Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập Mikhain Vaxilêvich Lômônôxốp, huyện Từ Liêm, Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
VÕ THỊ MAI HIỀN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG DÂN LẬP MIKHAIN VAXILÊVICH
LÔMÔNÔXỐP, HUYỆN TỪ LIÊM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2008 Bộ GD - ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
CBQL
Cán bộ quản lý

Cao đẳng
DN
Dạy nghề
ĐH
Đại học
ĐHQGHN
Đại học quốc gia Hà Nội
ĐHSPHN
Đại học Sư phạm Hà Nội
HS
Học sinh
KTTH-HN
Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP
Thành phố
UBND
ủy ban nhân dân

4
8.
Điểm mới của đề tài
5
9.
Cấu trúc luận văn
5
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
6
1.1.
Một số khái niệm công cụ
6
1.1.1.
Hướng nghiệp
6
1.1.2.
Giáo dục hướng nghiệp
8
1.1.3.
Biện pháp
14
1.1.4.
Quản lý
14
1.1.5.
Quản lý nhà trường
18
1.1.6.
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

25

Kết luận chương 1
27
Chương 2: thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập lômônôxốp
28
2.1.
Vài nét về trường THPT dân lập Lômônôxốp huyện Từ
Liêm, Hà Nội
28
2.1.1.
Quá trình hình thành và phát triển trường
28
2.1.2.
Nhiệm vụ đào tạo
28
2.1.3.
Thành tích đào tạo
29
2.1.4.
Những vấn đề khó khăn
29
2.1.5.
Kế hoạch những năm tới
29
2.2.
Nhận thức của học sinh, cán bộ giáo viên và phụ huynh học
sinh trong nhà trường về giáo dục hướng nghiệp
30

Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trường trong những năm vừa qua
48
2.5.1.
Các kết quả đạt được
48
2.5.2.
Những mặt còn yếu
49

Kết luận chương 2
49
Chương3: biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông dân lập mikhain
vaxilêvich lômônôxốp, huyện từ liêm, hà nội
50
3.1.
Những nguyên tắc cơ bản của quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp
50
3.1.1.
Nguyên tắc tập trung dân chủ
50
3.1.2.
Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích
50
3.1.3.
Nguyên tắc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý
50
3.2

Biện pháp 3: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ dạy hướng nghiệp cho cán bộ quản lý và giáo viên của
nhà trường
62
3.3.4.
Biện pháp 4: Tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra và quản lý
nhà nước đối với trường Trung học phổ thông về công tác
giáo dục hướng nghiệp
64
3.3.5.
Biện pháp 5: Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp
65
3.3.6.
Biện pháp 6: Tăng cường cơ sở vật chất
67
3.4.
Khảo nghiệm một số biện pháp
68
3.4.1
Nội dung phiếu hỏi ý kiến
68
3.4.2.
Đối tượng được hỏi ý kiến
69

Kết luận chương 3
72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
73
1.

chưa giúp cho học sinh có những hiểu biết nhất định về các ngành, nghề chủ
yếu, nghề cơ bản của đất nước, nhất là nghề truyền thống và phổ biến ở địa
phương, đồng thời chưa tạo cho thế hệ trẻ năng lực và phẩm chất cần thiết để
có thể tham gia lao động ngay khi ra trường.
Từ thực tế đó công tác hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ
thông hiện nay đang là một vấn đề bức xúc của cả xã hội, nó chiếm một vị trí
quan trọng trong việc phân công lao động xã hội, trong phát triển nguồn nhân
lực của cả nước. Giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối
với xã hội mà nó còn ảnh hưởng đến từng cá nhân, từng gia đình. Chính vì
vậy Đảng ta đã xác định: “Cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa giáo dục
hướng nghiệp, mở rộng và phát triển các trường dạy nghề…” Trong báo cáo 2
Chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Ở mọi cấp học, bậc
học, kết hợp dạy và học lý thuyết với thực nghiệm và thực hành, gắn công tác
đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất Nhà trường và cơ sở đào tạo
phối hợp với các tổ chức khoa học và các cán bộ kỹ thuật để truyền bá tri
thức sản xuất, chuyển giao công nghệ mới cho nhân dân. Coi trọng công tác
hướng nghiệp và phân luồng cho học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh,
thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương. Nhanh chóng hiện đại hóa một số
trường dạy nghề, tăng tỷ lệ đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, khuyến
khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề, dân lập, tư thục trang bị cho
thanh niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu
công nghệ mới, để tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập
nghiệp”.
Khi cả nước đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cả thế
giới đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức, sự chuyên môn hóa trong sản
xuất ngày càng ở trình độ cao thì rất cần nguồn lao động có trình độ, có

dục hướng nghiệp, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông ở huyện Từ Liêm, đề xuất
những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường
THPT, trong đó có trường THPT Dân lập Lômônôxốp
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường Trung
học phổ thông
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường
Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp ở huyện Từ Liêm, Hà Nội
4. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Nghiên cứu quản lý hoạt động Giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trong trường Trung học phổ thông.
- Giới hạn đối tượng khảo sát: 4
+ Nghiên cứu trên 300 học sinh ở 3 khối 10, 11, 12 trong trường Trung
học phổ thông Dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm
+ 45 giáo viên, cán bộ quản lý của trường và TTKTTH-HN số 5.
+ 20 cha mẹ học sinh của trường.
- Giới hạn thời gian: Nghiên cứu trong 3 năm học 2004-2007
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông nói chung
- Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh ở trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp, huyện Từ
Liêm.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

biệt học sinh Trung học phổ thông dân lập. Trên cơ sở đó đề xuất những biện
pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp trong hoàn cảnh hiện nay.
- Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Dân lập Lômônôxốp,
tìm nguyên nhân hạn chế quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học
sinh Trung học phổ thông
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh trường Trung học phổ thông dân lập Lômônôxốp huyện Từ Liêm
Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông dân lập Lômônôxốp trong
giai đoạn hiện nay
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Hướng nghiệp
Với ý nghĩa là định hướng nghề nghiệp, có nhiều cách hiểu khác nhau
với tiêu chí, mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau về khái niệm
hướng nghiệp:
Theo từ điển Tiếng Việt, Hướng nghiệp được hiểu là “thi hành những

nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước. hướng
nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động
xã hội.
Theo các nhà Giáo dục học: “hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy học
của giáo viên, vừa là hoạt động của học sinh và kết quả cuối cùng của quá
trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề
nghiệp tương lai”.
Xét về mặt xã hội, hướng nghiệp được hiểu trong phạm vi rộng hơn,
không phải là công việc chỉ làm một lần trong cuộc đời mỗi con người, đó là
hoạt động có tính lặp lại: xuất phát từ việc định hướng để lựa chọn một nghề,
thích ứng với nghề đó và kết quả là sự phù hợp trong quá trình hành nghề.
Tuy nhiên, do tác động của xã hội cũng như nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi cá
nhân, mỗi con người đều có thể và cần phải thực hiện lại việc hướng nghiệp
cho bản thân trước mỗi bước ngoặt trong cuộc đời nghề nghiệp của mình.
Các nhà Luật gia thì hiểu hướng nghiệp là: “các phương tiện y học,
giáo dục và tổ chức pháp quyền nhằm xác định cho mỗi công dân có nghề và
nơi làm việc. Nội dung vạch rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn nghề, hình
thành tổ chức và hình thành công tác giáo dục hướng nghiệp, thể chế hóa quá
trình hướng nghiệp”
Qua hàng loạt định nghĩa được tham khảo chúng tôi hiểu: Hướng
nghiệp là toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một 8
nghề hay một số nghề nhất định nhằm đảm bảo được sự phù hợp giữa khả
năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội.
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế
giới nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực trong thế giới đó và có
được cuộc sống thoải mái với lao động nghề nghiệp. Từ đó chúng ta có thể
hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một quá trình kéo dài trong suốt cuộc
đời con người, bao gồm:
(1) Đối với thế hệ trẻ (Thanh thiếu niên còn đang ngồi trên ghế nhà
trường): Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà
trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý,
tri thức, kỹ năng để học sinh có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động
sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong nhà trường, công tác
hướng nghiệp cho HS còn là quá trình giáo dục nhằm điều chỉnh động cơ,
hứng thú nghề nghiệp của các em nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân
với xã hội, giữa cá nhân với nghề, giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý
thức để đạt tới mục tiêu: giúp cho học sinh khi tốt nghiệp chọn được nghề
phù hợp với năng lực trình độ cá nhân và phù hợp với xu thế phát triển kinh
tế – xã hội. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông không chỉ giúp
các em làm quen với lao động nghề nghiệp, mà qua đó còn phát hiện năng
khiếu và tìm hiểu khuynh hướng nghề nghiệp của từng em; hướng dẫn, bồi
dưỡng khả năng nghề nghiệp cho các em chuẩn bị vào đời.
(2) Đối với những người đang tham gia các hoạt động lao động sản
xuất: Giáo dục hướng nghiệp là quá trình điều chỉnh sự phù hợp nghề của
người đó đối với công việc mà họ đang làm. Hoạt động hướng nghiệp sẽ giúp
cho người lao động biết được những phẩm chất, đặc điểm tâm lý và sinh lý
của họ có đáp ứng với những yêu cầu cụ thể mà nghề đó đòi hỏi ở người lao
động hay không. Trong quá trình học tập, lao động và phát triển, mỗi người
đều có những biến đổi về lượng và về chất trong những yếu tố phẩm chất,
năng lực; chính vì vậy, việc di chuyển nghề để tìm đến một công việc phù 10
hợp, một cách thức làm việc đạt được hiệu quả cao hơn là hoàn toàn có thể
diễn ra trong suốt cuộc đời lao động của mỗi con người. Thông qua học tập
để nâng cao kiến thức văn hóa phổ thông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

động Giáo dục hướng nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Củng cố những kiến thức văn hóa phổ thông đã được trang bị.
+ Có những hiểu biết nhất định về thế giới nghề nghiệp
+ Có những kiến thức kĩ thuật tổng hợp, biết vận dụng những nguyên lý,
kiến thức văn hóa phổ thông vào việc giải thích các vấn đề kỹ thuật, sự phát
triển của tự nhiên, xã hội.
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo quan điểm phát triển nguồn
nhân lực phải cung cấp cho học sinh được những kiến thức nền tảng mà mỗi
người lao động trong tương lai cần phải có, làm cơ sở để họ có thể tiếp tục
con đường học vấn ngay chính trong quá trình tham gia lao động sản xuất,
theo quan điểm học tập thường xuyên, suốt đời của UNESCO. Vì vậy, kiến
thức trang bị cho các em phải có tính mở, phải giúp cho các emcó được quy
trình khám phá kiến thức, khám phá thế giới nghề nghiệp. Bên cạnh đó, sự
phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ, thế giới nghề nghiệp trong
một không gian thế giới “phẳng” sẽ bắt buộc mỗi người đều phải tự học, tự
tìm hiểu. Giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay là phải trang bị cho
các em kiến thức tự học, tự tìm hiểu. Chẳng hạn: cần phải cung cấp cho các
em biết cấu trúc của một nghề thành thạo, cho học sinh làm quen với một số
bảng mô tả nghề (họa đồ nghề) trên cơ sở đó, các em có thể vận dụng vào tìm
hiểu các nghề khác trong thế giới nghề nghiệp một cách đầy đủ, khoa học.
Khi đã có được các khung, các quy trình của các vấn đề có liên quan đến
việc trang bị kiến thức, cần phải trang bị cho các em cách thức để có được
thông tin và định hướng việc thu thập thông tin cho phù hợp với mục đích
cần sử dụng. Các nguồn trí thức hiện nay là vô cùng lớn, vì vậy, việc chọn
lọc thông tin cũng rất quan trọng trong quá trình cung cấp kiến thức cho học
sinh.
-Về kĩ năng: Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển nguồn
nhân lực phải tạo cho học sinh những kĩ năng, kỹ xảo mang tính kĩ thuật tổng 13
nghiệp phải tạo điều kiện để hình thành ở học sinh những năng lực nghề
nghiệp cần thiết. Nhà trường phải hình thành cho các em học sinh năng lực
nghề nghiệp, đó là khả năng thích ứng, năng lực sử dụng một số máy móc,
thiết bị kĩ thuật hiện đại phổ biến; năng lực di chuyển nghề nghiệp; năng lực
ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng lực tự làm việc,
năng lực tự đánh giá bản thân có thể lựa chọn con đường ngành nghề cho
mình sau khi tốt nghiệp. Trong nhà trường phổ thông, con đường tốt nhất để
hình thành năng lực nghề nghiệp là phải đảm bảo hai yếu tố tổ chức các hoạt
động sản xuất kết hợp với dạy nghề. Trong quá trình hướng nghiệp học sinh
sẽ được tiếp cận làm quen với nghề và như vậy tri thức cũng như kĩ năng
nghề nghiệp sẽ từng bước hình thành và phát triển.
- Về phẩm chất đạo đức: Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp phải góp
phần vào việc giáo dục cho học sinh những phẩm chất của người lao động
mới, đồng thời, biết chọn lọc, tiếp thu những thành tựu của khoa học, hiểu
biết về pháp luật để tham gia thị trường lao động trong bối cảnh nền kinh tế
cạnh tranh và hội nhập. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước chuyển sang nền
kinh tế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, có những tác động khách
quan làm thay đổi thang giá trị xã hội, phẩm chất của người lao động,… Điều
đó ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng phát triển nhân cách người học. Do
vậy, Giáo dục hướng nghiệp phải quan tâm đến việc giáo dục phẩm chất đạo
đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lao động có văn hóa cho học sinh;
Điều quan trọng đối với học sinh là có động cơ học tập, biết tự đánh giá bản
thân, có thái độ lựa chọn nghề nghiệp, ngành học đúng đắn, xác định trách
nhiệm trong việc lựa chọn nghề phù hợp với khả năng bản thân… đặc biệt là
trau dồi năng lực và phẩm chất của người lao động hiện đại như tính sáng tạo,
tính kỉ luật công nghiệp, năng lực học tập suốt đời, nâng cao trình độ về mọi
mặt, có ý chí và quyết tâm vươn lên tự tìm việc làm - đó là yêu cầu và cũng

cập đến chủ thể và đối tượng quản lý. Chủ thể và đối tượng quản lý có thể là
con người hoặc tổ chức do con người lập nên. Với những lợi ích lớn lao của
quản lý, từ nhiều năm nay đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu được 15
thực hiện theo nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định bản chất, tìm kiếm
lý luận và các kỹ thuật cần thiết làm cơ sở cho thực hành quản lý.
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo
những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ
đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo góc độ điều khiển từ quản lý là lái,
điều khiển, điều chỉnh. Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác
động của chủ thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp
hoạt động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục
đích đã định.
Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục
tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản
lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân
hướng tới những mục tiêu chung. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản
lý:
- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó
thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những
con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu
chung.
- Quản lý là quá trình làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm
như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm
người, một tổ chức.
- Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua
việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người

nhiệm vụ của quản lý là biến các mối quan hệ trên thành những yếu tố tích
cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu,
ở khía cạnh này, quản lý là một nghệ thuật. Đó là “bí quyết” làm việc với con
người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó
với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức.
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết
kinh nghiệm thực tế. Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình 17
tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hóa
thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Đó chính
là khoa học, khoa học quản lý. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại vừa
là nghệ thuật.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý)
lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh
tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng”.
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định”.
Theo Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay
đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ lợi ích của con người”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là
khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”.

quản lý cũng là cách thức thực hiện tác động tổ chức, điều khiển, chỉ huy cho
hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức
được vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.
1.1.5. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thể chế xã hội hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục
chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục - đào tạo của Nhà nước và của
cộng đồng xã hội, chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống. Quản lý nhà
trường là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục.
Theo GS. TSKH. Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status