5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CĐ : Cao đẳng
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐH : Đại học
DH : Dạy học
ĐTLT : Đào tạo liên thông
ĐHĐL : Đại học Điện lực
QLĐT : Quản lý đào tạo
GS : Giáo sư
GV : Giáo viên
HSSV : Học sinh – Sinh viên
KH : Kế hoạch
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NV : Nhân viên
PGS : Phó giáo sư
QLGD : Quản lý giáo dục
TB : Trung bình
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
THPT : Trung học phổ thông
TP : Thành phố
TS : Tiến sỹ
trường Đại học
7
Tiểu kết chương 1
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC TRIỂN KHAI CHƯƠNG
TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG TỪ CAO ĐẲNG LÊN ĐẠI HỌC TẠI
KHOA HTĐ TRƯỜNG ĐHĐL
2.1. Khái quát về trường Đại học Điện lực
2.1.1. Cơ cấu tổ chức
2.1.2. Qui mô đào tạo
2.1.3. Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy
2.1.4. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
2.1.5. Vài nét về khoa Hệ thống điện
2.2. Thực trạng công tác đào tạo liên thông ở khoa Hệ thống điện
2.2.1. Về nội dung chương trình đào tạo liên thông
2.2.2. Về trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
2.2.3. Về kế hoạch hoá đào tạo
2.2.4. Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ĐTLT
2.2.5. Về kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo liên thông
2.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo liên thông bậc cao đẳng lên
đại học khoa Hệ thống điện, Trường Đại học Điện lực
2.3.1. Thực trạng về số lượng ĐTLT hiện nay của Khoa Hệ thống điện
2.3.2. Thực trạng về quản lý ĐTLT của Khoa Hệ thống điện hiện nay:
2.3.3. Thực trạng về quản lí phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí cho
mục tiêu ĐTLT
2.3.4. Đánh giá thực trạng
Tiểu kết chương 2
Chương 3: NHỮNG BIỆN PHÁP CHO VIỆC TỔ CHỨC ĐÀO TẠO LIÊN
THÔNG TỪ CAO ĐẲNG LÊN ĐẠI HỌC TẠI KHOA HỆ THỐNG ĐIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa kinh tế, giai đoạn mà tri
thức và kỹ năng của con người được xem là yếu tố quyết định đến sự phát
triển của xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, đổi mới nền giáo
dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Chiến lược phát triển giáo dục và
đào tạo đến 2020 đã được thủ tướng phê duyệt và công bố vào tháng 6/2012
và hiện nay đang chuẩn bị thực hiện đề án: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục và đào tạo”, trong đó nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
thực sự là quốc sách hàng đầu. Biện pháp cụ thể là đổi mới tư duy giáo dục
một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ
cấu và hệ thống tổ chức…
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững.
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung,
phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục;
thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa". Phát huy tinh thần độc lập suy
nghĩ và sáng tạo của học sinh - sinh viên, để nâng cao năng lực tự học, hoàn
thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng
những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dục
hội. Tuy nhiên với hình thức đào tạo này, chúng ta còn một số tồn tại sau:
1. Chưa có những đánh giá và những nghiên cứu về loại hình đào tạo
liên thông này để có chỉ đạo tốt hơn.
2. Chưa có những giải pháp và cơ chế chính sách thống nhất chỉ đạo từ
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.
3. Chưa kiểm soát được chất lượng đào tạo tại các cơ sở tiến hành đào
tạo liên thông.
11
Đối với ngành Hệ thống điện, đào tạo liên thông dưới hình thức
chuyên tu - chuyển cấp từ cao đẳng lên đại học đã bắt đầu từ năm 1995 ở
Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Một trong những nguyên nhân khiến
ngành Hệ thống điện sớm có đào tạo liên thông phần lớn là do các kỹ thuật
viên tốt nghiệp cao đẳng phải nhanh chóng học chuyển cấp lên đại học để
đáp ứng kịp thời nhu cầu về nhân lực của ngành.
Cũng như một số ngành khác, đào tạo liên thông trong ngành Hệ thống
điện ngoài những tồn tại nêu trên còn có những nhược điểm sau:
1. Chương trình đào tạo do chưa được tập trung nghiên cứu một cách
khoa học nên chưa đáp ứng với yêu cầu chất lượng đào tạo hiện nay của ngành
Hệ thống điện.
2. Chưa định rõ được chuẩn trình độ, chuẩn kỹ năng và chuẩn kiến thức
ở cùng bậc học, ngành học mà học sinh tốt nghiệp cần phải có.
3. Lưu lượng học sinh chuyển đến một trường nào đó để đào tạo tiếp bậc
cao hơn (ĐTLT) khó xác định trước dẫn đến khó khăn trong việc chuẩn bị đội
ngũ giảng viên và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và tổ chức lớp học
4. Hình thức liên thông chưa tuân thủ các quy định mới của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
Tất cả những khó khăn đó đã hạn chế đáng kể chất lượng đào tạo khi tổ
chức ĐTLT.
Nhận thức được vai trò to lớn của việc nâng cao chất lượng đào tạo nói
liên thông (chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, người học, cơ sở vật chất) thì
sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo liên thông từ Cao đẳng lên Đại học
chuyên ngành Hệ thống điện tại khoa Hệ thống điện nói riêng và các chuyên
ngành khác nói chung ở trường Đại học Điện lực trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ
giáo dục và Đào tạo, tài liệu, sách báo, tư liệu lưu trữ, thống kê báo cáo khoa
học có liên quan nhằm hệ thống hoá một số vấn đề lý luận của đề tài. 13
7.2. Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu câu hỏi đối với học viên, cán bộ quản lý đào tạo của
ngành Hệ thống điện tại trường Đại học Điện lực.
7.3. Phương pháp phỏng vấn : Phỏng vấn trực tiếp với các chuyên gia quản
lý công tác đào tạo về chất lượng đào tạo liên thông hiện nay.
7.4. Trưng cầu ý kiến xây dựng về chất lượng đào tạo liên thông.
7.5. Phương pháp thống kê toán học : xử lý kết quả nghiên cứu, nhằm rút ra
kết luận khoa học.
8. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để tìm hiểu, đánh giá và đề xuất các giải
pháp tổ chức việc đào tạo liên thông ở các trường đại học trong giai đoạn hiện
nay. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn công tác triển khai vấn đề này ở trường
ĐHĐL, cùng với các kết quả nghiên cứu lí luận về đào tạo liên thông, đề xuất
những giải pháp hữu hiệu cho việc tổ chức triển khai chương trình đào tạo liên
thông từ cao đẳng lên đại học ở trường ĐHĐL trong bối cảnh hiện nay nói
riêng và ở các trường Đại học nói chung.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo, Phụ
lục; nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
và hướng dẫn chương trình kèm theo ở mỗi bậc học. Trên cơ sở đó thực hiện
liên thông (articulation and credits transfes) giữa các bậc học.
* Tại Australia: Khung trình độ chuẩn chia làm các bậc: Chứng
chỉ cấp 1, chứng chỉ cấp II, chứng chỉ cấp III; chứng chỉ cấp IV; sau trung
học phổ thông - Diploma (tương đương bằng TCCN của nước ta); Cao
đẳng - Advance diploma (tương đương bằng cao đẳng nước ta); đại học,
thạc sĩ, tiến sĩ.
15
Mỗi bậc học đều có khung chương trình chuẩn, nêu lên nhứng khác biệt
năng lực nghề nghiệp hoặc trình độ yêu cầu mỗi bậc học thuộc hệ thồng TAFE
(Technical and Further Education). Căn cứ váo khung trình độ quốc gia, hầu
hết các trường đại học đều có chính sách thỏa thuận công nhận tín chỉ ở bậc
học dưới. Để có thể liên thông giữa các bậc học thì cần thiết phải có bằng
diploma hoặc advance diploma để liên thông lên đại học và trên đại học.
Trong chính sách liên thông có hướng dẫn chi tiết về những điều kiện
để học sinh có thể vào học một hoặc một vài khóa học trong nhà trường nhằm
tạo điều kiện tốt nhất cho họ có thể theo học. Trên cơ sở hợp tác giữa các
trường chuyên nghiệp và các trường đại học, những chi tiết cụ thể về thỏa
thuận chuyển tín chỉ sẽ do khoa ở các trường chịu trách nhiệm ban hành. Cơ
quan quản lí cao nhất ở các bậc học này là AVCC (Australia Vice-
Chancallorss Committee) phụ trách khối đại học và ANTA (Australia National
Training Authorrity) chịu trách nhiệm trong khối giáo dục kĩ thuật và nghề
nghiệp (Vocationnal Education and Training - VET) trong việc ban hành quy
định , những nguyên tắc và chỉ dẫn điều hành mang tính hệ thống về đào tạo
liên thong đối với các bậc học
* Tại Canada: Đào tạo liên thông cũng tiến hành từ thập niên 60 của
thế kỷ XX với các hình thức giống như Mỹ và Australia. Liên thông thực hiện
trên cơ sở thỏa thuận giữa các hệ thống, cơ sở đào tạo và các chương trình đào
tạo. Bộ giáo duc British Colombia (Canada) tham gia quản lí nhà nước trong
biểu đại diện cho các Bộ, Ngành, Sở Giáo dục và Đào tạo, và các trường Đại học,
Cao đẳng, THCN. Hội thảo đã tập trung thảo luận một số vấn đề :
1. Tính cấp thiết của việc tổ chức đào tạo liên thông.
2. Ngành đào tạo cần liên thông và hình thức liên thông.
\ 3. Bước đi và các điều kiện đảm bảo chất lượng.
4. Những vấn đề khó khăn khi thực hiện đào tạo liên thông.
5. Kinh nghiệm và đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong ĐTLT.
Hội thảo đã xác định mục tiêu bao trùm của đào tạo liên thông là nhằm
đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao, đa dạng và hiệu quả để đáp ứng
đòi hỏi của nền kinh tế đang phát triển.
17
Trong khoảng chục năm nay trở lại đây, một số hình thức liên thông
mới đã được một số trường áp dụng như:
* Một số trường đại học cho phép sinh viên vào đại học và miễn trừ một
số môn đã học ở một ngành khác (chủ yếu là các môn văn hóa) và thời gian
học cũng vì thế mà có thể được rút ngắn.
* Một số trường, được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục và Đào tạo như
Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại
học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế
quốc dân, Đại học Y - Dược tiến hành đào tạo liên thông với hình thức là
tiếp nhận những học sinh không đủ điểm tuyển vào đại học và học tại hệ Cao
đẳng tại trường thi tuyển. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng được xét tuyển lên học
đại học trong thời gian 3 đến 3,5 năm. Tổng thời gian để tốt nghiệp đại học là
6 đến 6,5 năm.
* Một hình thức liên thông khác nữa cũng đã tồn tại nhiều năm khi Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành chính sách đào tạo hai giai đoạn, cho phép học
sinh học xong giai đoạn I ở trường này có thể chuyển sang học tiếp ở giai đoạn
II ở một vài trường khác cũng khối ngành.
Cách hình thức đào tạo liên thông nói trên có ưu điểm là giúp cho người
1.2.1. Quản lý
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, người ta xem quản lý như là một
hoạt động khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng của con người xét
từ góc độ phát triển của mỗi tổ chức cơ quan đến một quốc gia hay toàn thế giới.
Xung quanh khái niệm “quản lý”, các tác giả tiếp cận từ những góc độ
khác nhau, đã đưa ra nhiều ý kiến đa dạng khác nhau. Tuy vậy, những khái niệm
đa dạng đó đều có một nét chung là tất cả đều mô tả, giải thích về bản chất, về lý
luận và các kỹ thuật làm cơ sở cho hoạt động quản lý.
- Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động
lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời cũng là sản
phẩm có tính lịch sử. C. Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn
19
đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với
sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
- W.Tayor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- Mary Parker Follett khẳng định rằng, quản lý là một quá trình hoạt
động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại [5, tr. 39].
- Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ
chức bằng cách đặt ra các mục tiêu hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đặt, là
lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
- Theo quan điểm triết học: quản lý được xem như một quá trình liên kết
thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó.
- Theo quan điểm chính trị xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác
động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức
Mô hình 1.1: Mô hình về quản lý
1.2.2. Chức năng của quản lý
Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một
thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Khi xã hội
phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý được tách ra thành một chức
năng riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người, những
tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý, đó là những chủ thể quản lý, số
còn lại là những đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý.
Hoạt động quản lý bao gồm 4 chức năng cụ thể là:
- Chức năng lập kế hoạch
- Chức năng tổ chức
Chủ thể
quản lý
Nội dung
quản lý
Khách thể
quản lý
Công cụ, PP
quản lý
Mục tiêu
quản lý
21
- Chức năng chỉ đạo
- Chức năng kiểm tra
Các chức năng quản lý có mối liên hệ mật thiết với nhau và được sơ đồ hóa
như sau:
22
đạt đến kết quả mong đợi. Quan hệ cơ bản của hoạt động giáo dục là quan hệ
của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục.
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học,
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng
học sinh [21, tr. 26]
Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý quá trình hình thành và
phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị, xã hội khác nhau mà
trách nhiệm là của nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ trung
ương cho đến địa phương.
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải
tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường
nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý
trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt
động, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục
và quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ
trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục.
1.2.4. Nhà trường và quản lý trường đại học
1.2.4.1. Khái niệm về nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tổ chức, thực
hiện và quản lý quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ
thể: người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong
quá trình giáo dục, hoạt động của người học và hoạt động của người dạy luôn
luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau, dựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo
dục theo nhu cầu của xã hội.
Nhà trường là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới xã hội,
là một thiết chế xã hội được tổ chức và hoạt động theo một mục đích, với nội
24
+ Thành tố quá trình: là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của nhà
trường, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác trong xã hội;
là quá trình sư phạm. Tuy nhiên, còn có những quá trình thứ yếu, tuy không
kém phần quan trọng khác thuộc về yếu tố quá trình của nhà trường như quá
trình xây dựng trường, lớp, quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực
trong nhà trường…
1.2.4.2. Đặc điểm của quản lý đào tạo ở đại học
Trường đại học là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học nhằm cung cấp các
các bộ khoa học kỹ thuật và kinh tế cho đất nước. Trường đại học là đơn vị
đào tạo công lập/dân lập, tư thục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân do
nhà nước thống nhất quản lý. Tại điều 4 điều lệ trường đại học việc quản lý
nhà nước đối với trường đại học: trường đại học chịu sự quản lý nhà nước
về giáo dục của Bộ giáo dục và đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo
lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
trường đặt trụ sở.
Điều 39 Luật GD 2005[25, tr.12]: “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào
tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có
kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo,
có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo về Tổ quốc”. “Đào tạo trình độ
đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực
hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát
hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo”.
Trường đại học có nhiệm vụ đào tạo các bậc học và cấp văn bằng, đào
tạo bồi dưỡng kiến thức để cấp chứng chỉ. Trường có nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học, chuyển giao công nghệ, thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh
doanh theo quy định của pháp luật.
Điều 40. Luật GD 2005[25, tr.13]: Nội dung giáo dục đại học phải có
tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ
Giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức,
kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành
26
học, trình độ đào tạo. Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học có trách
nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình các môn học để sử dụng chính
thức trong trường trên cơ sở thẩm định của hội đồng thẩm định giáo trình do
hiệu trưởng thành lập; bảo đảm có đủ giáo trình phục vụ giảng dạy, học tập.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt
các giáo trình sử dụng chung cho các trường cao đẳng, trường đại học.
Điều 60 Luật GD 2005 [25, tr.22]: Trường đại học được quyền tự chủ
và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường
trong các hoạt động sau đây:
+ Xây dựng chương trình, giáo dục, kế hoạch giảng dạy học tập đối với
các ngành được phép đào tạo;
+ Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình
đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng;
+ Tổ chức bộ máy nhà trường, tuyển dụng, quản lý, sử dụng đãi ngộ nhà
giáo, cán bộ, nhân viên;
+ Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực.
+ Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao,
y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của
Chỉnh phủ.
Quản lý trường đại học là tác động có hướng đích của chủ thể quản lý
(Lãnh đạo nhà trường, các phòng ban chức năng) lên đối tượng quản lý (Sinh
viên, giảng viên, cán bộ công nhân viên) với các nội dung quản lý (Kế hoạch,
chương trình, nội dung, biện pháp…) dựa vào các công cụ và các phương
pháp quản lý nhằm đạt được các mục tiêu mà nhà trường hướng tới.
Quản lý trường đại học hướng vào các lĩnh vực sau:
+ Quản lý các hoạt động giáo dục như: Tuyển sinh, quản lý người học,
và cấp văn bằng.
Theo dự án ĐTLT Australia:
”Đào tạo liên thông là quá trình liên kết hai hoặc nhiều bậc học vào
một mạch đường kế tiếp và tích hợp để người học có thể chuyển từ bậc học
28
này tới bậc học kia một cách liên tục với điều kiện thỏa mãn một lượng tiến
chỉ về thành tích học tập của bậc học trước đó mà có liên quan đến bậc học
được chuyển tới”
Theo Điều 2, Chương 1 của Quyết định số 06/2008/QĐ- BGDĐT ngày
13 tháng 02 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [3, tr.2] có nêu
“Đào tạo liên thông là quá trình đào tạo cho phép sử dụng kết quả học tập đã
có của người học để học tiếp ở trình độ cao hơn cùng ngành nghề hoặc khi
chuyển sang ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác”
1.2.5.2. Quản lý đào tạo liên thông
Về bản chất thì công tác quản lý ĐTLT cũng giống như Quản lý đào
tạo. Theo định nghĩa được nêu trên có thể hiểu quản lý ĐTLT bao gồm hai
khối công việc:
1- Quản lý phát triển chương trình đào tạo (Để có thể kế thừa kiến thức
và kỹ năng)
2- Quản lý thể chế chính sách vận hành điều khiển quá trình này (cho
phép nối ghép với nhau giữa các khối kiến thức và kỹ năng.
1.2.6. Các hình thức ĐTLT
Hiện nay trên thế giới tồn tại một số hình thức liên thông như sau :
+ Liên thông dọc (Vertical Articulation): người học chuyển từ bậc học
thấp lên bậc học cao hơn trong từng nghành học như từ THCN lên cao đẳng,
THCN lên đại học , cao đẳng lên đại học.
- Liên thông ngang (Horizotal Articulation): người học di chuyển trong
cùng bậc học để có thể học thêm những ngành tương tự hoặc ngành khác .
- Liên thông chéo (Diagonal Articulation): người học di chuyển sang
thân và xã hội so với các hình thức đào tạo khác. Góp phần làm giảm sức ép
vào các trường đại học, cao đẳng, tạo tỷ lệ cân đối hợp lý giữa các cấp đào tạo
(Nghề - TCCN - CĐ - ĐH).
ĐTLT là một phương thức đào tạo khoa học có tác dụng to lớn về lý
luận và thực tiễn. Là nhu cầu không thể thiếu của đông đảo các tầng lớp nhân