ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM TẠI TRUNG TÂM GIỚI THIỆU VIỆC LÀM
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Học viên: Lê Quang Trung
Cao học quản lý giáo dục khoá 6
công nghệ, những thay đổi về tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội,
những yêu cầu phát triển các lĩnh vực xã hội nhƣ giáo dục, y tế, văn hoá…
cũng tăng lên nhanh chóng. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công
nghệ, sản xuất và phân công lao động xã hội với hàng loạt khu đô thị, khu
công nghiệp, ngành nghề và việc làm mới ra đời đã và đang đặt ra những
nhu cầu mới về nhân lực (cả về cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo, phân bổ
theo vùng, ngành kinh tế…), đòi hỏi chúng ta phải có những nhận thức mới,
cách tiếp cận mới, những giải pháp mới về đào tạo và sử dụng nhân lực. 2
Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng hai (khoá VIII) của Đảng đã chỉ rõ
“Đổi mới căn bản và toàn diện, tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn
diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học, hệ thống trƣờng lớp và hệ
thống quản lý giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, phục vụ
chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội” (1)
Nhà nƣớc đã đề ra chính sách: “gắn đào tạo nghề với thị trƣờng, với
doanh nghiệp” (2)
Trong những năm gần đây, công tác đào nguồn nhân lực nói chung và
công tác đào tạo nghề nói riêng có nhiều nỗ lực đổi mới và đạt đạt đƣợc
những kết quả đáng kể, góp phần thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc.
Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc và những cơ hội phát triển, đào
tạo nghề đã và đang đứng trƣớc những thách thức mới, bộc lộ nhiều hạn chế,
đó là sự thiếu hụt và mất cân đối về nhân lực trong các ngành nghề đƣợc đào
tạo phục vụ cho nhu cầu xã hội: “Chất lƣợng, hiệu quả đào tạo nghề còn thấp,
bất cập và chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất
nƣớc”(3), “Các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo hạn chế” (4), “đào tạo
chƣa gắn với thực tế sử dụng lao động của các doanh nghiệp” (5). Hiện nay,
các doanh nghiệp thiếu trầm trọng nhân lực công nhân kỹ thuật và công nhân
lành nghề. Trong khi đó, số công nhân kỹ thuật ra trƣờng không đáp ứng đƣợc
Là một ngƣời đã từng 13 năm trực tiếp tham gia hoạt động đào tạo
nghề và giới thiệu việc làm và với những lý do nêu trên, bằng những kiến
thức đã đƣợc đào tạo cơ bản tại lớp Cao học- Khoa sƣ phạm đại học Quốc gia
Hà Nội, tôi chọn đề tài; “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với
giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm - Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp khoá học.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục, quản lý đào
tạo nghề và thực trạng hoạt động liên kết đào tạo và giải quyết việc làm tại
Trung tâm Giới thiệu việc làm - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đề xuất 4
các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc
làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục và quản lý đào tạo
nghề
3.2. Đánh giá thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động liên kết đào
tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm –
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn
với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm ở Trung
tâm Giới thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
lý hoạt động liên kết đào tạo gắn với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới
thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
8.2. Về mặt thực tiễn
Đánh giá đƣợc thực trạng hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải
quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam; đề xuất các biện pháp mang tính hiện thực, khả thi nhằm quản lý
hoạt động liên kết đào tạo gắn với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới
thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nói riêng và các hoạt
động đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm nói chung.
9. Cấu trúc Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. 6
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề
gắn với giải quyết việc làm.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động liên kết đào
tạo gắn với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm – Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo gắn
với giải quyết việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm – Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam.
thể sau: 8
- Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát
triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để
đảm nhận những công việc đƣợc áp dụng đối với những ngƣời lao động và
những đối tƣợng sắp trở thành ngƣời lao động. Đào tạo nghề đƣợc thực hiện
tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trƣờng dạy nghề, các lớp không chính
quy nhằm nâng cao năng xuất lao động, tăng cƣờng cơ hội việc làm và cải
thiện địa vị cho ngƣời lao động, nâng cao năng xuất lao động của các doanh
nghiệp góp phần phát triển kinh tế- xã hội.
- Leconnard Nadler (1984): Đào tạo nghề là để học những điều nhằm cải
thiện việc thực hiện những công việc hiện tại.
- Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm
cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những
nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao.
Khi tiếp cận dƣới góc độ quản lý, các khái niệm trên đều là kinh điển,
song chƣa thật đầy đủ vì chƣa đề cập đến nội dung quan trọng nhất, đó là việc
đào tạo nhân lực gắn với việc làm. Vì vậy có thể hiểu, đào tạo nghề là quá
trình giáo dục, phát triển nhân cách, phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ
năng, thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc
làm.
Luật dạy nghề năm 2006 quy định: Dạy nghề là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời
học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành
khoá học. Mục tiêu đào tạo nghề là trạng thái phát triển nhân cách đƣợc dự
kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và đƣợc hiểu là chất lƣợng
cần đạt tới đối với ngƣời học sau quá trình đào tạo.
1.1.4. Việc làm
hiện vật từ ngƣời sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông
qua hoạt động kinh tế mà bản thân ngƣời lao động làm chủ, tự tiến hành tổ
chức và tiến hành các hoạt động đó; hoặc đem lại thu nhập cho hộ gia đình 10
mà bản thân ngƣời lao động thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia
đình, do gia đình quản lý Nhƣ vậy một hoạt động đƣợc coi là việc làm hay
không chủ yếu đƣợc dựa trên tính hợp pháp và tạo ra thu nhập của hoạt động
đó.
1.1.5. Liên kết
Theo đại từ điển Tiếng Việt- NXB Văn hoá- Thông tin 1998 (Nguyễn
Nhƣ ý chủ biên) thuật ngữ "liên kết" đƣợc định nghĩa là: "Kết lại với nhau từ
nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó". Khái niệm
liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các
thành phần trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hƣớng
đến một mục tiêu chung. Tính hƣớng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực
của các mối liên kết giữa chúng. Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục
đích nào đó (lợi ích chung, giả thuyết một vấn đề chung ) tạo nên một sức
mạnh mới, khả năng mới mà từ thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không
thể có. Tuỳ theo từng loại hình mà có các mối liên kết bên trong hoặc liên
kết bên ngoài của một tổ chức (nhà trƣờng, doanh nghiệp, trƣờng đại học)
trong bối cảnh và môi trƣờng kinh tế nhất định. Nói đến liên kết là nói đến
các nội dung sau :
- Mục đích, mục tiêu liên kết: Phản ánh lợi ích, mong muốn chung và
cụ thể của từng tổ chức thành phần tham gia liên kết nhƣ lợi ích kinh tế, lợi
ích xã hội, lợi ích môi trƣờng phát triển
- Các thành phần, tổ chức liên kết: bao gồm các thành phần, tổ chức
độc lập, có tƣ cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế- xã hội,
giáo dục- đào tạo, cơ quan quản lý nhà nƣớc tham gia với những vai trò vị
cƣờng các nguồn lực cho quá trình đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lƣợng và
hiệu quả đào tạo.
- Mục đích, mục tiêu liên kết đào tạo nghề: Huy động các nguồn nhân
lực, vật lực, tài lực của các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để đào tạo đa
dạng các loại nghề, trình độ nghề, giảm chi phí và nâng cao chất lƣợng đào 12
tạo nghề phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng lao động xã hội và nhu cầu của
doanh nghiệp.
- Các thành phần, tổ chức liên kết đào tạo nghề: bao gồm các cơ sở
đào tạo nghề (các trƣờng, trung tâm…), các doanh nghiệp.
- Các hình thức liên kết đào tạo nghề: Liên kết đào tạo nghề chủ yếu
thực hiện theo hình thức thoả thuận phối hợp thực hiện các hợp đồng kinh tế
trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo nghề.
- Các nội dung liên kết đào tạo nghề: Các bên tham gia liên kết có trách
nhiệm tham gia các thoả thuận: đào tạo nghề, đầu tƣ, hỗ trợ tài chính, tổ chức
các hoạt động sản xuất- kinh doanh…
- Cơ chế liên kế tđào tạo nghề: Cách thức tổ chức, quản lý hoạt động
liên kết đào tạo nghề theo cơ chế phối hợp thực hiện các cam kết theo hợp
đồng kinh tế.
- Sản phẩm liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là nguồn
nhân lực có tay nghề và có khả năng kiếm đƣợc việc làm.
- Môi trƣờng và các điều kiện liên kết dựa trên các chủ trƣơng của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, năng lực đào tạo, năng lực quản
lý, khả năng tài chính, cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề, các doanh
nghiệp
1.1.7. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.7.1. Nguồn nhân lực
Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng đƣợc hiểu nhƣ:
lao động của họ trong tổ chức.
Phát triển nguồn nhân lực có thể đƣợc coi là một lĩnh vực của "quản lý
nguồn nhân lực". Về vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lƣợc CNH,
HĐH đất nƣớc bao gồm đồng bộ cả 3 mặt chủ yếu: giáo dục và đào tạo con
ngƣời, sử dụng con ngƣời, tạo môi trƣờng việc làm và đãi ngộ thoả đáng cho
con ngƣời trong đó giáo dục và đào tạo đƣợc coi nhƣ là cơ sở để sử dụng con
ngƣời có hiệu quả cũng nhƣ để mở rộng và cải thiện môi trƣờng làm việc. 14
Cơ cấu mới của nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH là
định hƣớng cho sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt cho sự phát triển của
Giáo dục & Đào tạo nhằm đảm bảo các loại hình lao động cần thiết; đó là: Cơ
cấu phân công lao động theo ngành, chuyển dịch theo hƣớng giảm tỷ trọng
lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ.
Trong phát triển nguồn nhân lực đặc biệt phải chú ý đến kế hoạch phát
triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển nguồn nhân lực.
Kế hoạch hoá phát triển nguồn nhân lực, về cơ bản là xem xét làm thế
nào để đảm bảo sự tƣơng thích cung và cầu lao động trong phạm vị quốc gia
nói chung và ở các vùng, miền, lĩnh vực, ngành nghề kinh tế- xã hội. Mục tiêu
của kế hoạch hoá nhân lực là tránh sự dƣ thừa hoặc thiếu hụt lao động chuyên
môn kỹ thuật so với nhu cầu, dẫn đến phá vỡ mục tiêu phát triển chung. Vì
vậy, chính sách ở đây là phải dựa trên nhu cầu mỗi loại hình lao động và
chuyển hoá đào tạo sao cho đủ nguồn nhân lực thích ứng với nhu cầu thị
trƣờng sức lao động.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH ở
nƣớc ta phải nhằm đảm bảo nâng cao chất lƣợng dân số và nguồn nhân lực,
GD & ĐT có chất lƣợng các loại hình lao động cần thiết cho CNH, HĐH ; sử
dụng, phát huy tốt lao động đƣợc đào tạo và việc tạo môi trƣờng lao động
phong phú về việc làm, từ chủng loại (nghề nghiệp, cấp bậc trình độ, kỹ
sách hàng đầu. Dạy nghề góp phần đáp ứng lực lƣợng lao động kỹ thuật có
chất lƣợng cho sự nghiệp CNH, HĐH và phổ cập nghề cho ngƣời lao động.
- Dạy nghề gắn với việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp, góp
phần chuyển dịch cơ cấu lao động, đặc biệt là từ khu vực nông thôn sang công
nghiệp và dịch vụ, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giải
quyết việc làm tại chỗ và nâng quỹ sử dụng thời gian lao động trong nông
thôn.
- Dạy nghề là sự nghiệp của toàn xã hội. Đầu tƣ cho dạy nghề là đầu tƣ
cho sự phát triển bền vững nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong việc đầu tƣ cơ 16
sở vật chất và trang thiết bị ban đầu cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt với các
ngành ngề mũi nhọn, những ngành nghề trọng yếu của nền kinh tế quốc dân,
cho xuất khẩu lao động và cho những vùng khó khăn, đồng thời tạo môi
trƣờng để mọi tổ chức và cá nhân trong và ngoài nƣớc tham gia phát triển dạy
nghề, đặc biệt là những ngành nghề phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn.
- Mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao chất lƣợng đào tạo thông qua
việc chuẩn hoá các điều kiện đảm bảo chất lƣợng.
- Song song với phát triển dạy nghề theo hai hƣớng trọng điểm và đại
trà. Tập trung xây dựng một số trƣờng trọng điểm, một số nghề sử dụng kỹ
thuật có trình độ cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn, khu công nghiệp, khu
chế xuất và xuất khẩu lao động. Đồng thời chú trọng đào tạo nghề với các
chƣơng trình phát triển phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng, từng địa
phƣơng.
- Phát triển đào tạo nghề trên cơ sở liên thông, mềm dẻo và linh hoạt.
Thực hiện đào tạo công nhân kỹ thuật theo các cấp trình độ: sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Mục tiêu phát triển dạy nghề đến năm 2010
nghề cho phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng lao động trong các ngành công
nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ. Đào tạo các nghề mới theo nhu
cầu của thị trƣờng lao động. Tập trung đào tạo một số ngành nghề công nghệ
cao, dịch vụ chất lƣợng cao cho các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu
chế xuất, ƣu tiên một số ngành nghề mũi nhọn nhƣ công nghệ thông tin, viễn
thông, cơ khí chính xác, cơ- điện tử, điện- điện tử, hàng không, hoá dầu, vật
liệu mới, công nghệ sinh học và một số ngành có sử dụng lao động lớn nhƣ
dệt may, thuỷ sản, chú trọng đào tạo các nghề phục vụ cho CNH, HĐH nông
nghiệp, phất triển nông thôn, miền núi và xuất khẩu lao động. 18
Chất lƣợng đào tạo nghề: đảm bảo và nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề
nhằm đáp ƣng một cách cơ bản yêu cầu của sản xuất, của thị trƣờng lao động,
đặc biệt chú trọng nâng cao chất lƣợng đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên
nghiệp vụ để có đủ khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến, các thiết
bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH. Tập trung nâng cấp
các điều kiện đảm bảo chất lƣợng nhƣ: Xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội
ngũ giáo viên theo hƣớng chuẩn hoá về số lƣợng, chất lƣợng (phấn đấu đến
năm 2010 đạt tỷ lệ 15 học sinh/1 giáo viên), bồi dƣỡng nâng cao năng lực cho
đội ngũ giáo viên về chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề, trình độ và kỹ năng
sƣ phạm; Đổi mới hiện đại hoá nội dung chƣơng trình đào tạo nghề phù hợp
với yêu cầu thực tế sản xuất, công nghệ, xây dựng chƣơng trình đào tạo nghề
theo mô- đun để tạo thuận lợi cho ngƣời học, đảm bảo liên thông trong đào
tạo, biên soạn tài liệu, giáo trình, học liệu cần thiết cho dạy và học; từng bƣớc
nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt là trang thiết bị dạy nghề theo hƣớng
chuẩn hoá, hiện đại hoá; xây dựng và áp dụng các tiêu chí đánh giá, kiểm định
chất lƣợng đào tạo trên phạm vi toàn quốc.
1.2.2. Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác liên kết đào tạo
nghề
và hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc là một vấn đề phức
tạp gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Trong thực tế, khi đầu tƣ vào phát
triển con ngƣời, Nhà nƣớc đã tạo ra môi trƣờng cạnh tranh giữa các cơ sở giáo
dục - đào tạo, kích thích tính năng động, sáng tạo, đồng thời giữ cho hệ thống
giáo dục luôn mở và ổn định. Bằng cơ chế phân bổ nguồn lực và ban hành các
chính sách phù hợp, Nhà nƣớc khuyến khích các cơ sở đào tạo gắn bó chặt
chẽ với thị trƣờng lao động. Sự kết gắn này phải đảm bảo sự tƣơng thích cung
và cầu lao động trong phạm vi quốc gia nói chung và ở các vùng, miền, lĩnh
vực, ngành kinh tế xã hội, tránh dƣ thừa họăc thiếu hụt lao động chuyên môn
kỹ thuật so với nhu cầu, dẫn tới phá vỡ mục tiêu phát triển chung. Tính toán
đƣợc nhu cầu lao động chuyên môn kỹ thuật nhằm thích ứng với mục tiêu 20
tăng trƣởng sản xuất hay khối lƣợng dịch vụ với trình độ công nghệ đã lựa
chọn để lập kế hoạch đào tạo cung cấp nhân lực cho các địa chỉ sử dụng.
Thực trạng lệch pha giữa đào tạo và sử dụng đang đặt ra nhiều vấn đề bức
xúc đối với xã hội. Vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu thị
trƣờng lao động là một vấn đề phức tạp bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau.
Hệ thống giáo dục đào tạo, với nhiều nhân tố và thành phần nhƣ hệ thống
chính sách, cơ cấu hệ thống nhà trƣờng, mục tiêu, nội dung đào tạo Tƣơng
tự vậy, bản thân thị trƣờng lao động ở nƣớc ta cũng là một hệ thống bao hàm
nhiều cấp độ khác nhau: thị trƣờng lao động toàn quốc, thị trƣờng lao động
các vùng, các khu vực, các địa phƣơng, các ngành kinh tế kỹ thuật. Về trình
độ nhân lực có thể có các thị trƣờng lao động chất xám, thị trƣờng lao động
có kỹ năng, thị trƣờng lao động phổ thông Thị trƣờng lao động nƣớc ta mới
hình thành và đang trong quá trình phát triển với nhiều biến động trong thời
kỳ chuyển đổi. Nhiều nhân tố thị trƣờng đã xuất hiện nhƣ nhân tố cạnh tranh
giữa những ngƣời tìm việc làm trong các kỳ tuyển lao động của các công ty-
xí nghiệp, cơ quan nhà nƣớc; sự chi phối về mức sống và giá cả sức lao động
.Công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm nhằm tạo ra những”sản
phẩm”- ngƣời lao động có trình độ, kỹ năng nghề phù hợp với công nghệ
của doanh nghiệp, yêu cầu của ngƣời sử dụng lao động trên cơ sở các cơ
chế, chính sách và định hƣớng chung của Nhà nƣớc là một hƣớng đi tích
cực để đáp ứng yêu cầu nhu cầu của thị trƣờng lao động hiện nay.
Hoạt động đào tạo nghề gắn với giải việc làm sẽ tạo ra sự chủ động
hơn cho các cơ sở ĐTN trong việc cung ứng lao động có tay nghề cho thị
trƣờng lao động. Chất lƣợng lao động qua đào tạo đƣợc nâng cao, sự gắn kết
giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sử dụng lao động chặt chẽ hơn. Phƣơng thức
đào tạo này cũng làm tiết kiệm thời gian và tạo nhiều cơ hội việc hơn cho
ngƣời lao động, làm cho ngƣời lao động yên tâm và chủ động hơn trong quá
trình học tập. Đồng thời giúp cơ sở sản xuất chủ động hơn trong việc tìm kiến
nguồn nhân lực và nâng cao trách nhiệm của họ đối với quá trình đào tạo của 22
cơ sở đào tạo. Khác hẳn với công tác dạy nghề thông thƣờng, vấn đề liên kết
đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm thể hiện yêu cầu cao về sự gắn kết
giữa đào tạo nghề với thị trƣờng lao động. Nó bắt đầu từ việc khảo sát nhu
cầu của thị trƣờng lao động để xây dựng kế hoạch đào tạo, hƣớng nghiệp cho
ngƣời học, tổ chức quá trình đào tạo giúp ngƣời tốt nghiệp và ngƣời sử dụng
lao động gặp nhau.
1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề
Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến công tác đào tạo nghề, liên kết đào tạo
nghề gắn với giải quyết việc làm, trông đó có thể nêu một số yếu tố cơ bản sau:
* Nhận thức xã hội về đào tạo nghề
Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề có tác động mạnh mẽ đến công
tác đào tạo nghề, ảnh hƣởng rõ rệt nhất là tới số lƣợng học sinh đầu vào của
các cơ sở doanh nghiệp. Nếu mọi ngƣời trong xã hội đánh giá đúng đắn tầm
quan trọng của việc học nghề thì trƣớc hết lƣợng lao động tham gia đào tạo
chất lƣợng đào tạo nghề. ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng
cần có những máy móc trang thiết bị cần thiết chuyên dùng phục vụ cho giảng
dạy và học tập. Trang thiết bị đào tạo nghề giúp cho học sinh có điều kiện
thực hành để hoàn chỉnh kỹ năng sản xuất. Điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc
phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì học sinh có thể thích ứng, vận dụng nhanh
chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu. Chất lƣợng của các trang
thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tấc độ đổi mới hiện đại của máy
móc sản xuất.
1.2.3. Liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
1.2.3.1. Yêu cầu của liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
Liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm nhằm tạo ra những
“sản phẩm”- ngƣời lao động có trình độ, kỹ năng nghề phù hợp với công nghệ
của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ, trên cơ sở các cơ chế, chính
sách và định hƣớng chung của nhà nƣớc. Do đó yêu cầu của liên kết đào tạo 24
nghề gắn với giải quyết việc làm là phải thiết lập và vận hành hệ thống thông
tin hai chiều thị trƣờng lao động- thị trƣờng đào tạo nhằm giúp cho:
- Ngƣời lao động tìm hiểu và lựa chọn nghề học, nơi học để đảm bảo cơ
hội tìm kiếm đƣợc việc làm sau khi đào tạo.
- Cơ sở đào tạo lựa chọn quyết định nghề, số lƣợng, trình độ cần đào
tạo theo nhu cầu thị trƣờng.
- Doanh nghiệp (ngƣời sử dụng lao động) tuyển đƣợc những lao động
qua đào tạo phù hợp, đáp ứng đƣợc yêu cầu sử dụng
- Thiết lập cơ chế phối hợp hai chiều giữa doanh nghiệp (ngƣời sử dụng
lao động) với cơ sở đào tạo
1.2.3.2. Mô hình liên kết
Hoạt động liên kết đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm có