Dạy học tác phẩm Chí phèo, Đời thừa của Nam Cao theo đặc trưng thể loại - Pdf 25


iv
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Mục lục
iv
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
13
1.1. Thể loại và dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
13
1.1.1. Thể loại văn học
13
1.1.2. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
15
1.2 . Đặc trưng của loại hình tác phẩm tự sự
16
1.3. Đặc trưng thể loại truyện ngắn
21
1.3.1. Nhân vật
22
1.3.2. Cốt truyện
22


36
2.2.1. Định hướng chung
36
2.2.2. Định hướng dạy học truyện ngắn Chí Phèo theo đặc trưng thể
loại

40
2.2.3. Định hướng dạy học truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao theo
đặc trưng thể loại

46
2.2.4. Kết luận:
54
Chƣơng 3: GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM
56
3.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm
56
3.2. Những vấn đề chung của thực nghiệm
100
3.2.1.Mục đích thực nghiệm
101
3.2.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
101
3.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm
102
3.3.1. Nội dung thực nghiệm
102
3.3.2. Tiến trình thực nghiệm
102


GV
Gio viên
HS
Hc sinh
SGK
Sch gio khoa
THPT
Trung ho
̣
c phô
̉
thông
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
Nxb:
Nhà xuất bản
THCS
Trung hc cơ sở

Hoạt động


32
Bảng 2.3 .Tổng hợp 175 phiếu của 2 trường THPT Phúc Th và
THPT Ngc Tảo - huyện Phúc Th - Thành phố Hà Nội

34
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng

104

vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Như đã biết trong xã hội ngày nay luôn có nhu cầu truyền thụ, học tập các
kinh nghiệm và tri thức giữa từng cá nhân và nhiều cộng đồng cá nhân. Hoạt
động dạy học phụ thuộc vào các yếu tố người dạy, người học và dựa vào môi
trường dạy học. Vì vậy, việc đổi mới phươg pháp dạy học được chú trọng và
đề cao, mục đích của đổi mới phương pháp dạy học là để nâng cao hiệu quả
bài học. Thay đổi lối dạy học truyền thụ kiến thức một chiều sang phương
pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện
thói quen và khả năng tự học cho học sinh. Học để đáp ứng những yêu cầu
của cuộc sống hiện đại, những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học
sinh và cho sự phát triển trong toàn xã hội. Những năm gần đây toàn ngành
giáo dục không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy bộ môn,
phương pháp kiểm tra, đánh giá cho điểm. Đặc biệt là ứng dụng thành tựu
khoa học tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý và
giảng dạy về cơ bản phù hợp với nguyện vọng của học sinh và đáp ứng yêu
cầu của xã hội. Môn Ngữ Văn trong nhà trường trung học phổ thông có vai
trò tích cực trong việc đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân tốt,
người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt. Nó không chỉ đơn

huyết của nhiều nhà giáo dục và đội ngũ giáo viên không chỉ về mặt lý thuyết
mà còn cả trong thực tiễn. Vì thế dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của
Nam Cao ở trường THPT đòi hỏi người dạy và người học không chỉ tiếp cận
kiến thức mang tính lí luận mà còn cần phải thông qua thực hành, khắc phục
tình trạng thụ động trong lĩnh hội kiến thức, khẳng định vai trò chủ động,
sáng tạo của học sinh như vậy mới thực sự mang lại hiệu quả. Do đó việc đổi
mới phương pháp dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao ở
trường trung học phổ thông là rất quan trọng và cần thiết. Yêu cầu chung của
nền giáo dục nước ta hiện nay là nâng cao hiệu quả học tập và nhận thức của
học sinh, học sinh biết tự chiếm lĩnh tri thức. Bởi vậy, nghiên cứu đề tài này

viii
này chúng tôi hy vọng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả giờ dạy học tác
phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao ở trường trung học phổ thông. Từ đó
có những phương pháp đúng đắn và hợp lý, trên nguyên tắc“vừa sức” để tạo
hiệu quả tốt nhất trong dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao ở
trường THPT. Tác gia Nam Cao là một nhà văn lớn trong nền văn học Việt
Nam hiện đại và trong nhà trường phổ thông. Các tác phẩm của Nam Cao đã
thể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao cả, một phong cách nghệ thuật đa dạng,
phong phú. Tác phẩm Đời thừa là một trong những đại diện xuất sắc cho
phong cách nghệ thuật của Nam Cao theo kiểu kết cấu mới với kiểu diễn biến
tâm lý và một giọng điệu trữ tình khác biệt. Tác phẩm Chí Phèo là hiện thân
khác cho một tài năng phong cách theo lối điển hình hoá đầy kịch tính. Với
tác phẩm Chí Phèo trong chương trình THPT, đây là một truyện ngắn rất hay,
rất đặc sắc về đề tài người nông dân của Nam Cao. Còn tác phẩm Đời thừa là
một truyện ngắn rất hay, rất đặc sắc về bi kịch người trí thức. Nhưng khi
giảng dạy, phần lớn giáo viên chỉ đi sâu khai thác, khám phá giá trị hiện thực
chung nhất mà chưa khai thác được chiều sâu tư tưởng tác phẩm, giá trị nghệ
thuật rất riêng của truyện.
Với tất cả những lý do trên chúng tôi tiến hành lựa chọn và thực hiện đề tài

dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại. Bên cạnh đó cũng có
nhiều công trình nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn phân tích tác phẩm văn
chương theo loại thể. Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thi
pháp học, nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm tâm huyết đã đề xuất cách thức,
con đường dạy học sinh cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương nói chung;
tác phẩm văn xuôi nói riêng theo đặc trưng thể loại. Các tác giả trong chuyên
luận của mình khi nói về vấn đề giảng dạy và phân tích tác phẩm văn chương
đều không bỏ qua đặc thù thẩm mĩ của thể loại tác phẩm cần phân tích. Tiêu
biểu là các công trình của các tác giả:
- Trần Thanh Đạm: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (NXB
Giáo dục, 1971)

x
- Lê Huy Bắc, Phan Huy Dũng, Nguyễn Văn Hiếu: Những vấn đề thể loại và
lịch sử văn học (NXB Giáo dục, 2008)
- Phan Trọng Luận Xã hội – Văn học – Nhà trường (1996), Văn học trong nhà
trường nhận diện, tiếp cận đổi mới (NXB Đại học Sư phạm, 2007), Cảm thụ
văn học - giảng dạy văn học (1983), Phương pháp dạy học văn (NXB Đại học
Sư phạm, 2008)
- Nhóm tác giả trường ĐHSP Hà Nội I: Nhà văn và tác phẩm trong trường
phổ thông, NXB Đa
̣
i ho
̣
c Sư pha
̣
m, 2001.
- Nguyễn Viết Chữ: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
(NXB Đại học Sư phạm, 2006)
- Hoàng Ngọc Hiến: Năm bài giảng về thể loại (Trường viết văn Nguyễn Du,

người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh, trọng đối với
con người. Bích Thu với bài Sức sống của một sự nghiệp văn chương in trong
cuốn Nam Cao tác gia và tác phẩm nhận xét về ngôn ngữ trong sáng tác của
Nam Cao là ngôn ngữ đa âm, phức điệu hiện đại, dù được viết vào thời đại
ông nhưng bây giờ đọc vẫn thấy mới. Lại Nguyên Ân trong Nam Cao và cuộc
cách tân văn học đầu thế kỷ XX cho rằng đóng góp vào việc xây dựng và phát
triển văn xuôi mới của Nam Cao bộc lộ đặc biệt rõ trong ngôn ngữ văn xuôi.
Phong Lê nhận xét về giọng điệu trong văn của Nam Cao trong cuốn Nam
Cao - Văn và đời, lời giới thiệu tuyển tập Nam Cao, Nxb văn học, Hà Nội,
1987.
Vấn đề cốt truyện và cách kể chuyện của nhà văn cũng được khá nhiều
nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý: Nhìn chung tất cả các ý kiến nhận
định đánh giá hầu như đều thống nhất với nhau ở quan điểm: Truyện ngắn
Nam Cao là truyện viết rất ít sự kiện, ít nhân vật và chủ yếu là truyện xoay
quanh cuộc sống đời thường, kết cấu truyện thường là kết cấu tâm lý bỏ ngỏ,
kết cấu vòng tròn. Trần Đăng Suyền trong Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất
sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn cũng đã đưa ra ý kiến về cái chân thật của tư
tưởng, của nội tâm nhân vật trong văn của Nam Cao. Phong Lê trong bài Cấu

xii
trúc và ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao (Văn nghệ quân đội số tháng 10 -
1987). Bích Thu trong bài Sức sống của một sự nghiệp văn chương đã nhận
xét về phong cách Nam Cao rất độc đáo tạo là sự pha trộn tài tình các giọng
điệu trong mỗi tác phẩm.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây các nhà nghiên cứu, phê bình, người
thưởng thức tác phẩm mở ra hướng tìm hiểu, nghiên cứu Nam Cao ở chiều
sâu thế giới nghệ thuật, khám phá ở nhiều bình diện, nhiều góc độ: Phạm
Quang Long có bài nghiên cứu Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao
(Tạp chí Văn học số 2 – 1994), in lại trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Nxb Giáo dục – Hà Nội,1998. Trần Đăng Suyền có bài nghiên cứu Thời gian

Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường – Nam Cao Văn Giá tuyển chọn và
biên soạn (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999); Phương pháp giảng dạy tác phẩm
văn chương theo loại thể Nguyễn Viết Chữ (Nxb Đại học Sư phạm, 2002); …
Có thể nói đây là những tài liệu bổ ích và thiết thực cho công việc giảng dạy
và học tập về các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông.
Với truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao đã có nhiều nhà phương pháp đưa
ra các cách tiếp cận và giảng dạy như: Giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn
Văn học - xã hội - nhà trường (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội - 1996) đề ra
hướng khai thác và giảng dạy truyện ngắn này theo quan điểm lịch sử nhằm
hướng đến cho học sinh những giá trị nhân văn cao cả và đúng đắn, tránh
khuynh hướng xã hội học dung tục trong dạy học văn ở nhà trường hiện nay
vẫn còn tồn tại. Nguyễn Thanh Hùng có bài Sống với đôi mắt mở (Báo Văn
nghệ số 24 – 1992) và in trong cuốn Đến với Nam Cao của nhiều tác giả.
Nghiên cứu, khám phá những tác phẩm của Nam Cao, PGS. TS Nguyễn
Thị Thanh Hương có bài Những tác động thẩm mĩ tiềm tàng trong tác phẩm
của Nam Cao.
Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khoá luận nghiên cứu về phương
pháp dạy học các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như:
Châu Thị Kim Ngân với đề tài: Nghiên cứu, tiếp thu và đi tới một cách dạy

xiv
thích hợp truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao trong chương trình bậc THCS;
Đỗ Bích Liên với đề tài Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện pháp
giáo dục thẩm mỹ cho học sinh lớp 11; Nguyễn Văn Thắng với đề tài Một số
biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận ngôn ngữ người kể chuyện trong
truyện ngắn Nam Cao ở trường THPT; Trần Thị Thu Hà với đề tài khoá luận
Vận dụng tri thức đọc hiểu để hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Chí Phèo
của Nam Cao trong nhà trường THPT.
2.4. Tình hình nghiên cứu về truyện ngắn Chí Phèo
Chí Phèo là truyện ngắn có sức thu hút kỳ lạ đối với giới nghiên cứu phê

nhà nghiên cứu phê bình, nhà sư phạm quan tâm, chú ý, khám phá ở nhiều
phương diện, nhiều góc độ khía cạnh cả nội dung cũng như nghệ thuật của tác
phẩm.
2.5. Tình hình nghiên cứu về truyện ngắn Đời thừa
Trong mấy chục năm qua, nhất là khoảng mười năm trở lại đây đã có
nhiều nhà phương pháp với nhiều kinh nghiệm, nhiều thầy cô giáo đầy tâm
huyết đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh cùng với
những tìm tòi phát hiện đầy mới mẻ nhằm tìm ra hướng dạy, phương pháp,
biện pháp dạy học những tác phẩm của Nam Cao, trong đó có tác phẩm Đời
thừa ở nhà trường phổ thông sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm nâng cao
chất lượng dạy học văn ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể
có các công trình nghiên cứu:
- Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 11 - Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên.
- Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông – Những con đường
khám phá của Vũ Dương Quỹ - Lê Bảo.
- Thiết kế bài học Ngữ văn 11(Tập 1) - Phan Trọng Luận (chủ biên).
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11(Tập 1) - Nguyễn Văn Đường (chủ biên).
- Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 1 do Trần Đình Sử (Chủ biên), Nxb Giáo
dục, 2007.
- Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 do Nguyễn Đăng Mạnh (chủ
biên), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2003.

xvi
3.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao
theo đặc trưng thể loại nhằm mục đích hoàn thiện phương pháp dạy học hiện
nay thông qua tích hợp công nghệ trong dạy học, giúp học sinh tiếp cận nôi
dung kiến thức tốt hơn, hiệu quả hơn. Đồng thời chúng tôi mong muốn góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm văn học ở trường trung học phổ

- Phương pháp phân tích, khảo sát thực tế, thống kê, thực nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, khái quát.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng và định hướng dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời
thừa của Nam Cao ở trường trung học phổ thông.
Chương 3: Giáo án và thực nghiệm.

xviii
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Thể loại và dạy học tác phẩm văn chƣơng theo đặc trƣng thể loại
1.1.1. Thể loại văn học
Tìm hiểu kiến thức về đặc trưng thể loại sẽ giúp ta có căn cứ để xác
định được những tính chất của loại ở trong một thể nào đó và khai thác đúng
trọng tâm nội dung tác phẩm và tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
đó.
Từ điển thuật ngữ văn học, do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (đồng chủ biên) xác định thể loại văn học như sau:
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành
và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện
ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện
tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối
với các hiện tượng đời sống ấy.
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương
pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác
nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau.

đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy. Bởi vì thể loại chính là cơ sở tạo nên tính
thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nội dung
và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời
văn nghệ thuật. Thể loại không những quy định cách thức tổ chức tác phẩm
mà còn định hướng cho việc tiếp nhận của độc giả, tạo nên kênh giao tiếp
giữa tác phẩm và người đọc. Thể loại của tác phẩm vừa có tính kế thừa, tính
liên tục, lại vừa có tính độc đáo, tính biến đổi do sự sáng tạo của tác giả. Vì
thế, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại không thể chỉ dừng lại ở những
đặc điểm chung của một thể loại thể hiện trong tác phẩm, mà còn cần phải chỉ
ra nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo không lặp lại của tác giả.

xx
Các tác giả trong cuốn Lý luận văn học (tập 2): Phương Lựu, Trần
Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam quan niệm thể loại tác phẩm văn học là khái
niệm chỉ quy luật, loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một nội dung nhất
định có một hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh
thể.
Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệm thể loại
văn học như sau:
Thể loại Văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn
bản.
Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tiếp xúc,
tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng.
Phân loại tác phẩm văn chương chủ yếu dựa vào phương thức tái hiện đời
sống; cấu tạo tác phẩm; loại đề tài; chủ đề; thể văn. Tác phẩm văn học được
chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại tác
phẩm kịch. Mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu hình
tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn.
1.1.3. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Thể loại chi phối tất cả các yếu tố của hình thức tác phẩm . Không phải

̉
m văn chương
phải gắn liền với lý luận dạy học hiện đại: phải đọc kỹ văn bản , xác định
được “chất của loại” của tác phẩm ; phải nắm được những đặc điểm của hoạt
động tiếp nhận ta
́
c phâ
̉
m văn chương ; giáo viên Văn vừa là nhà khoa học,
nhà sư phạm vừa là người nghệ sỹ.
Dạy học tác phẩm văn chương giúp học sinh nhận thức được cái hay,
cái đẹp của tác phẩm. Moi phương pháp dạy học đều phải xuất phát từ việc
cảm thụ tác phẩm văn chương của các lứa tuổi học sinh. Như vậy, đặc trưng
thể loại của tác phẩm là điều kiện đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình
tiếp nhận của HS. Người GV khi định hướng dạy học tác phẩm văn chương
phải biết xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm, đối tượng tác động, đối
tượng tiếp nhận để tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích, cảm thụ tác phẩm,
từ đó tìm ra khả năng tác động đặc biệt của tác phẩm đó đối với HS trong lớp,
đề ra yêu cầu về hoạt động của HS và GV soạn giáo án và lập kế hoạch giảng
dạy, tránh lối dạy dập khuôn, đơn điệu, không hiệu quả.
1.3 . Đặc trƣng của loại hình tác phẩm tự sự
Loại hình tự sự khác hẳn loại trữ tình và kịch. Loại trữ tình biểu hiện trực
tiếp thế giới chủ quan của con người. Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm
xúc, tâm trạng, suy nghĩ, được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ
yếu của tác phẩm. Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không
cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào. Kịch bắt đầu từ
xung đột, đó là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực
lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể

xxii

xxiii
vật, hoàn cảnh, thế này hoặc thế khác. Nếu truyện ngắn trữ tình với nét nổi bật
là tính “phi cốt truyện”, truyện không kể lại được vì cốt truyện không tiêu
biểu, thì truyện ngắn tự sự cốt truyện rất rõ nét, trong mỗi cốt truyện lại được
đan cài bởi các chi tiết, sự kiện, tình tiết, phản ánh trong mối quan hệ xã hội,
cuộc đời với những xung đột, mâu thuẫn gay gắt. Cốt truyện đóng vai trò
quan trọng trong tác phẩm tự sự, nó được xây dựng từ những sự kiện, hành
động của nhân vật.
Loại hình tác phẩm tự sự gồm có các thể nhỏ: tiểu thuyết, truyện ngắn,
kí, tản văn… Cách phân loại trên là cần thiết khi bước đầu tiếp cận các tác
phẩm văn học trong nhà trường. Chúng ta cần chú ý đến “chất của loại” trong
thể khi phân tích tác phẩm văn học. Vì chính “tính chất loại thể” làm ra diện
mạo tinh thần của tác phẩm. Nó giúp ta tiếp nhận “đúng”, “trúng” với tác
phẩm cụ thể. Làm thành “loại” và thể hiện “loại” phải nhờ các “thể”. Nhưng
không ít “thể” của tác phẩm thuộc loại này nội dung lại mang tính chất ở loại
kia. Ví dụ như Đời thừa là truyện (thuộc loại tự sự), nhưng mang chất trữ
tình. Truyện Chí Phèo vừa giàu chất trữ tình, vừa giàu kịch tính. Nếu chỉ chú
ý vào thể mà quên đi tính chất loại trong thể trong tác phẩm, chúng ta rất dễ
phân tích tác phẩm một cách dập khuôn, sai lệch. Như vậy, chúng ta cần quan
tâm và tìm ra các phương pháp, biện pháp thích hợp để giải quyết những tồn
tại và mâu thuẫn này trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương. Điểm qua
một vài đặc điểm các thể tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tản văn trong loại hình
tác phẩm tự sự:
Tiểu thuyết: là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện
thực, cả về không gian cũng như thời gian. Qua tiểu thuyết, người đọc có thể
hiểu được một giai đoạn lịch sử với nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, địa điểm,
tình huống, miêu tả cuộc sống từ góc độ đời tư. Các yếu tố khác của tác phẩm
văn học, từ đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu cũng chịu sự chi phối của đặc
điểm. Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại
toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình. Lời trần thuật ở đây còn có

súc tích. Nhân vật thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường

xxv
chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa trong
cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều
yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu
chuyện.
Kí: mang tính tổng hợp về đối tượng mô tả và người ta có thể tìm thấy ở
đó không chỉ là những số phận mà là những bức tranh về phong tục, về đời
sống kinh tế, chính trị Ðặc trưng này thực ra có thể được xác định rõ nét hơn
trong tiểu thuyết. Do kí là một thể loại có tính chất ghi chép nên kí phản ánh
người thật, việc thật, có tính nguyên tắc. Kí viết về sự thật nhưng thực ra, nhà
văn có tư tưởng, tình cảm hoàn toàn đúng đắn chỉ việc ghi chép lại thì trước
khi ghi chép, ít nhất cũng phải nghe hoặc thấy, tức là nghe kể lại hoặc chứng
kiến. Nhà văn có thể được hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không
xác định như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, những nhân vật phụ,
cũng như việc sắp xếp, tổ chức hệ thống cốt truyện.
Tản văn: nói lên điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người,
thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ. Có thể có nhiều
phong cách: nghiêm túc, cười cợt, trữ tình, chính luận, triết lí Tản văn có hình
thức đa dạng, cũng có thể là tạp bút, tạp văn, bút ký, du ký… Ngoài ra, tản
văn còn có đề tài rộng mở, không bị hạn chế bởi thời gian, không gian. Tản
văn thường mang ý nghĩa sâu sắc, thâm thúy, ngôn từ cô đọng, súc tích, thể
hiện rõ cảm nhận của tác giả về đời sống hàng ngày. Tản văn trữ tình nghiêng
về cảm nhận tư tưởng, xuất phát từ tư tưởng, tình cảm của tác giả. Tản văn trữ
tình miêu tả sự vật cụ thể, tình tiết không xâu chuỗi, có đặc điểm nổi bật là
giàu chất trữ tình, hàm chứa tư tưởng tình cảm và nội dung xã hội sâu sắc.
Tản văn tả cảnh chủ yếu miêu tả cảnh vật, thường xuất phát từ cảm nhận của
tác giả hay mượn cảnh tả tình, nắm bắt được đặc trưng cảnh vật, quan sát sự
thay đổi của toàn cảnh. Tản văn tả cảnh thường sinh động, không những có

sự kiện (Nguyễn Công Hoan); truyện ngắn tâm lý (Nam Cao). Trên cơ sở dựa
vào nội dung, hình thức của tác phẩm mà có nhiều cách phân chia loại trong
thể truyện ngắn như vậy. Song chúng ta cũng cần hiểu rằng: truyện ngắn là

Trích đoạn Thực trạng dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm Đánh giá kết quả thực nghiệm Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status