Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO BÁ BÍNH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số chuyên ngành: 601405
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS Bùi Văn Quân HÀ NỘI – 2013
i
Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy
giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức rất quý báu về
khoa học quản lý giáo dục, những phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội, Phòng sau đại học trường Đại học Giáo dục; Sở Giáo dục và Đào tạo Hải
Phòng; trường THPT Quốc Tuấn - thành phố Hải Phòng cùng bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Bùi Văn Quân đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Mặc dù bản thân tôi đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn này không tránh
khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý
báu của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 10 năm 2013
Tác giả
8. GDHN:
Giáo dục hướng nghiệp
9. GD&ĐT:
Giáo dục và Đào tạo
10. GV:
Giáo viên
11. HS:
Học sinh
12. KT-XH:
Kinh tế - Xã hội
13. LĐSX:
Lao động sản xuất
14. QLGD:
Quản lý giáo dục
15. QLGDHN:
Quản lý giáo dục hướng nghiệp
16. TCCN:
Trung cấp chuyên nghiệp
17. THCS:
Trung học cơ sở
18. THPT:
Trung học phổ thông
19. XH:
Xã hội

GDHN thông qua dạy - học các môn văn hoá

Bảng 2.8.
GDHN qua dạy - học môn Công nghệ và hoạt động LĐSX

Bảng 2.9.
GDHN qua tổ chức hoạt động GDHN

Bảng 2.10.
GDHN qua hoạt động tham quan, ngoại khoá

Bảng 2.11.
Thống kê học sinh tốt nghiệp THPT Quốc Tuấn vào CĐ, ĐH
giai đoạn 2010 - 2013

Bảng 2.12.
Nhận thức về tầm quan trọng các biện pháp quản lý GDHN
của trường THPT Quốc Tuấn - Thành phố Hải Phòng

Bảng 2.13.
Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý GDHN

Bảng 2.14.
Tương quan giữa nhận thức tầm quan trọng và mức độ thực
hiện các biện pháp quản lý GDHN của trường THPT Quốc
Tuấn

Bảng 2.15.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDHN của trường THPT
Quốc Tuấn

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƢỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 14
1.1.1. Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở một số nước trên thế giới 14
1.1.2. Ở Việt Nam 21
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 23
1.2.1. Quản lý giáo dục 23
1.2.2. Quản lí nhà trường 25
1.2.3. Hướng nghiệp 26
1.2.4. Giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.5. Quản lý giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.6. Biện pháp 28
1.3. Giáo dục hƣớng ngiệp trong trƣờng trung học phổ thông 28
1.3.1. Vị trí của trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân.28
1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 29
1.3.3. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp trong trường
trung học phổ thông 31
1.3.4. Nôi dung của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông.32
1.3.5. Các con đường giáo dục hường nghiệp trong trường trung học phổ thông
33
1.4. Quản lý giáo dục hƣớng nghiệp của Hiệu trƣởng trƣờng trung học phổ
thông 36
v
1.4.1. Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung
học phổ thông 36
1.5. Những yếu tố ảnh hƣởng đến giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng
trung học phổ thông 39
1.5.1. Đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp 39
1.5.2. Yêu cầu đổi mới giáo dục trung học phổ thông 40

2.4.1.Những thành tựu cơ bản 65
2.4.2.Những tồn tại 66
2.4.3.Nguyên nhân của những tồn tại 66
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN 70
3.1. Nguyên tắc định hƣớng cho việc đề xuất các biện pháp 70
3.1.1. Nguyên tắc tính pháp chế 70
3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn 71
3.1.3. Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển 72
3.1.4. Nguyên tắc tính khả thi 72
3.2. Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hƣớng nghiệp của trƣờng Trung
học phổ thông Quốc Tuấn 73
3.2.1. Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cho học
sinh, các lực lượng giáo dục về giáo dục hướng nghiệp 73
3.2.2. Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp 78
3.2.3.Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp 80
3.2.4. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo
dục hướng nghiệp 83
vii
3.2.5.Tổ chức hoạt động ngoại khóa về giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng
nghiệp 86
3.2.6. Tạo động lực, khuyến khích thúc đẩy giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo
dục hướng nghiệp 90
3.2.7. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo dục hướng nghiệp 92
3.2.8. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục hướng nghiệp 94
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 96
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 97
3.4.1. Các bước khảo nghiệm 97
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm 98

cuộc sống lao động nếu như các em không có điều kiện tiếp tục học lên ngay sau khi
tốt nghiệp phổ thông. Vì lẽ đó, từ nhiều năm nay, yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao chất
lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là nhu cầu cấp
thiết. Điều này cũng được khẳng định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các
Nghị quyết về giáo dục đào tạo như Luật Giáo dục, Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981
của Chính phủ, Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội, Chiến lược phát triển giáo
dục 2001-2010, Chỉ thị 33/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 …
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đã có nhiều
cố gắng để đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp và đã đạt được những kết quả
bước đầu. Nhiều địa phương, nhiều trường đã triển khai thực hiện chương trình giáo
dục hướng nghiệp theo hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, mặc dù các điều kiện để thực hiện
chương trình hầu như chưa có. Nhìn chung, hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng
nghiệp trong thời gian qua còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, nhiều học sinh
rất lúng túng trong việc lựa chọn hướng đi cho mình sau khi tốt nghiệp trung học phổ
thông và thiếu tâm thế, năng lực để bước vào cuộc sống lao động.
Đa số học sinh có tâm lý học xong trung học cơ sở phải vào trung học phổ thông
và học xong trung học phổ thông phải vào được đại học hoặc cao đẳng, rất ít học sinh
có nguyện vọng học nghề. Nhiều trường dạy nghề có chất lượng cao, thị trường lao
động rất cần và trả lương cao nhưng vẫn thiếu học sinh học nghề. Chính điều này đã
dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực đã đào tạo và cơ
cấu ngành nghề đào tạo ở nước ta. Những ngành nghề có nhu cầu phát triển thì chỉ có ít
sinh viên theo học. Trong khi đó, rất đông học sinh theo học các ngành có nhu cầu về
2
nhân lực qua đào tạo thấp, nên sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em không xin được
việc làm hoặc làm những công việc trái với ngành nghề được đào tạo, gây lãng phí lớn
cho gia đình và xã hội. Như vậy, mục tiêu hướng nghiệp của giáo dục phổ thông hầu
như chưa đạt được. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nội
dung công tác giáo dục hướng nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ; các trường phổ
thông thiếu các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp đặc biệt là

- Nghiên cứu lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục trung học phổ
thông, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục ở trường trung học phổ thông để
xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học
phổ thông.
- Trên cơ sở khung lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường trung học phổ thông, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường
trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn –
thành phố Hải Phòng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ
thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
5. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu vấn đề cơ bản sau: Biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn – Thành phố
Hải Phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường
trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng đã đạt được một số thành tựu
như chương trình giáo dục hướng nghiệp học sinh phổ thông đã được chính thức đưa
vào giảng dạy chính khoá, kế hoạch giáo dục hướng nghiệp khá chu đáo, phương pháp
thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có nhiều tiến bộ… Tuy nhiên, vẫn còn
những tồn tại trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp về xây dựng kế
hoạch thực hiện chương trình, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, …
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4

năm vừa qua cùng với những thành tựu cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
9.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
9.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
5
Phương pháp phân tích - tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá những vấn đề lý luận
trong các văn bản, tài liệu, sách báo, thông tin trên mạng Internet có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
9.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Người nghiên cứu tiến hành quan sát có chủ định cách tổ chức, tiến hành quản
lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện
dạy học phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Quốc Tuấn nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Người nghiên cứu xây dựng hai loại phiếu hỏi: một, dành cho cán bộ quản lý,
giáo viên, các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp; hai, dành cho học
sinh ở các lớp của trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm khảo sát thực trạng
quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn –
thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hoặc trao đổi với các cán bộ quản lý,
giáo viên về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ
thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp chuyên gia
Tác giả trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở các trường trung học phổ thông.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp, kế hoạch bài dạy
giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm thu thập thông
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƢỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động giáo dục lao động – hướng nghiệp cho học sinh có từ
hàng trăm năm nay và ngày càng phát triển. Những vấn đề hướng dẫn chọn nghề được
đặt ra một cách rộng rãi ở nhiều nước với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế
kỷ XX. Để có sự tuyển chọn đích đáng những người lao động cho nhà máy, xí nghiệp,
cần phải đưa hướng nghiệp vào trường phổ thông. Từ lâu, N.K.Crupxkaia, nhà giáo
dục học và tâm lý học lỗi lạc người Nga đã từng nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề”
cho mỗi thanh niên. Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thức
sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cần
được thỏa mãn, những nhiệm vụ mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà xã
hội đề ra trong lĩnh vực lao động sản xuất. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hướng
nghiệp và giáo dục hướng nghiệp ở các nước như Nga, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc.

mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề. Ở đây, tôi điểm qua một
số cải cách nhà trường gắn với vấn đề giáo dục, nghề và hướng nghiệp tại trường phổ
thông.
* Nhà trường Pháp và vấn đề giáo dục lao động, nghề nghiệp
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa giáo dục
nhằm vào các hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến
thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào để đảm bảo sự
liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã
hội và nhân văn. Cải cách giáo dục Pháp đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động và
nghề nghiệp cho học sinh khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao
động là một hoạt động giáo dục lao động loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học).
Để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động,
thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường,
đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho học
sinh bước vào cuộc sống lao động. “Công nghệ học là lĩnh vực cơ bản của văn hóa. Nó
không có mục tiêu đào tạo một nghề cụ thể mà nhiệm vụ chính là giáo dục phổ thông
phải cung cấp những tri thức kỹ thuật xác định và phát triển những kỹ năng cần thiết
giúp học sinh hiểu được thế giới công nghệ xung quanh”. Chương trình công nghệ học
phải bao gồm những kiến thức liên quan đến thiết kế cơ khí, các loại máy và hiệu quả
9
sử dụng chúng. Học sinh cần hiểu được vị trí của công nghệ học trong môi trường xã
hội và trong tự nhiên, trình độ công nghệ, những thành tựu to lớn và hiểm họa trong lao
động.
Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các
kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực và hướng nghiệp
để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp.
* Hiện đại hóa quá trình học tập của nhà trường Đức
Giáo dục phổ thông trong nhà trường của Liên bang Đức đang tiến tới “Một nhà
trường Châu Âu thống nhất” nhưng vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp nhất của
nền giáo dục Đức. Vì vậy, định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt ra nhiệm vụ

Trong báo cáo về chiến lược hiện đại hóa “con đường tới năm 2010”, “Ba Lan
trong thế kỷ XXI” của Chủ tịch đoàn Viện Hàn lâm Ba Lan có đoạn viết: “Ưu tiên cao
nhất cho 15 năm tới là sử dụng tiềm lực trí tuệ Ba Lan và nguồn nhân lực để rút ngắn
và hiện đại hóa quá trình xã hội – kinh tế. Chúng ta theo đuổi chiến lược đưa giáo dục
trong năm 2010 đạt được những tiêu chuẩn giáo dục Châu Âu”. Nhà nước Ba Lan chủ
trương chế độ giáo dục bắt buộc 9 năm, gồm giáo dục tích hợp lớp 1 – 3, giáo dục theo
khối 4 đến 6 và tiếp tục là hệ thống giáo dục 3 năm phân hóa (từ 1/9/2001 tăng lên 4
năm) theo hai hướng: hàn lâm và nghề nghiệp hướng vào lĩnh vực xã hội – kinh tế, văn
hóa – nghệ thuật nhằm đào tạo nghề phân hóa rộng. Báo cáo xác định một số nguyên
tắc chỉ đạo cải cách giáo dục gồm:
- Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hướng phân hóa hẹp trước đây, vì phân hóa
rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho người lao động và đào tạo
cán bộ
- Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lý, nghề nghiệp – xã hội, thể chất của học
sinh, đảm bảo mục tiêu con người phát triển toàn diện
- Nguyên tắc giáo dục thông qua lao động được thực hiện thông qua quá trình lao
động, giáo dục kỹ thuật tổng hợp tiếp nhận tri thức và khả năng phù hợp với các giai
đoạn và hình thức học tập, công tác hướng học và hướng nghiệp. Xu thế hiện tại của
giáo dục phổ thông và giáo dục nói chung trên thế giới là coi dạy nghề, bao gồm cả
giáo dục tiền nghề nghiệp ở trường phổ thông, với tính chất đặc biệt quan trọng đó là
cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung đều thống nhất với nhau ở chỗ: giáo dục lao
động gắn liền với giáo dục công nghệ và giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần mà
người Nga gọi là giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
1.1.1.3. Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp ở các trường trung học của
Australia
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp (Career Education) ở các trường học của
Australia nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương
11
trình học tập được kế hoạch hóa. Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết ra những
quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở

nguồn nhân lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, thì mục tiêu cải cách giáo dục hiện
12
nay là sự phát triển của chính học sinh, giúp các em tự phát triển ngay từ nhỏ cho đến
khi trưởng thành. Sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trở thành một
nguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông là phải tạo động cơ
học tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả năng tự học. Trên cơ sở
đó, vai trò của từng cấp học thay đổi nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển này.
Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở hai luận điểm quan trọng đó
là tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục; thực hiện
chương trình cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong
hệ thống giáo dục mà còn mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở
cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình học gồm các môn học: Quốc
ngữ, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân, Toán, Khoa học, Nghịên cứu môi trường, Âm
nhạc, Vẽ, Thủ công, Đồ họa, Kinh tế gia đình, Giáo dục sức khỏe và thể chất, Ngoại
ngữ, Tin học, Giáo dục hướng nghiệp, Giáo dục đạo đức và các hoạt động đặc biệt
khác.
Với những thay đổi về nội dung, phương pháp học tập theo hướng nêu trên, giáo
dục phổ thông nhằm tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân học sinh, cần thiết cho
vai trò của người lao động. Theo quan điểm mới về chất lượng nguồn nhân lực, trong
tương lai, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng đa dạng, phong phú hơn là những
kiến thức mà học sẽ quên ngay sau khi thi. Những kỹ năng này không chỉ được học
trong nhà trường, mà còn phải được luyện tập, thực hành hằng ngày trong cuộc sống.
Để đạt được mục tiêu này, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và
cộng đồng. Để học tập trong nhà trường cho kết quả thật sự, học sinh phải được luyện
tập những điều đã học được trong cuộc sống thực tế. Kiến thức sẽ thiết thực đối với
học sinh hơn khi được vận dụng trong cuộc sống. Đó là điểm then chốt trong chương
trình học tập, tạo hứng thú cho học sinh. Việc rèn luyện khả năng thích ứng của nhân
lực đối với sự phát triển “nền văn hóa công nghiệp Nhật Bản” trong giáo dục phổ
thông. Nhà trường phổ thông Nhật Bản rèn luyện khả năng thích ứng cho học sinh qua
một số hoạt động như hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”;

đào tạo ra những kỹ thuật viên trung cấp, thợ lành nghề. Ở các nước đang phát triển,
điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cần được phát triển.
Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường
bước vào cuộc sống lao động thật sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa
chọn một trong nhiều con đường khác nhau. Các hệ thống giáo dục cần phải được thiết
kế dù linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chức các mô hình học
tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thức
chính quy. Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ
14
thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của học
sinh. Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu
chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả năng vẽ lên
một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải có những nhà
tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (có
tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và
giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết.
1.1.2. Ở Việt Nam
So với các nước trên thể giới thì GDHN ở nước ta còn mới mẻ cả về lý thuyết
và trong hoạt động thực tiễn, nhưng vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và đề cập tới ở những góc độ khác nhau.
Từ năm 1975 - 1980 Viện Khoa học Giáo dục Bộ Giáo dục nay là Bộ GD&ĐT
đã thực nghiệm để đưa công tác hướng nghiệp vào trường phổ thông. Vào đầu những
năm 80 của thế kỉ XX phải kể đến sự đóng góp của các tác giả như: Phạm Hoàng Gia,
Lê Sơn, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh đã nêu ra một số cơ sở tâm lý, nội dung của
công tác hướng nghiệp. Những sản phẩm nghiên cứu của họ là cơ sở để ngày
19/3/1981, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệp
trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và
phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”. Quyết định này đã tạo hành lanh pháp lý
cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông. Để triển khai quyết định trên, ngày 17/11/1981 Bộ GD&ĐT ra thông tư số

Ngày 11/1/2005, Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện
nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp - Cộng hoà Pháp đã tổ chức Hội
thảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp -Á về các vấn đề và
hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam”. Trong hội thảo, nhiều tham luận
của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu các nội dung, hướng đi cần
thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nước nhà.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh, Phạm
Tất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ, đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong
công tác QLGDHN cho học sinh THPT.
Một số công trình nghiên cứu về công tác GDHN ở cấp Bộ như: Đề tài cấp Bộ
năm 2005: “Những giải pháp triển khai thực hiện tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì công
nghiệp hoá - hiện đại hoá” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sư
phạm Thái Nguyên. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệp
cho học sinh trung học phổ thông-Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm Quốc tế” do
Lê Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm.
16
Kế thừa những nghiên cứu lý luận này đã có một số công trình nghiên cứu của
các học viên về công tác GDHN cho học sinh THPT. Tác giả Bùi Việt Phú (2003): “Tổ
chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông theo tinh thần xã hội hoá”- Luận
án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả Phạm Văn Liêm
(2004): “Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông trung học tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp số 3 Hà Nội” - Luận
văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội; Tác giả Nguyễn Thế Tuân
(2008): “Biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học
phổ thông tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Bắc Ninh” - Luận văn thạc
sỹ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giả Cao Văn Nguyên (2008):
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường
Trung học phổ thông huyện Thiệu Hoá - Tỉnh Thanh Hoá” - Luận văn thạc sỹ Khoa
học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giả Nguyễn Hữu Văn (2008): “Biện pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status