Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường Trung cấp nghề Kỹ thuật Xi măng - Pdf 25


0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KỸ THUẬT XI MĂNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1.2.5. Đào tạo 19
1.2.6. Dạy học 20
1.3. Một s
ố vấn đề cơ bản về dạy học 23
1.3.1. Bản chất hoạt động dạy học 23
1.3.2. Dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường trung cấp nghề 24
1.3.2.1 Các môn khoa học cơ bản 24
1.3.2.2. Đặc trưng dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường trung cấp nghề
26
1.3.2.3. Đối tượng học sinh ở trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng 30
1.3.3. Qu
ản lý hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường trung
cấp nghề kỹ thuật xi măng 32
1.4 Trường trung cấp nghề và quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp
nghề theo các quy định đối với trường trung cấp nghề. 35
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC
CƠ BẢN Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
KỸ THUẬT XI MĂNG….…… 40
2.1. Giới thiệu về Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng 40
2.1.1 Chức năng nhiệm vụ của trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng 41

iii
2.1.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên 42
2.1.3 Công tác đào tạo 43
2.1.4 Cơ sở vật chất 46
2.1.5 Cơ cấu tổ chức hành chính của Trường 47
2.1.6 Những hạn chế 49
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản (thực chất là các
môn cơ bản) ở trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng. 50

3.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản

trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng. 77
3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò, đặc điểm các môn khoa
học cơ bản ở trường TCN kỹ thuật xi măng trong việc bảo đảm chất lượng
trình độ trung cấp nghề 77
3.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường điều kiện, tạo môi trường cho hoạt động dạy
học các môn khoa học cơ bản triển khai đáp
ứng mục đích yêu cầu. 79

iv
3.3.3 Biện pháp 3: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
và kiến thức thực tế cho giáo viên, khuyến khích tự học, tự bồi dưỡng, nâng
cao trình độ. 84
3.3.4 Biện pháp 4: Quản lý hoạt động dạy học kết hợp chặt chẽ, thường
xuyên với công tác giáo viên chủ nhiệm và các hoạt động sinh hoạt ngoại
khóa 90
3.3.4 Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giảng dạy
các môn khoa học cơ bản. 92
3.4. Kiểm chứng sự nhận thức về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 96
3.3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp: 96
3.3.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp: 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1. Kết luận 99
2. Khuyến nghị: 100
2.1. Đối với Bộ Xây dựng 100
2.2. Đối với Tổng Công ty Công nghiệp xi m
ăng Việt Nam 100
2.3. Đối với Sở Lao động – Thương binh & Xã hội 101
2.4. Đối với các công ty xi măng trên toàn quốc 101

tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, các Trường, trung tâm và cơ sở dạy
nghề đã được phục hồi và phát triển. Dạy nghề gắn kết chặt chẽ với sản xuất và
tạo việc làm (trong nước và xuất khẩu lao động), xóa đói giảm nghèo, nâng cao
ch
ất lượng lao động, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động,
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động tạo đà cho phát triển kinh tế. Đến nay, cả

2
nước có 143 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp, hầu hết các tổng công ty,
các tập đoàn kinh tế mạnh đều có trường dạy nghề để chủ động đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ nhu cầu của tổng công ty, tập đoàn và góp phần cung cấp lao
động cho xã hội.
Ngành xi măng Việt nam với bề dày lịch sử trên 100 năm xây dựng và
phát triển, đến nay đã trở thành m
ột Tập đoàn lớn mạnh trong cả nước với đội
ngũ cán bộ công nhân viên hàng vạn người trải dài suốt từ Bắc tới Nam. Công
nghệ sản xuất xi măng cũng liên tục được đổi mới và phát triển theo hướng hiện
đại hóa cùng với thế giới, do đó đã đặt ra một nhu cầu rất lớn về nguồn lao động
có trình độ, có khả năng đáp ứng các yêu c
ầu khắt khe về khai thác các dây
truyền sản xuất xi măng công nghệ cao. Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi
măng là đơn vị đào tạo chính quy duy nhất cung cấp lực lượng lao động trực tiếp
cho ngành xi măng Việt Nam. Trường có vai trò và nhiệm vụ vô cùng quan trọng
là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của ngành xi
măng trong giai đoạn mới. Cùng với việc t
ập trung đào tạo và cung cấp các kiến
thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cho học sinh là một yếu tố rất quan trọng
trong cơ sở đào tạo nghề thì việc bổ sung, trang bị các kiến thức khoa học cơ bản
là không thể thiếu. Hệ thống kiến thức cơ bản sẽ giúp cho đội ngũ công nhân thế
hệ mới dễ dàng thích nghi với môi trường công nghệ sản xuất hiệ

ọc các môn khoa học cơ bản
ở trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng chưa phát huy tác dụng đích thực của
nó. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu giáo dục -
đào tạo của Nhà trường. Nếu áp dụng biện pháp quản lý hoạt động dạy – học các
môn khoa học cơ bản được tác giả đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượ
ng
hoạt động dạy – học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở trường
Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy – học các
môn khoa học cơ bản của trường Trung cấp nghề k
ỹ thuật xi măng

4
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy – học các môn khoa học
cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy – học ở trường Trung cấp
nghề kỹ thuật xi măng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về
công tác quả
n lý hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường trung cấp
nghề.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá được thực trạng việc quản lý hoạt
động dạy học các môn khoa học cơ bản ở trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi
măng, phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục trong quá trình quản lý hoạt
động dạy học các môn khoa h
ọc cơ bản (hay còn gọi là các môn chung) của Nhà
trường, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy
học các môn khoa học cơ bản nhằm thực hiện theo chiến lược Phát triển toàn

Biện pháp quản lý hoạt động dạy – học các môn khoa học cơ bản ở trường
Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng

6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN
KHOA HỌC CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KỸ THUẬT XI MĂNG
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khái niệm “quản lý” đã được đề cập từ rất sớm, tuy nhiên, lĩnh vực quản
lý giáo dục, đào tạo con người trong nhà trường lần đầu tiên được
đưa ra bàn
luận trong công chúng thế giới vào năm 1956, với tác phẩm “Quản lý trường
học” của A.Pôpốp.
Năm 1983, Côn-đa-cốp đã cho ra đời cuốn sách “Những cơ sở lý luận của
quản lý trường học”
Vào năm 1987, Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã công bố cuốn sách
“Những cơ sở lý luận của quản lý nội bộ trường học”
Đầu những năm 1990, UNESSCO PROAP đ
ã xuất bản cuốn sách có tính
chất cẩm nang về kỹ năng quản lý giáo dục mang tựa đề “Kế hoạch hóa và quản
lý giáo dục vĩ mô”
Ở Việt Nam, lĩnh vực quản lý giáo dục đã được đưa vào chương trình đào
tạo của một số trường đại học sư phạm và Học viện quản lý từ những năm 90.
Hầu hết các bậc học, ngành họ
c liên quan đến lĩnh vực quản lý giáo dục đã được
nghiên cứu bởi các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo cùng các học viên cao
học, nghiên cứu sinh.
Những năm gần đây, vấn đề quản lý để nâng cao chất lượng trong lĩnh vực
đào tạo nghề đang trở thành một đề tài mang tính thời sự, luôn thu hút sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, đây là vấn đề khó, phức tạp phạm vi

tục, người lao động sẽ tự đào thải chính mình”.
Trên tinh thần ấy, đã có rất nhiều tác giả chọn vấn đề quản lý hoạt động
dạy học làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Tuy nhiên, các tác giả chỉ đi sâu
nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học trong các trường phổ
thông, cao
đẳng và Đại học. Còn đối với trường đào tạo nghề, thì vấn đề nóng
bỏng nhất và tất yếu vẫn là các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nói chung
và hoạt động thực tập tại các đơn vị sản xuất. Một số vấn đề nghiên cứu đó là:

8
“Các biện pháp quản lý hoạt động dạy – học ở trường Đại học y tế công
cộng” của tác giả Lê Hoàng Đức, năm 2008.
“Các biện pháp quản lý hoạt động thực tập của học sinh trường trung cấp
kỹ thuật tin học Hà Nội – ESTIH trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn
Thị Mai, năm 2008.
“Quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung cấp nghề quân độ
i” của tác
giả Doãn Thái Trí, năm 2008.
Mặc dù vậy, công tác nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động dạy học đối
với các môn khoa học cơ bản trong trường nghề vẫn còn bỏ ngỏ. Với tâm lý coi
thường và cho các môn học thuộc nhóm Khoa học cơ bản chỉ là môn phụ, không
mang tính chất đào tạo nghề, cho nên từ các nhà quản lý đến các em học sinh đều
rất xem nhẹ vấn đề này. Lựa ch
ọn vấn đề nghiên cứu này, tác giả mong muốn
tìm được sự nhìn nhận đúng đắn với các môn thuộc nhóm kiến thức cơ bản, cơ
sở để từ đó xác định được tâm lý tốt khi tham gia vào hoạt động dạy học các
môn học này, đặc biệt đối với các nhà quản lý, lãnh đạo.
1.2. Các khái niệm công cụ sử dụng trong luận văn và một số vấn đề lí luận
liên quan
1.2.1. Quả

các chức năng cơ bản của nhà quản lý".
- Theo tác giả người M
ỹ, H.Koontz và những người khác: “Quản lý là
thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau
trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” .
* Quan niệm về quản lý của các tác giả Việt Nam:
- Quan điểm trên của Koontz cũng được GS. Nguyễn Ngọc Quang chia sẻ
bởi định nghĩa sau: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đế
n tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm
thực hiện được những mục tiêu đã dự kiến.".
- Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí thì định
nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: "Tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong
mộ
t tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức".

10
Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra." Mặc dù khái niệm Quản lý được diễn
đạt bằng nhiều cách khác nhau, song theo tác giả, có thể hiểu:
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình ho
ạt động xã hội.
Hoạt động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho tổ chức tồn tại, vận hành
và phát triển.
- Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có chủ định của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường.

định trước. Vì phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏ
i môi trường, nên
việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định
và hành động của việc lập kế hoạch được dự kiến để hoạt động trong đó.
Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi
nào làm và ai làm. Nó đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các
chiến lượ
c, đường lối một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên sự
hiểu biết và những đánh giá thận trọng.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các
quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đồng thời phân
công điều phối các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra. Thành
tựu của một t
ổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể
quản lý, vào việc huy động và sử dụng các nguồn lực. Tổ chức là qúa trình phân
công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch
ra. Đó là sự liên kết giữa các cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ
thống nhằm thực hiện mục đích đề ra trên cơ
sở các nguyên tắc và quy tắc quản
lý của hệ thống.
Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý
cùng các mối quan hệ giữa chúng. Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân
công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của

12
hệ thống quản lý. Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm
của mỗi người trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát
triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý.
- Chức năng lãnh đạo: Lãnh đạo là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng
của mình tác động đế

chức.
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh
nghiệm thực tế và vận dụng những tri thức khoa học liên ngành. Các nhà quản lý
chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình tốt h
ơn khi vận dụng những kinh nghiệm
đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng
quản lý cần thiết, đó là khoa học. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại
vừa là nghệ thuật.
1.2.1.3. Biện pháp quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện
pháp là: "cách làm, cách thức tiến hành".
Biện pháp là cách thức hành động để thực hi
ện một mục đích, là cách làm,
cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử
dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Cùng
một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp.
Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp
chủ
thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra.
* Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người, mà mỗi con người thường
chịu tác động của nhiều yếu tố môi trường xã hội và có các quan hệ rất phong
phú, phức tạp. Bởi vậy, các biện pháp quản lý cũng rất đa dạng và phải luôn
được nhà quản lý sử dụng linh hoạt, sáng tạo.
Nghiên cứu về khoa học qu
ản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra 4 biện
pháp quản lý chính. Đó là: Biện pháp thuyết phục; Biện pháp hành chính-tổ
chức; Biện pháp kinh tế; Biện pháp tâm lý- giáo dục.

14


15
thành công người quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và của đối
tượng quản lý.
Mục đích của các biện pháp quản lý (QL) này đưa đến sự tác động đối với
đối tượng QL nhằm đạt được các mục tiêu xác định. Mỗi biện pháp QL có sự tác
động riêng tới từng mặt của người lao động. Do đó, mỗi biện pháp đều không có
tính vĩnh cửu, không phải là chìa khoá vạn năng để
QL tốt mọi hoạt động của tổ
chức.
Tóm lại, quản lý vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Các
nhà quản lý cần phải biết vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt,
sáng tạo và mềm dẻo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn
biến đổi. Điều này đòi hỏi sự khôn ngoan, tinh tế của các nhà QL để đạt được
m
ục đích. Ngày nay, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế- xã hội nói chung,
càng đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp quản lý sự thay đổi
một cách tài tình, khéo léo.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục
cũng được quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục mới được hình thành. Khoa
học quản lý giáo dục trở thành mộ
t bộ phận chuyên biệt của khoa học quản lý
nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo
dục quốc dân. Trong bài giảng về: Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục,
TS. Nguyễn Quốc Chí đã nêu ra những khác biệt cơ bản giữa quản lý một cơ sở
giáo dục với việc quản lý những tổ chức khác. Chính đó là nhu c
ầu tất yếu để
hình thành nên khoa học quản lý giáo dục.
Hiện nay, có các định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý giáo dục.

đích rõ ràng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hình thành và phát
triển nhân cách con người. “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức
quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo,
năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội”.

17
Tuỳ theo việc xác định đối tượng QL mà QL giáo dục có nhiều cấp độ
khác nhau ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô: Ở tầm vĩ mô, toàn quốc gia, người ta
thường nói đến quản lý hệ thống giáo dục. Ở tầm vi mô, trong phạm vi một thể
chế, một cơ sở giáo dục, người ta đề cập tới quản lý nhà trường.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dụ
c cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo,
thựchiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thông điệp của thời đại đã
chỉ rõ “Nhà trường là vầng trán của cộng đồng”. Thành tích tập trung nhất của
nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của
học sinh, ở vi
ệc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Theo tác giả Hoàng Minh Thao, "Quản lý trường học là một chuỗi tác động
hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, đến những lực lượng giáo dục
trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào
mọi hoạt động củ
a nhà trường làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu
tới việc hoàn thành mục tiêu dự kiến".
Quản lý nhà trường (QLNT) và những đổi mới trong QLNT đang được chính
phủ rất quan tâm và tạo điều kiện phát triển. Thực chất của quá trình QLNT là
quá trình tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra hoạt động giảng dạy của thầy và
hoạt động học tập của trò, đồng thời qu
ản lý những điều kiện cơ sở vật chất kỹ

Quản lý Môi trường
N P
Kiểm tra,
đánh giá
Sơ đồ 1.1
: CÁC THÀNH TỐ TRONG QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG
(M: Mục tiêu, N: Nội dung, P: Phương pháp, Th: Thầy, Tr: Trò)

19

Tóm lại, “Quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (Tác
động thông qua các chức năng quản lý, theo các nguyên tắc định hướng vào mục
tiêu giáo dục, bằng các biện pháp quản lý hợp với các đối tượng quản lý ) của
bộ máy quản lý nhà trường lên khách thể quản lý (Mọi người tham gia quá trình
giáo dục và đào tạo của nhà trường, các nguồn lực, điều kiện cho hoạt động
giáo dục đào tạo của nhà tr
ường)”, làm cho các thành tố trong một nhà trường
vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đưa những kết quả quản lý đạt được
mục đích và chất lượng, hiệu quả mong muốn.
1.2.4. Hoạt động
"Hoạt động là làm những việc khác nhau, với mục đích nhất định trong
đời sống xã hội".
Khái niệm hoạt động mà tác giả muốn đề cập đến trong đề tài này không
đơ
n thuần là hoạt động của cá nhân mà là hoạt động của nhiều cá nhân cùng
chung mục đích tạo nên hoạt động tập thể của đơn vị.
"Hoạt động tập thể là hình thức cùng nhau hoạt động của một nhóm đáp

cho Bộ Giáo dục và
Đào tạo (Bộ GD- ĐT).
Cũng tại điều 6, chương 1 và mục 2, chương 5, Dự thảo Luật Dạy nghề
đưa ra một hệ thống cơ sở gồm: Lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung
cấp, trường cao đẳng. Việc đưa lớp dạy nghề thành một đơn vị hành chính khiến
mọi cơ sở sản xuất, doanh nghiệp muốn tổ ch
ức đào tạo ngắn hạn cho công nhân
của chính họ đều phải xin phép và chúng ta sẽ có một hệ thống thủ tục xin-cho
không những không tinh giản mà còn phình ra kinh khủng hơn. Đó là chưa nói
đến việc những quy định như vậy sẽ gây nhiều ngộ nhận về pháp nhân của lớp
dạy nghề bởi bên trong các cơ sở khác như trung tâm, trường trung cấp, trường
cao đẳng cũng có đơn vị lớp.
1.2.6. D
ạy học
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích
nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân

21
loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”.
Quan niệm này lí giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những
con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội. Tuy nhiên quan niệm
này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội. Bởi vì nó chỉ có
nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị
tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách
nào đó để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học. Quan niệm đó đi
ngược lại quan niệm của Socrate về giáo dục trong đó giáo dục có nhiệm vụ “đỡ
đẻ” các ý niệm vốn có trong mỗi con người, để cho ý niệm đó được khai sinh và
trở thành giá trị tinh thần chung của nhân loại. Quan niệm đó cũng hạn chế nề
n
giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp cho người học trở thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status