồn tại của loại hình trường nội trú
phổ thông là phù hợp trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của khái niệm chất lượng và các điều kiện
đảm bảo chất của trường phổ thông.
3.2. Khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý các điều kiện đảm bảo
chất lượng giáo dục của trường THPTNT Đồ Sơn - Hải Phòng.

điều kiện đảm chất lượng GD trong trường phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng các điều kiện đảm bảo chất lượng GD và công
tác quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng của trường
THPTNT Đồ Sơn.
- Chương 3: Những biện pháp tăng cường việc quản lý các điều kiện
đảm bảo chất lượng GD ở trường THPTNT Đồ Sơn - Hải
Phòng.
KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Cuối luận văn là phần tư liệu tham khảo và phụ lục.
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG.
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Trong những năm qua nền giáo dục THPT nước ta đang trong quá trình
tự đổi mới. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và chuyển biến mạnh mẽ, nhưng chất
lượng giáo dục THPT nước ta còn nhiều yếu kém và bất cập. Chất lượng đào
tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay
và so với kết quả đào tạo THPT của nhiều nước trong khu vực.
Ở nước ta, việc đánh giá và đảm bảo chất lượng trong giáo dục THPT
vẫn còn là một lĩnh vực rất mới mẻ, chưa thực sự được nhiều người thậm chí
cả những nhà quản lí trực tiếp ở các cấp biết đến và quan tâm đến một cách

cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [8.tr.283].
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederics William Taylor (Mỹ-1856
- 1915), Henri Fayol (Pháp- 1841- 1925), Max Weber (Đức- 1864 - 1920) đều
đã khẳng định: “Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật”.
Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem “Quản lý là một quá trình tác
động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt
được mục đích của quản lý” [20.tr.176].
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Xô viết đã đưa ra một số định nghĩa
về khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục
phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng.
Tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể
quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (ví dụ: từ Bộ
GD-ĐT đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục tinh thần
Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hòa,
trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của CNXH cũng
như quy luật khách quan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thể chất
và tâm lý của trẻ em, thanh thiếu niên.
Từ đây, chúng ta có thể hiểu khái niệm QLGD một cách đầy đủ hơn
như sau:
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường
XHCN Việt Nam mà tâm điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,
đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. 6

nghĩ ra rồi chuyển vào đời sống, mà nó là sự phản ánh đời sống thực tiễn giáo
dục, do nền chính trị sư phạm cảm nhận được, ý thức được. Quản lý đó phải
thích ứng với thời đại giáo dục đang tồn tại và phù hợp với mỗi hoàn cảnh
môi trường của đời sống cộng đồng, đất nước đang chứa đựng nền GD đó. 7
Quản lý giáo dục phải tuân thủ được tính quy luật của sự phát triển quá
trình giáo dục trong các mối tương tác với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa, chính trị khoa học. Nó liên kết được nội lực và ngoại lực của quá trình sư
phạm tạo ra được động lực cho chính sự vận động của giáo dục thực hiện
đồng thời các mục tiêu phát triển, phổ cập, phục vụ.
Nhà trường là một bộ phận, một thành tố giáo dục cho nên quản lý nhà
trường là một khái niệm mang ý nghĩa cụ thể. Quản lý nhà trường là cách
thức sắp xếp, tổ chức, điều hành, quản lý toàn diện để nhà trường vận động
theo mục tiêu giáo dục đã đặt ra và tiến đến một trạng thái có chất lượng mới.
1.2.3.2. Quản lý trường phổ thông
“Quản lý trường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác,
tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập
thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực ở
dạng tiềm năng (do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do tích
lũy vốn tự có từ lao động xây dựng), hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động
của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có
chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái
mới” [32. tr.43].
Theo tác giả Nguyễn Gia Quý: Quản lý trường học bao gồm: Quản lý
của các cấp quản lý vĩ mô đối với trường học; quản lý trực tiếp trường học;
Hiệu trưởng và các mối quan hệ quản lý trong trường học.
1.2.3.3. Quản lý trường PT nội trú
Từ những khái niệm trên và đúc rút từ thực tiễn, luận văn mạnh dạn

1.4.1. Quan niệm về chất lượng trong GD:
Chất lượng: "Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những bản chất sự
vật chỉ rõ đó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các
sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu
hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự
vật lại làm một, gắn bó sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật mà
không tách rời khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không
thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự
vật về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với thuộc tính quy
luật về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy luật ấy. Mọi sự vật
bao giờ cũng là sự thống nhất của số lượng và chất lượng" [49.tr.419].
Hoặc "Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của người, một sự vật,
một sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của
sự vật và phân biệt nó với sự vật khác" [33.tr.35].
- Chất lượng giáo dục: Là trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu GD đáp
ứng ngày càng cao hơn nhu cầu của người học và sự phát triển của xã hội 9
"Chất lượng giáo dục là sản phẩm cuối cùng của quá trình GD phổ thông, đó
là chất lượng học vấn của một lớp người và bộ phận lớn vào đời ngay sau khi
ra trường. Sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hoá
từ lượng sang chất của trình độ dân trí. Bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp tục
nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp. Sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra
sẽ chuyển hoá từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ
cao với tất cả dấu ấn lên nhân cách của họ là quá trình giáo dục phổ thông"
[17.tr.2]
- Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu GD chất lượng GD-ĐT
gắn với sự hoàn thiện của tri thức - kỹ năng - thái độ của sản phẩm GD-ĐT và
sự đáp ứng được yêu cầu đa dạng của nền kinh tế xã hội của nó trước mắt

lên tác động ảnh hưởng của nhà trường hay hệ thống giáo dục đối với người
học. Nghĩa là chất lượng dạy học càng cao thì càng làm phong phú thêm kiến
thức, thái độ, giá trị và hành vi của người học.
1.4.2. Mục tiêu và chuẩn GD học sinh phổ thông nói chung và học sinh
PTDTNT nói riêng
1.4.2.1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông.
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục THPT nhằm giúp người học củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết
thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng,
THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. (1.tr18)
1.4.2.2. Mục tiêu của giáo dục PTDTNT.
- Ngoài những mục tiêu như trường phổ thông mục tiêu chung của
trường Phổ Thông DTNT là chuẩn bị nguồn để đào tạo cán bộ mà trước hết,
quan trọng nhất là nguồn cán bộ cho chính địa phương của những vùng miền
núi, hải đảo có điều kiện KT-XH chậm phát triển.
- Thực hiện giáo dục toàn diện, trang bị kiến thức ở cấp phổ thông để
học sinh có hiểu biết về Tổ quốc, về cộng đồng các dân tộc Việt Nam về
quyền lợi và nghĩa vụ công dân, về nếp sống văn minh, về truyền thống nền
văn hoá của các dân tộc thiểu số, về chủ chương chính sách dân tộc của đảng
và nhà nước chuẩn bị tốt cho học sinh học lên bậc học trên theo học trong các
trường chuyên nghiệp và đại học hoặc đi vào cuộc sống lao động theo yêu cầu
của địa phương.
- Giáo dục lao động và hướng nghiệp,hướng dẫn học sinh chọn nghề phù
hợp với khả năng của bản thân với yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương;
Giáo dục học sinh tinh thần phục vụ quê hương. Có kế hoạch theo dõi số học

- Có hiểu biêt về chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội, pháp luật an ninh
trong trường học và xã hội.
Có kiến thức về môn GDCD - sống và học tập theo 5 điều Bác Hồ dạy
thiếu niên. 12
Có kiến thức cơ bản về lịch sử văn hoá dân tộc và địa phương.
Hiểu biết chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước, hiểu biết và phát triển
kinh tế xã hội của đất nước và địa phương.
Biết NQ quy định về công tác tổ chức, hành chính trong trường học.
Hiểu biết và nhận thức đúng đắn về các vấn đề môi trường, dân số,
kinh tế - xã hội, thông tin - văn hoá.
Có hiểu biết cơ bản về tình hình phát triển giáo dục kinh tế xã hội tư
tưởng văn hoá địa phương nơi trường đóng.
1.4.2.5. Kỹ năng
- Xây dựng kế hoạch học tập: Hiểu biết, lập kế hoạch học tập chi tiết
từng môn học (Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện,
phân bổ thời gian, phương pháp tự đánh giá).
- Biết cách soạn bài làm bài (chuẩn bị ở nhà).
- Kỹ năng học tập trên lớp:
Biết tham gia cùng giáo viên và bạn bè tổ chức giờ học.
Tập trung chú ý và xây dựng bài giảng.
Biết chọn sử dụng có hiệu quả sách giáo khoa tài liệu học tập
Chấp hành sự phân công giáo viên của thày trong giờ giảng.
Biết vận dụng các phương pháp tiếp thu (nghe, nhìn, nói, viết, )
Biết cách tự kiểm tra khả năng nhận thức bài giảng.
Tích cực tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài
Mạnh dạn nêu ý kiến thắc mắc với thầy, giải quyết thắc mắc của bạn.
Giúp đỡ bạn trong học tập.

một cách tốt nhất với mục đích cao nhất là thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
- Thực chất của QLCLTT là : Cải tiến liên tục, cải tiến từng bước, hệ
thống tổ chức phải hướng tới khách hàng.
- Mô hình QLCLTT trong tổ chức quản lý nhà trường:
1.5.3.2. Nhận xét mô hình QLCLTT (TQM).
- Tính khách quan và độ tin cậy cao vì: Mô hình luôn được cải tiến để
phù hợp với thực tiễn và đánh giá được để lấy ý kiến phản hồi.
- Chú trọng theo dõi và thoả mãn nhu cầu của người học.
- Xác định mức chuẩn đặt ra theo nguồn lực hiện có.
- Xác định lĩnh vực có thể cải tiến và sử dụng nguồn lực tác động. 14
- Điểm khó thực hiện: Đòi hỏi đầu tư về nhân lực và tài chính cho
nghiên cứu.
1.6. Khái niệm QLCL. Các hệ thống ĐBCL trong GD
1.6.1. Khái niệm ĐBCL
Cơ sở của cách tiếp cận chất lượng trong giáo dục xem chất lượng là một
khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều chất lượng giáo dục phải được
xem xét như kết quả của một quá trình từ đầu vào và quá trình đó diễn ra
bằng sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng bị
quản lý tạo ra đầu ra, đó là chất lượng GD. Những yếu tố trong quá trình đó
đều có tác động nhất định tới chất lượng của sản phẩm trong GD và người
quản lý phải có tác động tới toàn bộ quá trình đó mới có thể có chất lượng GD
như mong muốn.
Theo quan điểm về chất lượng trong GD và quản lý chất lượng trong GD
cũng như vận dụng mô hình QLCLTT (TQM), thì nguyên tắc cơ bản nhất của
quản lý chất lượng theo quan điểm đó là cần có sự cải tiến liên tục, cải tiến
từng bước, hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng… do vậy việc quản lý
đó phải được cụ thể hoá thành 3 hoạt động chính là:

đồng bộ về cơ cấu và đủ về số lượng.
Tiêu chí 3: Quy định về chức trách chung của GV (căn cứ theo điều lệ
trong trường học).
Tiêu chí 4: Tỷ lệ giáo viên trên lớp, cán bộ quản lý của trường.
Tiêu chí 5: Quy trình đánh giá CB - GV - CNV:
Tiêu chí 6: Bồi dưỡng, nâng cao và cập nhật kiến thức chuyên môn và
nghiệp vụ cho đội ngũ.
1.6.4.3. Lĩnh vực 3: Đội ngũ học sinh
Tiêu chí 1: Học sinh
Tiêu chí 2: Năng lực của học sinh
Tiêu chí 3: Xếp loại đạo đức của học sinh:
Tiêu chí 4: Sức khỏe - quyền lợi - nghĩa vụ của học sinh nội trú.
1.6.4.4. Lĩnh vực 4: Giảng dạy và học tập
Tiêu chí 1: Chương trình học và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo.
Tiêu chí 2: Phương pháp giảng dạy và học tập
Tiêu chí 3: Kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập.
Tiêu chí 4: Tải trọng giảng dạy.
1.6.4.5. Lĩnh vực 5: Tài chính, CSVC, các lĩnh vực khác: 16
Tiêu chí 1: Hệ thống hạ tầng cơ sở.
Tiêu chí 2: Hệ thống thư viên.
Tiêu chí 3: Kinh phí hàng năm.
Tiêu chí 4: Tỉ lệ thực chi tính theo đầu học sinh hàng năm.
Tiêu chí 5: Các hoạt động hỗ trợ giáo viên và học sinh.
1.6.5. Các quy trình đánh giá kiểm định điều kiện ĐBCLGD
1.6.5.1. Các tiêu chí của 5 lĩnh vực đã được nêu trên có thể dùng để tiến
hành đánh gia dưới các hình thức khác nhau
- Trường đánh giá các điều kiện ĐBCL - GD cho từng tổ, từng bộ phận.

nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh về kinh
tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đến nay, giáo dục Hải Phòng có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy
mô, chất lượng và hiệu quả. Tất cả các bậc học, cấp học duy trì được quá trình
đào tạo ổn định và phát triển.
Qua số liệu cho thấy quy mô giáo dục THPT của Hải Phòng hiện nay
chia làm 2 giai đoạn.
Từ năm 1985 đến 1991, quy mô học sinh có chiều hướng giảm sút. Số
học sinh bậc THPT giảm từ 31.721 em còn 17.465 em (năm 1991). Sở dĩ học
sinh thời kỳ này giảm sút là do cơ chế quản lý tập trung bao cấp làm cho nền
kinh tế sa sút kéo theo sự sa sút nhiều lĩnh vực, trong đó có GD-ĐT.
Từ năm 1992 đến nay, giáo dục THPT của Hải Phòng dần dần ổn định
và đang tiếp tục phát triển, số học sinh trong độ tuổi đi học bậc THPT tăng lên
liên tục. Đến tháng 1 năm 2000, số học sinh học bậc THPT của thành phố Hải
Phòng là 59.541 em, trong số đó học sinh học tại 20 trường ngoài công lập là
20.051 em. Đến năm học 2002 - 2003 số trường THPT tăng trưởng thêm và
số lượng học sinh THPT đã là 60.971 học sinh.
2.2. Một số định hƣớng phát triển GD của thành phố Hải Phòng và
trƣờng THPTNT Đồ Sơn
2.2.1. Một số định hướng PTGD của thành phố Hải Phòng.
2.2.2. Một số định hướng phát triển trường THPTNT Đồ Sơn
- Trường THPT nội trú Đồ Sơn là một mô hình GD mới của GD&ĐT
thành phố Hải Phòng. Là loại hình trường chuyên việt nằm trong hệ thống các
trường dân tộc nội trú trong cả nươc. Trường được xây dựng và thành lập theo
chương trình mục tiêu (chương trình 7) của bộ GD&ĐT dành riêng cho hệ
thống các trường PTDTNT nhằm đáp ứng và giải quyết nhu cầu học tập của
học sinh ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn chưa có
trường lớp, giải quyêt vấn đề chính sách xã hội, rút ngắn khoảng cách dân trí
0
0
2002 - 2003
368
13 giải
0
0
2003 - 2004
480
10 giải
30%
98,4%
2004 - 2005
480
15 giải
40%
98%
2.3. Mục tiêu đào tạo và chuẩn đào tạo học sinh phổ thông - học sinh
PTDTNT.
2.3.1. Thực trạng học sinh PTNT hiện nay so với chuẩn của mục tiêu ĐT
Thực trạng học sinh PTDTNT hiện nay so với chuẩn.
2.3.1.1. Thái độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status