ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
___________________
TRẦN TUẤN NAM MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. HÀ NHẬT THĂNG
1.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDĐĐHS trong giai đoạn hiện
nay.27
Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức các trƣờng THPT
trên địa bàn thành phố Bắc Giang 46
2.1. Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Bắc Giang có
ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục cho học sinh
THPT 46
3
2.2. Đặc điểm của các trường THPT Thành phố Bắc
Giang 47
2.3. Thực trạng nhận thức của các lực lượng xã hội về CTGDĐĐ
HS 52
2.4 . Thực trạng các hoạt động GDĐĐ HS các trường THPT trên địa bàn thành
phố Bắc Giang 59
2.5. Thực trạng về CTGDĐĐ của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ
HS các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc
Giang 73
Chƣơng 3: những giải pháp quản lý của hiệu trƣởng nhằm nâng cao hiệu
quả GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn mới 81
3.1. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống giải pháp 81
3.2. Những giải pháp quản lý chủ yếu của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng
GDĐĐ học sinh trung học phổ thông 81
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả GDĐĐ học sinh
THPT 108
3.4. Thử nghiệm tính khả thi của các giải
pháp 109
Kết luận - đề xuất 111
GV
Giáo viên
HĐH
Hiện đại hoá
HS
Học sinh
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
CTGDĐĐ
Công tác giáo dục đạo đức
GD -ĐT
Giáo dục - đào tạo
GD
Giáo dục
GDCD
Giáo dục công dân
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp
XH
Xã hội
QLHĐGDNGLL
Quản lý hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp
NXB
Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, yếu tố con người luôn
giữ vai trò quyết định. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức trú trọng đến nguồn lực con người, luôn
xác định con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội,vì vậy rất coi trọng vai
trò của giáo dục - đào tạo. Giáo dục và đào tạo con người có đạo đức, tri thức, kỹ
năng được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực người, yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Giáo dục có chức năng quan trọng: nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Chỉ có giáo dục mới có thể phát huy tiềm
năng của con người và phát triển con người, việc phát triển và khai thác tốt tài
nguyên “ người ” là đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia.
Chúng ta biết, tương lai của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nền học vấn của người
dân nước đó. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai của Ban chấp hành
trung ương Đảng Cộng sản Việt nam khoá VIII đã khẳng định: “ Nhiệm vụ và
mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ tha
thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong
sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng
6
lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con
người Việt Nam ”, “ Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
động lực phát triển kinh tế – xã hội ” [10]. Đây thực sự là một chiến lược đòi
hỏi các nhà quản lý đất nước, các nhà quản lý giáo dục cần phải quan tâm và có
những giải pháp cụ thể, hiệu quả mới đáp ứng sự phát triển của giáo dục, phát
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông (Nghiên cứu tại địa bàn thành phố Bắc Giang).
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố
Bắc Giang.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý của hiệu trưởng về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông.
. Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông.
4. Giả thuyết khoa học
Giáo dục đạo đức cho học sinh bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan và
chủ quan. Chất lượng và hiệu giáo dục đạo đức của học sinh các trường THPT
đòi hỏi phải kết hợp nhiều biện pháp tổ chức, quản lý một cách khoa học, đồng
bộ, triệt để đặc biệt là sự tham gia trực tiếp của cán bộ quản lý trong nhà
trường mà người đứng đầu là Hiệu trưởng các trường THPT. Nếu xây dựng được
các giải pháp quản lý khoa học, cụ thể phù hợp với xu thế phát triển chung của
xã hội sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, góp phần
8
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn
hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lý luận của vấn đề quản lý chất lượng giáo dục đạo đức
Đọc và phân tích các tài liệu, các tác phẩm trong và ngoài nước có liên quan
tới đề tài. Phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về lý luận giáo dục
đạo đức trong nhà trường phổ thông. Nghiên cứu các văn bản pháp qui, những
qui định của ngành có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
Xây dựng lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Phương pháp này được thể hiện bằng cách tiếp cận
xem xét thu thập dữ liệu từ những hoạt động thực tế của công tác tổ chức hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh.
+ Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu
hỏi để khảo sát các đối tượng Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh THPT, Cha
mẹ học sinh và một số đối tượng có liên quan.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm tổ chức, phối
hợp hoạt động của các trường có những biện pháp giáo dục đạo đức tốt cho học
sinh.
+ Phương pháp chuyên gia .
+ Phương pháp xử lý thông tin.
8. Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu
Đề tài dự kiến tiến hành nghiên cứu trong 1 năm cụ thể:
- Từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 7 năm 2006: Thực hiện nghiên cứu các
vấn đề cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và những vấn đề có liên quan.
- Từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 11 năm 2006: Hoàn thiện luận văn.
9. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương1: Cơ sở lí luận về giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức
cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
xuất bản Chính trị quốc gia – năm 2003) đã dành chương IX trình bày tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức. Trong chương này đã nêu rõ những phẩm chất đạo đức
cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới, đó là: Trung với nước, hiếu
với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần
quốc tế trong sáng. Ngoài ra còn chỉ ra những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới.
Cuộc sống đang đòi hỏi phải xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với
những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
vẫn soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang đó.
12
Hiện nay ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo
dục đạo đức cho học sinh. Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của mình, tác
giả Phạm Trung Thanh quan tâm đến thực trạng đạo đức của học sinh THCS. Và
khi điều tra trên một số lượng lớn học sinh THCS ở Hải Hưng, tác giả đưa ra một
số kết quả khả quan: Đa số học sinh hiện nay đều có tính hướng thiện, cầu tiến.
Số học sinh yếu kém về đạo đức không nhiều. Dựa trên cơ sở đó tác giả đưa ra
10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
hiện nay cũng như việc yêu cầu các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục phải nâng
cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công việc, tổ chức đa dạng các hoạt động
thu hút học sinh vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức.
Cũng nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả Lê Trung
Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức
theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội, có hệ thống, tiếp cận
phức hợp xuất phát từ học sinh.
Trong cuốn “ đạo đức học ” giáo trình đạo tạo giáo viên trung học cơ sở hệ
cao đẳng sư phạm của tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng (Nhà xuất
bản Giáo dục, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức để trang bị cho
giáo viên sau này làm cơ sở để dạy cho học sinh. Các tác giả đã đề cập đến các
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một công trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước có định hướng giáo dục
nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đó là tác phẩm “
về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH” do GS.VS Phạm Minh
Hạc chủ nhiệm chương trình làm chủ biên (NXB chính trị Quốc gia 2001) đã
giành cả chương 7 (từ trang 153-178) nêu lên nhằm định hướng xây dựng đạo
đức con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH. Trong chương 7 đã trình bày khái
quát thực trạng đạo đức của học sinh THPT và sinh viên, chỉ ra những nguyên
nhân chưa lành mạnh về đạo đức trong cuộc sống hiện nay. Điều quan trọng là
14
công trình nghiên cứu đã phân tích mục tiêu GDĐĐ, chỉ ra những nguyên tắc
xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức, xác định trên 40 giá trị của con người
Việt Nam thể hiện ở 5 quan hệ (với bản thân, với người khác, với công việc, với
môi sinh và với lý tưởng của dân tộc).
Trong công trình nghiên cứu trên đã xác định 15 nguyên nhân dẫn tới việc
GDĐĐ chưa tốt trong đó có: gia đình buông lỏng GDĐĐ; chưa có giải pháp phối
hợp đồng bộ toàn XH; nhiều đoàn thể XH chưa quan tâm tới GDĐĐ; tổ chức
quản lý GDĐĐ chưa đồng bộ.
Về giải pháp: Công trình nghiên cứu đã đề xuất: xây dựng một cơ chế tổ
chức và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ; củng cố tăng cường giáo dục gia
đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ
cho mọi người. Trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay, đó là công trình đề xuất
giải pháp GDĐĐ ở tầm vĩ mô, định hướng cho việc nghiên cứu các biện pháp
GD cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ.
Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ từ đó hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa do đó có công tác GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ học sinh ở các
phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần. Sự phát
triển thể chất gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo sự phát triển tâm sinh lý
lứa tuổi, đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho
nhau, là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân về năng lực và phẩm chất phù
hợp với lịch sử xã hội và thời đại. Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con
người.
1.2.1.3. Các yếu tố tác động đến sự phát triển nhân cách
- Yếu tố sinh học: Di truyền học đã chứng minh, các thế hệ con người có
thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể , về các loại hình thần
kinh về các chức năng hoạt động của chúng tạo ra sức sống tự nhiên của con
người. Sức sống tự nhiên là tiền đề vật chất có vai trò cực kỳ quan trọng trong
16
quá trình phát triển nhân cách. Phải thừa nhận, ở mỗi con người ít nhiều có
những khả năng bẩm sinh nào đó. Nếu khả năng này phù với một loại hoạt động
thì nó giúp con người thực hiện công việc ấy một cách dễ dàng và có hiệu quả. ở
những người đặc biệt mà có những năng khiếu bẩm sinh biểu hiện dưới dạng tư
chất , nếu biết phát hiện và bồi dưỡng thì họ có thể trở thành nhân tài cho đất
nước. như vậy cần đánh giá đúng vai trò của yếu tố sinh học để tránh những sai
lầm trong nhận thức cũng như trong các hoạt động giáo dục và đặc biệt đó là
giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Yếu tố môi trường: Bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá
xã hội. Môi trường tự nhiên là điều kiện địa lý – sinh thái. Môi trường sinh thái
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất. Vị trí địa lý tự nhiên và địa lý
kinh tế tốt tạo điều kiện cho cuộc sống và hoạt động của con người. Gia đình là
môi trường sống kết hợp môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá xã hội đầu
tiên của đứa trẻ. Mức sống, trình độ học vấn, thói quen, nếp sống, mối quan hệ
tình cảm của các thành viên, tính mẫu mực của người lớn phương pháp giáo dục
dục nhà trường có vai trò quan trọng nhất.
+ Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư
phạm được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo
dục phù hợp với mọi lứa tuổi , có các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục
. Mục đích giáo dục nhà trường phù hợp với xu thế phát triển xã hội và thời đại.
Giáo dục nhà trường bằng kiến thức và phương pháp khoa học , bằng tổ chức các
hoạt động, giao lưu trong thực tiễn làm cho nhân cách học sinh được hình thành.
Giáo dục tạo nên bộ mặt tâm lý cá nhân phù hợp với những tiêu chuẩn, giá trị xã
hội và thời đại.
+ Giáo dục gia đình được tiến hành trong cả cuộc đời mỗi con người. Với
đặc điểm chủ yếu là quan hệ tình yêu, pháp lý và huyết thống, giáo dục gia đình
được xây dựng trên cơ sở tình cảm bền chặt, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của mỗi con người. Ngày nay Giáo dục học đã thừa nhận nề nếp gia phong
18
truyền thống gia đình như một yếu tố giáo dục cực kỳ quan trọng không thể coi
thường.
+ Giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội, với thể chế chính trị, pháp
luật, với truyền thống văn hoá, đạo đức được thực hiện qua hệ thống tổ chức
nhà nước , qua bộ máy tuyên truyền thông tin đại chúng. Qua dư luận xã hội, qua
hoạt động giáo dục của các đoàn thể quần chúng góp phần quan trọng cho sự
phát triển nhân cách.
Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục to lớn, nếu được
phối hợp chặt chẽ, cùng thống nhất một mục đích, một yêu cầu và cùng một
phương thức giáo dục sẽ đem lại kết quả giáo dục tốt đẹp.
+ Giáo dục ngoài việc bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người,
còn có thể giúp sửa chữa những lệch lạc trong ý thức đạo đức và hành vi của con
người (giáo dục lại) và hơn thế nữa giáo dục còn có thể giúp khắc phục cả những
Dưới góc độ Đạo đức học: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội ” [22, tr.12].
Dưới góc độ Giáo dục học: “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người
với con người ”. [34, tr.170, 171].
Bàn về đạo đức không thể không nói đến các quan niệm đạo đức của Hồ
Chủ Tịch. Người quan niệm đạo đức là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Đó là đạo
đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc,
của lòng người. Theo Người, đức là sự thống nhất tư tưởng và phong cách sống.
Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát chung về đạo
đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của
con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện
bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Như
vậy, về bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ xã hội
được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác
thực hiện.
20
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện
thực được hình thành trên cơ sở kinh tế. Vì vậy mỗi hình thái kinh tế, xã hội hay
mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương
ứng.
Đạo đức biểu hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên
biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên 2 phương diện lịch sử và
đồng đại. Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức XH như có
con trai, có nhiều con là nhiều của song ngày nay có thể bị coi là phản giá trị hay
người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, hành vi, đích cuối
cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức ” [33,
tr.172].
Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo
đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi
bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo
dục.
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng vì
giáo dục chính trị tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác-Lênin
và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản,
cho ý thức và hành động đạo đức.
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật. Giáo dục
pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về luật pháp của
Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam, do đó có tác
dụng củng cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực
hiện các yêu cầu đạo đức.
1.2.3.2. Mục tiêu của giáo dục đạo đức:
Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động
theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự
tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nước. Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của
giáo dục đạo đức là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức.
1.2.3.3. Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức:
22
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận cực kỳ quan trọng của
quá trình sư phạm. Để giáo dục những phẩm chất đạo đức, cần giải quyết đồng
bộ nhiều vấn đề nhằm giúp người được giáo dục có ý thức về phẩm chất đó, có
thái độ đúng đắn tích cực và có thói quen, hành vi tương ứng. Giáo dục đạo đức
Nhóm phương pháp thuyết phục: Thuyết phục là các nhóm phương pháp tác
động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức
thái độ tốt đẹp đối với cuộc sống. Nhóm này bao gồm các phương pháp khuyên
giải, tranh luận, nêu gương.
Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động: đây là nhóm phương pháp đưa
con người vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi thói
quen. Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện.
Nhóm các phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp tác
động vào mặt tình cảm của các đối tượng được giáo dục nhằm tạo ra những phấn
chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động đồng thời giúp cho những người có khuyết
điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm. Nhóm này gồm các phương pháp:
khen thưởng, trách phạt, thi đua.
Cần chú ý: Trong thực tiễn không nên tách bạch hoàn toàn như vậy, vì mỗi
biện pháp, hình thức hoạt động đều có thể đem lại hiệu quả tổng hợp, một buổi
thăm quan di tích lịch sử, tham gia một phong trào nhân đạo từ thiện vừa nâng
cao được nhận thức trách nhiệm, vừa phát triển lòng yêu thương con người vì
vậy cần kết hợp nhiều phương pháp GDĐĐ và cần xác định mục tiêu cho mỗi
phương pháp, hình thức hoạt động GDĐĐ.
Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng: Nhà giáo dục cần phải vận dụng
linh hoạt chúng cho phù hợp với mục đích, đối tượng giáo dục, với từng tình
huống cụ thể. Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ
thuật giáo dục.
1.2.3.6. Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức:
24
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được
tiến hành với những con đường và phương thức sau đây:
Thông qua việc dạy các môn học làm cho người được giáo dục tự giác
viên trong trường, xác định cơ cấu bộ máy, bố trí các bộ phận và các cá nhân cho
đúng người, đúng việc, quy định chức năng, quyền hạn trách nhiệm cho từng
người, từng bộ phận, tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy,
xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên.
Chỉ huy điều hành: Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người
lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc
thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra trong
kỷ cương, trật tự.
Nội dung của việc chỉ đạo bao gồm: Chỉ huy, ra lệnh, động viên, khuyến
khích thường xuyên và kịp thời theo dõi và giám sát, điều chỉnh, sửa chữa, bù
đắp, chỉnh lý.
Kiểm tra: Chức năng này diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý
nhưng thực hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý.
Nội dung của việc kiểm tra bao gồm: Đánh giá tiến độ, tốc độ, nhịp độ của quá
trình quản lý so với kế hoạch, xác định chính xác mức độ đạt được so với các
mục tiêu đã đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên
nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần tiếp tục
giải quyết, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tiếp theo.
1.2.4.3. Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức:
Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức, đảm bảo sao cho kế
hoạch phải vừa bao quát vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau, kế
hoạch phải khả thi.
Triển khai chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch theo đúng nội dung yêu cầu và
tiến độ, thường xuyên kiểm tra uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh
cho phù hợp với tình hình cụ thể.