0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THANH NAM BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Nguời hướng dẫn khoa học: TS. TRỊNH NGỌC THẠCH
7
1.2.1. Giảng viên, Đội ngũ giảng viên
7
1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực
8
1.2.3. Phát triển đội ngũ giảng viên
19
1.2.4. Các mô hình và phương pháp quản lý đội ngũ giảng viên
22
1.3. Vị trí, vai trò của đội ngũ giảng viên
26
1.3.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên
26
1.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của giảng viên
27
1.3.3. Tiêu chuẩn giảng viên
29
1.4. Những yêu cầu cơ bản về đội ngũ giảng viên của trường cao đẳng
29
1.4.1. Số lượng đội ngũ giảng viên
29
1.4.2. Chất lượng đội ngũ giảng viên
29
1.4.3. Cơ cấu đội ngũ giảng viên
31
1.5. Những nội dung cơ bản của quản lý đội ngũ giảng viên
33
1.5.1. Quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên
33
1.5.2. Tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giảng viên
Trung ương
46
2.2.1. Về số lượng đội ngũ giảng viên
46
2.2.2. Về chất lượng đội ngũ giảng viên
48
2.2.3. Cơ cấu đội ngũ giảng viên
52
2.2.4. Nhận định chung về thực trạng đội ngũ giảng viên
55
2.3. Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương
56
2.3.1. Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên
56
2.3.2. Công tác tuyển dụng và sử dụng đội ngũ giảng viên
58
2.3.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
61
2.3.4. Công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên
63
2.3.5. Các chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên và thu hút giảng viên
giỏi có trình độ cao
64
2.4. Đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao Kinh
tế - Kỹ thuật trung ương
70
3.2.2. Quy hoạch đội ngũ giảng viên phù hợp với yêu cầu phát triển nhà trường
71
7
3.2.3. Thực hiện công tác tuyển dụng và sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên
73
3.2.4. Đẩy mạnh hoạt động đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên,
khuyến khích tự bồi dưỡng, xây dựng giảng viên đầu đàn
75
3.2.5. Tăng cường kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên
80
3.2.6. Tạo môi trường làm việc và động lực để giảng viên có thể phát huy được
năng lực, sở trường của mình trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
82
3.2.7. Tiếp tục xây dựng, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác của các cấp
quản lý trong trường
84
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp
87
3.5. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương
88
Tiểu kết chương 3
90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
CNH - HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐNGV
Đội ngũ giảng viên
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
HSSV
Học sinh sinh viên
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
LMHTX
Liên minh Hợp tác xã
NCKH
Nghiên cứu khoa học
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp.
Bảng 2.11. Phân loại độ tuổi của đội ngũ giảng viên
53
Bảng 2.12. Phân loại thâm niên công tác của đội ngũ giảng viên
53
Bảng 2.13. Phân loại giới tính của đội ngũ giảng viên
54
Bảng 2.14. Kết quả điều tra về thực trạng việc xây dựng quy hoạch ĐNGV
Trường CĐKT - KT Trung ương
56
Bảng 2.15. Kết quả điều tra về thực trạng công tác tuyển dụng ĐNGV
Trường CĐKT - KT Trung ương
58
Bảng 2.16. Kết quả điều tra về thực trạng công tác bố trí, sử dụng ĐNGV
Trường CĐKT - KT Trung ương
59
Bảng 2.17. Kết quả diều tra về thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng
ĐNGV Trường CĐKT - KT Trung ương
61
Bảng 2.18. Kết quả điều tra về thực trạng công tác kiểm tra đánh giá
ĐNGV Trường CĐKT - KT Trung ương
63
Bảng 2.19. Kết quả điều tra về thực trạng việc thực hiện chế độ, chính sách
đãi ngộ đối với ĐNGV
64
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI, nền kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Các nước trên thế giới đều xem giáo dục là nhân tố quyết
định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm của các nước
phát triển cho thấy, mọi sự tiến bộ và phát triển của xã hội đều gắn với giáo dục.
Cuộc chạy đua trong sự phát triển hiện nay giữa các nước, xét cho cùng là cuộc
chạy đua về nhân tố con người - chạy đua về giáo dục.
Những năm qua nền giáo dục nước ta đã góp phần quan trọng trong việc
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ đắc lực cho
công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, nhưng so với yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và xu thế hội nhập thế giới thì nền giáo dục nước nhà còn
nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của xã hội.
Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi
giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, coi con
người là vốn quý nhất, đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, lấy việc phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững đất
nước. Sự nghiệp phát triển giáo dục đã trở thành nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của
nhiều quốc gia.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII khẳng
định: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh
giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững”. Chỉ thị 40/CT - TW ngày 15/6/2004, Ban Bí thư Trung ương
tạo. Công tác quản lý ĐNGV mặc dù đã được chú trọng nhưng vẫn còn hạn chế so
với yêu cầu phát triển của nhà trường, số lượng ĐNGV còn thiếu, hạn chế về năng
lực, cơ cấu chưa đồng, kế hoạch, nội dung, phương pháp quản lý còn bất cập, tính
hệ thống chưa cao.
Mặc dù nghiên cứu vấn đề quản lý ĐNGV trong nhà trường không phải là
mới, đã được nhiều tác giả làm công tác giáo dục đã đề cập, nhưng trong từng giai
đoạn với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các cơ sở đào tạo, việc vận dụng lý
luận và các biện pháp quản lý có khác nhau. Do vậy, việc tìm ra các biện pháp quản
lý ĐNGV trường CĐKT – KT Trung ương khoa học và thích hợp nhằm nâng cao
chất lượng ĐNGV của nhà trường là rất quan trọng và cấp thiết.
10
Với những lý do trên nên tôi chọn đề tài: "Biện pháp quản lý đội ngũ giảng
viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý ĐNGV trường CĐKT – KT Trung ương đáp
ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu: ĐNGV Trường CĐKT – KT Trung ương
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý ĐNGV Trường CĐKT – KT Trung ương
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Về không gian: Trường CĐKT – KT Trung ương
4.2. Về thời gian: Từ năm 2008 đến nay
4.3. Về nội dung: Công tác quản lý ĐNGV trường CĐKT – KT Trung ương
5. Vấn đề nghiên cứu
Thực trạng số lượng và chất lượng ĐNGV trường CĐKT – KT Trung ương
như thế nào?
Biện pháp nào để quản lý ĐNGV trường CĐKT – KT Trung ương nhằm đáp
ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay?
6. Giả thuyết nghiên cứu
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, khởi đầu của vấn đề quản trị con người trong các tổ chức là
quản trị nhân sự với việc chú trọng đơn thuần lên các vấn đề quản trị hành chính
nhân viên. Phòng nhân sự thường có vai trò mờ nhạt, chỉ thụ động giải quyết các
vấn đề mang tính chất hành chính, sự vụ theo các qui định của doanh nghiệp hoặc
theo yêu cầu của các lãnh đạo. Trong thế kỷ này, quản trị con người trong phạm vi
của các tổ chức, doanh nghiệp đã áp dụng ba cách tiếp cận chủ yếu: Quản trị trên cơ
sở khoa học, quản trị theo các mối quan hệ con người và quản trị nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, hai cách tiếp cận đầu là quản trị theo khoa học và quản trị theo các mối
quan hệ con người đều đã phai nhạt, ngày nay chỉ còn cách tiếp cận quản trị nguồn
nhân lực là được sử dụng rộng rãi.[15, tr. 12]
Vào cuối thế kỷ XIX, phong trào quản trị trên cơ sở khoa học do Taylor
(1856-1915) khởi xướng, được nhiều nhà khoa học khác nồng nhiệt kế tục, tích cực
phát triển như Gilbreth, Gantt,v.v Phương pháp quản trị trên cơ sở khoa học được
về khái niệm quản lý, các thành phần của cấu trúc quản lý, chức năng quản lý,
nguyên tắc quản lý, nghệ thuật quản lý và quản lý giáo dục tạo thành một môn khoa
học đặc trưng góp phần vào công cuộc phát triển GD&ĐT nước nhà.
Ngày nay, đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia thì GD&ĐT
luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể nói, đầu tư cho giáo dục là đầu tư để tạo
nguồn dự trữ chiến lược quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư cho con người, đầu tư cho khả năng sáng tạo của họ. Trong tiến trình phát
triển và hội nhập đã cho thấy rõ, nước nào đặt giáo dục đúng vị trí thì sự hội tụ của
trí tuệ do giáo dục đem lại sẽ nâng tầm kinh tế của nước đó lên tầm cao mới, quốc
gia nào đầu tư kém cho giáo dục thì sẽ tụt hậu và sẽ còn tồi tệ hơn cả sự phá sản.
Xã hội vận động và biến đổi không ngừng, nguồn nhân lực được đào tạo chỉ
đáp ứng được yêu cầu trong sự vận động biến đổi ấy, khi nó không lạc hậu so với
yêu cầu của xã hội, điều ấy chỉ ra rằng trong nhà trường phát triển ĐNGV phải có
tính đón đầu, kế hoạch, có chiến lược, mục đích là: Phát triển toàn diện người giáo
viên trong hoạt động nghề nghiệp của họ “Những thiếu xót trong khâu đào tạo
nghiệp vụ, các nhu cầu cập nhật, các kỹ năng cần thiết, không phải là nguyên do căn
bản đến phát triển đội ngũ giáo viên, cũng như việc bồi dưỡng mang tính chữa cháy,
14
lại càng không thể đóng vị trí chủ chốt trong công tác phát triển đội ngũ ” [6, tr. 4].
Trong các nhà trường ĐNGV là nguồn nhân lực chủ yếu quyết định chất lượng và
hiệu quả đào tạo, quyết định sự tồn tại, phát triển nhà trường. Chăm lo phát triển
ĐNGV đã và đang là sự quan tâm của toàn xã hội, là nhiệm vụ trọng tâm của ngành
giáo dục, do vậy quản lý ĐNGV phải được ưu tiên trong chiến lược phát triển nhà
trường trong giai đoạn mới.
Những năm gần đây, nhiều Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục đã đề cập đến
vấn đề quản lý, xây dựng, phát triển ĐNGV như: Lưu Trọng Hưng “Quản lý đội
ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghệ Thành Đô trong bối cảnh mới” –
Năm 2009; Lê Việt Dương “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung
học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay” – năm
Thông qua các hoạt động giảng dạy - giáo dục, nghiên cứu khoa học, lao động
sản xuất và các hoạt động xã hội khác, ĐNGV trong trường hàng ngày đang thực hiện
mục tiêu chiến lược phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo; là đội ngũ có vai trò chủ
đạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
và được xã hội tôn vinh. Lao động của họ hướng trực tiếp vào đào tạo con người đáp ứng
nhu cầu của xã hội.
1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực
1.2.2.1. Quản lý
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý đựơc
định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. [14, tr. 326]
Nghiên cứu về quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này
phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản
các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung, phương
thức và mục đích của quá trình quản lý. Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và
giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Trong khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. [14, tr. 326]
Theo C.Mac: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. C.Mac đã coi việc
xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá
biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội đựơc phối hợp lại. C.Mac
đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô
khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
16
nhân…Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có
nhạc trưởng”. [14, tr. 326]
Nhà triết học V.G. Afanatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là
nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng
sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó; là phát hiện và giải
quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì sự thống nhất giữa chức
năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự
bất mãn cá nhân ít nhất”.
Henry Faylol (1841- 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt
động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản
của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nghiên cứu của ông đã khẳng
định rằng khi con người lao động hiệp tác thì điều quan trọng là họ cần phải xác
định rõ công việc mà họ cần phải hoàn thành. Theo nghiên cứu của mình ông đã
đưa ra 14 nguyên tắc trong quản lý là: phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật,
thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi
chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng,
ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội…Những cống hiến của ông về lý
luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị
khoa học và thực tiễn.
Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: Quản lý
là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn
lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt
được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Có thể khái quát hoạt động quản lý
bởi sơ đồ sau:
18
lý
19
- Chức năng tổ chức: một tổ chức tốt có ý nghĩa quyết định để thực hiện mục
tiêu. Xét về chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc của các
mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa các thành viên với
nhau, giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức…nhằm làm cho họ thực hiện thành
công kế hoạch và mục tiêu đã đề ra. Nhờ có công tác tổ chức, người quản lý có thể
phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực, vật lực. Thành tựu của một tổ chức, sức
mạnh của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tổ chức của người quản lý.
- Chức năng chỉ đạo: chỉ đạo là lãnh đạo và điều hành, thực chất là hoạt động
dắt dẫn, điều khiển của người quản lý đối với các hoạt động và các thành viên của
tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý. Hoạt động chỉ đạo nảy sinh từ khi thai nghén
mục tiêu, đến quá trình thành lập, tổ chức nhân sự, kiểm tra và đánh giá kết quả. Chỉ
đạo là hoạt động thường xuyên, mang tính kế thừa, sáng tạo và phát triển.
- Chức năng kiểm tra: là chức năng không thể thiếu được của quá trình quản
lý. Kiểm tra bao gồm: xem xét, thu thập thông tin, nhận xét, đối chiếu, đánh giá kết
quả của quá trình quản lý, đánh giá việc thực hiện mục tiêu quản lý, từ đó đưa ra
quyết định uốn nắn, điều chỉnh, bổ xung…nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Ngoài bốn chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan
trọng trong quản lý. Thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có
thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mơ hồ, mắc sai phạm. Nhờ có thông tin
mà có sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có
biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả. Mối quan hệ của các chức năng quản lý được
thể hiện qua sơ đồ sau:
thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá
trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ
sau. Cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào, các hoạt động giáo dục cần đựơc tổ
chức và quản lý với nhiều cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học…)
nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu giáo dục phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của các thể chế chính trị - xã hội ở các quốc gia.
Với cách hiểu này P.V Khuđôminxky cho rằng: “QLGD là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến
tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD & ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc
giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài
hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục, của sự phát
triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về
giáo dục, của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học
và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”. [14, tr.341]
21
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và
hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của
toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ
trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực
trẻ em. (Trần Kiểm, Quản lý giáo dục nhà trường, viện KHGD, Hà Nội, 1997).
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật
của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà
tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất (Nguyễn Ngọc Quang).
1.2.2.3. Quản lý nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của môn
khoa học quản lý tổ chức; môn quản trị học. Từ góc độ quản lý học, nguồn nhân lực
đạo có tính quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực là GD&ĐT.
* Nguồn nhân lực trong các trường đại học và cao đẳng
Nguồn nhân lực trong trường đại học và cao đẳng là Tập thể sư phạm nhà
trường bao gồm: cán bộ quản lý, ĐNGV, nhân viên phục vụ….Trong đó ĐNGV giữ
vai trò nòng cốt.
- Tập thể sư phạm nhà trường là một loại hình nhóm cơ sở đặc thù, đứng đầu
là người Hiệu trưởng, tập hợp, liên kết các thành viên: giảng viên, cán bộ, nhân viên
nhà trường thành một cộng đồng người có tổ chức, có mối quan hệ phụ thuộc và
trách nhiệm lẫn nhau, có tính độc lập nhất định, có hoạt động sư phạm đặc thù và
thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu GD&ĐT.
- Tập thể sư phạm chân chính là môi trường sống và phát triển, hoàn thành
và hoàn thiện nhân cách của mỗi thành viên của tập thể: thông qua hoạt động, Tập
thể sư phạm tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần, nhân văn, thẩm mỹ và những sản
phẩm vật chất đa dạng, phong phú, tạo ra sức mạnh riêng, vẻ đẹp đặc trưng cho
trường học.
- ĐNGV là tập thể các nhà sư phạm được đào tạo để thực hiện chức năng
giảng dạy và giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục chuyên biệt khác.
Lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của trường đại học,
cao đẳng là đội ngũ thầy giáo với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu
sắc về bản chất của quá trình đào tạo trong nhà trường, là nhân vật trung tâm trong
23
nhà trường quyết định chất lượng và hiệu quả GD&ĐT góp phần xây dựng và hình
thành nhân cách nhà chuyên môn có trình độ cao theo mục tiêu đào tạo bằng giảng
dạy, giáo dục và tổ chức cuộc sống cho sinh viên.
- Thầy, cô giáo của trường đại học và cao đẳng vừa là nhà khoa học, vừa
là nhà giáo dục. Sự sáng tạo sư phạm gắn liền với sự sáng tạo khoa học của
người giáo viên.
Đầu tư cho nguồn nhân lực - tập thể sư phạm mà nòng cốt là ĐNGV trong
nhà trường đại học và cao đẳng là tạo ra điều kiện cốt yếu, cần thiết cho việc nâng
nguồn nhân lực, tuyển mộ, chọn lựa, xã hội hóa (hay định hướng), huấn luyện và
phát triển, thẩm định kết quả, đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải. Trong quá
trình trên việc kế hoạch hóa được đưa lên đầu tiên thể hiện tầm quan trọng của hoạt
động này.
- Kế hoạch hóa nguồn nhân lực nhằm đảm bảo nhu cầu nhân sự luôn được
đáp ứng một cách thích đáng. Kế hoạch hóa nguồn nhân lực được thực hiện thông
qua việc phân tích các nhân tố bên trong như các kỹ năng hiện có và sẽ cần đến, các
chỗ làm khuyết và sự mở rộng hay thu gọn các đơn vị; các nhân tố bên ngoài như
thị trường lao động, nhu cầu xã hội.
- Tuyển mộ là việc lập danh sách – chính xác hơn là chuẩn bị một nhóm
nhân sự - các viên tương ứng với kế hoạch nguồn nhân lực. Có thể tìm thấy hoặc
thông qua quảng cáo trên báo chí, các cơ quan xúc tiến việc làm, các lời giới thiệu,
các cuộc thăm viếng các cơ sở đào tạo…
- Chọn lựa là giai đoạn được tiến hành bằng cách xem xét các đơn xin việc,
các bản lý lịch, các cuộc phỏng vấn hoặc các trắc nghiệm kỹ năng. Bên cạnh đó có
thể kiểm tra các bản tham chiếu khác để đánh giá và thẩm định công việc của ứng
viên do những người quản lý trực tiếp điều hành. Những người quản lý đó sẽ lựa
chọn cuối cúng và sử dụng nhân lực được lựa chọn.
- Xã hội hóa/hay định hướng là quá trình giúp những thành viên được tuyển
chọn nhanh chóng thích nghi, hòa nhập và làm quen với tổ chức. Người mới đến
được giới thiệu với các đồng nghiệp, làm quen với những nghĩa vụ và trách nhiệm,
được thông báo về mục đích, chính sách của tổ chức và hành vi đáng được mong
đợi từ những thành viên. Hoạt động này rất quan trọng đối với một thành viên mới
khi gia nhập và làm quen với “văn hóa tổ chức”.
25
- Huấn luyện và phát triển là hoạt động nhằm nâng cao năng lực, khả năng
cống hiến của mỗi thành viên cho kết quả của tổ chức. Việc huấn luyện là nhằm
nâng cao, cải thiện kỹ năng đối với những công việc đang thực hiện, còn chương
trình phát triển nhằm chuẩn bị cho việc đề bạt hay bổ nhiệm các vị trí quan trọng