ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN HÙNG
BIÊN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGÔ QUANG SƠN
Hà Nội - 2011 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
3
3
3
4
4 5
5
5
6
9
9
13
16
19
19
20
22
23
23
27 1.3.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin và giáo án
dạy học tích cực điện tử
1.3.4.Các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.4. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường cao
đẳng nghề
1.4.1. Quản lý việc xây dựng phòng học đa phương tiện
38
41 43
43
43
44
44
50
53
56
56
nghệ và Nông lâm Phú Thọ
2.2.3. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
2.3. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
2.3.1.Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương
tiện
2.3.2. Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học
2.3.3. Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng
dụng công nghệ thông tin
67
67
67
68
70
71
71
71
72
74
74
74
75 3.3. Các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở
trường Cao đẳng nghề Công nghệ và nông lâm Phú Thọ
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng
của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
3.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường đầu tư mua sắm thiết bị dạy học hiện đại,
xây dựng phòng học đa phương tiện để ứng dụng hiệu quả công nghệ thông
tin trong dạy học
3.3.3. Biện pháp 3: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao cho giáo viên của
các khoa, bộ môn về kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản và sử dụng một số
phần mềm dạy học
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BGH
Ban giám hiệu
CBQL
Cán bộ quản lý
CBGV
Cán bộ giáo viên
CSVC
Cơ sở vật chất
CSVCTH/CSVCSP
Cơ sở vật chất trường học/Cơ sở vật chất sư
phạm
CNTT
Công nghệ thông tin
ĐPT
Đa phương tiện
DH
Dạy học
GD
Giáo dục
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GV
Giáo viên
GADHTC
Trong kỳ họp của Bộ chính trị đã có kết luận số 242-TB/TW ngày 15
tháng 4 năm 2010 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 trong phần Tiếp
tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục
có nêu: “Đổi mới, hiện đại hóa chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề
nghiệp, chuyển mạnh mẽ từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu;
tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một
chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời
gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên;
gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu
khoa học, sản xuất và đời sống”.
Theo điều 7 khoản 2 của luật dạy nghề năm 2006 : “ Đầu tư có trọng tâm
trọng điểm để đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy nghề , phát
triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hóa thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học
nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, tập trung xây dựng một số cơ sở dạy
nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới ”
Úng dụng CNTT trong dạy học là hết sức cần thiết. Trong những năm
qua ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và
Nông lâm Phú Thọ đã được quan tâm nhưng chưa được đầu tư thỏa đáng.
Tính đến năm học 2010 – 2011, Trường đã được trang bị các phòng máy vi
tính cho học sinh và được trang bị máy chiếu đa năng cho giáo viên sử dụng trong giảng dạy. Nhưng hiệu qủa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn
rất thấp. Nguyên nhân do Giáo viên chưa nhận thức được hết vai trò và ý
nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, chưa đủ kiến thức, kỹ năng tin
học cơ bản; Một số CBQL hạn chế về trình độ tin học, chưa có khả năng định
hướng cho Giáo viên nhận thức đúng về bản chất của GADHTC có ứng dụng
CNTT và GADHTC điện tử dạy học. Phòng máy tính của trường mới sử
dụng để dạy tin học, còn mạng máy tính, các phần mềm dạy học để tạo môi
đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ còn nhiều bất cập .
Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng được một số biện pháp quản lý ứng
dụng CNTT trong dạy học phù hợp với thực tiễn thì sẽ nâng cao được chất
lượng và hiệu quả đào tạo ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm
Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở
các trường cao đẳng nghề.
- Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng
dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm
Phú Thọ.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở
trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện
nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu luật giáo dục, luật dạy nghề các văn kiện của Đảng và
Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục & đào tạo và định hướng phát
triển việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
- Nghiên cứu các văn bản của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Lao động
Thương binh & Xã hội, Tổng cục dạy nghề có liên quan đến TBDH, ứng
dụng CNTT trong dạy học.
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. 7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thông qua các phiếu trưng cầu ý
kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, CBGV và HS để thu thập
thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở Trường.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh
1.1.1. Ngoài nước
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc
ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore, Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua
rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT
vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.
Tại Mỹ và các nước Châu Âu đã có những nghiên cứu về quản lý ứng
dụng CNTT trong dạy học, nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp
của Chính phủ ngay từ cuối những thập niên 90.
Một số quốc gia ở Châu Á đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát
triển đã có những biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục như:
Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia
quy định ba nhiệm vụ:
- Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt
động của Chính phủ.
- Hai là, dạy tin học ở trường phổ thông; Ứng dụng CNTT trong dạy
học; Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học; Ứng dụng CNTT trong quản lý
trường học.
- Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore.
Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó.
Năm 1989 tại Philippin chiến lược phát triểnCNTT Quốc gia đã được
công bố. Bản chiến lược xác định: CNTT phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất
nước, dạy và học tin học, ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học.
Năm 1980 kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan đã được công bố. Kế hoạch này đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT ở trong nước và
những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, ứng dụng CNTT
trong các ban ngành xã hội. Đặc biệt là ứng dụng CNTT trong giáo dục, tiếp
Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động
dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Gần đây các hội
nghị, hội thảo hay trong các đề tài khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập
nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và nâng cao chất
lượng dạy học:
- Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo” tại ĐHQG Hà Nội năm
2000.
- Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về “Nghiên cứu phát triển và
ứng dụng CNTT” tháng 2/2003.
- Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện
Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại
học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa
học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
- Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT “ Các giải pháp công nghệ và
quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” Trường
ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006
tại Trường ĐHSP Hà Nội. Những cuộc hội thảo này đều tập trung bàn về vai
trò của CNTT đối với giáo dục và các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh việc
ứng dụng CNTT vào dạy học. Nội dung cụ thể bao gồm:
+ Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học (phổ thông, đại
học.
+ Các giải pháp, quản lý phát triển ứng dụng CNTT trong đổi mới
phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô hình tổ
chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử, .
+ Các kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: xây dựng
và sử dụng phần mềm dạy học, kho tư liệu điện tử - Hội thảo “Ứng dụng CNTT trong giảng dạy ” ngày 12 tháng 01 năm
2011 dành cho cán bộ quản lý của các trường Trung cấp chuyên nghiệp do
dụng CNTT từ trước đến nay, đều khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong
dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong
dạy học. Thực tế việc đưa CNTT vào hoạt động dạy học còn tồn tại nhiều vấn đề
cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Trình độ tin học cơ bản của đội ngũ giáo
viên còn hạn chế và gặp nhiều lúng túng khi thiết kế GADHTC có ứng dụng
CNTT. Cho đến nay, ở các trường Cao đẳng nghề nói chung và Trường Cao
Đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Phú Thọ nói riêng đã áp dụng rất nhiều
biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhưng chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học. Việc nghiên
cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học để nâng cao
chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm
Phú Thọ đang là cần thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm:
Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa
trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định nghĩa về
“Quản lý ”:
Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “ Quản
lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Trong
học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một
nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm
tra.
Theo F.W.Tay Lor (Nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học
thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có
sự nỗ lực của người khác. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích
của con người. Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:
Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
1.2.1.2. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của
chủ thể đến đối tượng quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần
được thực hiện trong quá trình quản lý. Nhìn chung các tác giả khác nhau đều
thống nhất nêu lên các chức chức năng quản lý như sau:
- Chức năng kế hoạch
Chức năng kế hoạch hóa là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định
các bước đi để đạt được mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ
chức và các con đường, các biện pháp cách thức để đạt tới mục tiêu. Để vạch
ra được mục tiêu và xác định được các bước đi cần có khả năng dự báo, tức là
đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng lường trước sự phát triển của các sự vật
(của bộ máy). Những nội dung chủ yếu của kế hoạch là:
- Xác định , hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn , có tính cam kết) về các nguồn
lực của tổ chức để đạt được mục tiêu.
Quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
Như vậy, có thể hiểu, chức năng kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt
động quản lý vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp
thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức. - Chức năng tổ chức
Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý
tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực. Tổ chức là quá trình hình thành
nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ
là nhờ có thông tin. Thông tin vừa là điều kiện, vừa là phương tiện tổng hợp
các chức năng trên.
Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý
Nhìn về hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng
kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Song, trong thực tế
các chức năng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện. Sự liên kết
giữa chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý.
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là
một loại hình của quản lý xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý
giáo dục:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII
cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách
Thông tin
Chi đạo
Kiểm tra
Tổ chức
Kế hoạch
THÔNG TIN
quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”.[15,tr. 65 ]
Như vậy, quản lý giáo dục về thực chất là quản lý nhà trường và quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác
Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên qui mô toàn
xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục
quốc dân.
Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ
thống giáo dục quốc dân. Do đó, quản lý nhà trường là quản lý thiết chế của
hệ thống giáo dục, đó chính là quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô, cấp độ một
đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân.
Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục
khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo trong nhà trường.
Theo điều 48 luật giáo dục 2005 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của
nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”.[25,tr.42]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và
các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo
dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[31, tr.205]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp
những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ
khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
năng này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động dạy đối với sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người vì cơ chế di truyền và cơ chế di sản xã hội là
hai giá đỡ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động học có chức năng tái tạo các giá trị của xã hội loài người
trong mỗi cá nhân. Nó thực hiện chức năng di sản xã hội ở người. Trong khi
hoạt động, người học tiếp thu những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài
người, tạo ra năng lực hoạt động để có thể tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát
triển. Chính vì vậy, để hoạt động học có hiệu quả, người học phải tích cực
tham gia các phương thức hoạt động (như nhận thức, xã hội, văn hoá, liên
nhân cách), tiếp cận đối tượng học (nội dung tài liệu học) và chuyển hoá
chúng từ cái khách quan thành các giá trị chủ quan trong bản thân người học.
Người học không học được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng
hoạt động. Không có hoạt động thì trí tuệ không thể phát triển tốt được. Trí
tuệ có bản chất hoạt động. Trí tuệ được hình thành dần trong mỗi hoạt động
của cá nhân.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà
trường nào, dưới góc độ của giáo dục học. Dạy học là một quá trình toàn vẹn
có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động
học.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau
thống nhất và biện chứng cho nhau tạo thành hoạt động chung. Dạy điều
khiển học, học tuân thủ dạy. Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học
phải thông minh, có phương pháp sáng tạo.
1.2.3.2.Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học, chính là quản lý cách thức làm việc của
thầy và trò trong việc chuyển tải nội dung dạy học.Việc quản lý ở đây không
chỉ là quản lý việc sử dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy – học tập, để
nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo mà phải thường xuyên tổng kết, đánh giá
học sinh đáp ứng được mục tiêu giáo dục.
Như vậy quản lý hoạt động học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (học sinh).