A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi tiếp xúc với một tác phẩm văn học vấn đề đầu tiên mà chúng ta
quan tâm là hình thức biểu hiện của nó . “Tên gọi thể loại tự nó có
chức năng phân loại hình thức của tác phẩm”. Tác giả Trần Đình Sử
trong cuốn Lí luận văn học đã nêu “ thể loại – hình thức chỉnh thể của
tác phẩm văn học”
Vấn đề thể loại có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận tác phẩm
văn chương. Việc nhận biết tác phẩm ở thể loại nào giúp người giáo
viên bước đầu tìm hiểu và hình thành những định hướng phân tích
theo đặc trưng của của thể loại đó cho học sinh.
Nhà văn sáng tác theo thể loại thì người đọc cũng cảm nhận theo
thể loại và người giảng dạy cũng giảng dạy theo thể loại. Nói cách
khác, phương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả đã sử dụng khi sáng
tác quy định phương thức cảm thụ hình tượng của người đọc. Sự cảm
thụ của chúng ta đối với tác phẩm tự sự, trữ tình và kịch không giống
nhau. Khi giảng dạy tác phẩm tự sự, chúng ta cần chú ý phân tích tình
tiết và chi tiết nghệ thuật, điểm nhìn của người trần thuật, cách kể,
giọng kể, nhịp điệu kể, tình huống truyện, đề tài của tác phẩm Khi
1
giảng dạy tác phẩm trữ tình, chúng ta cần xác định chủ đề trữ tình,
mạch cảm hứng, tâm tư của nhân vật trữ tình thể hiện qua nhạc điệu.
Tuy nhiên ranh gới giữa ba thể loại tự sự, trữ tình, kịch không rõ
ràng. Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải xác định được chất của loại trong
thể .Chẳng hạn như truyện ngắn “ Chữ người tử tù ” ( Nguyễn Tuân)
là một truyện ngắn viết theo bút pháp lãng mạn với sự kí tưởng hóa
nhân vật và biện pháp đối lập. Tuy vậy truyện ngắn náy lại có những
trang trữ tình ngoại đề và độc thoại nội tâm rất sâu sắc và những trang
viết đầy kịch tính mà nổi bật là cảnh cho chữ. Nếu chỉ phân tích nhân
vật thì không thể khai thác hết nội dung tác phẩm, cũng như nét tài
hoa trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Khi phân tích “ Chữ
trình giáo khoa văn 11
- Một số kỹ năng, phương pháp trong quá trình dạy học môn văn
nói chung và tác phẩm “chữ người tử tù” nói riêng.
Mặc dù tác phẩm phẩm “chữ người tử tù” đã được đưa vào trong
chương trình và giáo viên đã vận dụng đưa ra nhiều cách tìm hiểu,
tiếp cận. Tuy nhiên qua kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đưa ra cách
tiếp cận tác phẩm “nguời tử chữ tù” theo đặc trưng thể loại, hy vọng
sẽ đóng góp một cách tiếp cận, tìm hiểu về tác phẩm này và nâng cao
kiến thức lý luận văn học cho cả người dạy, người học.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm và sự phân chia thể loại văn học
4
Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm cho quy luật loại hình của
tác phẩm văn học, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có
một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại
chỉnh thể. Như vậy thể loại tác phẩm văn học bao gồm hai mặt tương
tác- nội dung và hình thức, nội dung quy định hình thức thể hiện nội
dung.
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình
thành và tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn
học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc
điểm của các loại hiện tượng đời sống.
Thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh
hướng văn học. Do đó mà thể loại văn học luôn vừa mới, vừa cũ, vừa
biến đổi, vừa ổn định.
Các nhà nghiên cứu dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác
phẩm văn học thành các loại và thể. Bất kì tác phẩm nào cũng thuộc
một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó.
Tác phẩm văn học có ba loại: Tự sự, trữ tình và kịch… và mỗi
cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại
3. Tác dụng của việc dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể
loại
Trong ý đồ thiết kế và thực hiện chương trình dạy học Ngữ văn,
thể loại là một tiêu chí quan trọng. Một trong những yêu cầu quan
trọng của chương trình Ngữ văn là hình thành ở học sinh những hiểu
biết về các kiểu văn bản và nắm được các phương thức biểu đạt chủ
yếu (tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận…). Nghĩa là
nắm được cái đặc trưng của mỗi loại văn bản. Hầu hết các văn bản
được lựa chọn để học là các tác phẩm văn học (hoặc đoạn trích tác
7
phẩm), vì thế mỗi kiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lại thuộc
về một thể loại văn học nhất định. Những hiểu biết về thể loại có một
ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc tiếp nhận, phân tích các
tác phẩm có trong chương trình, mà còn cần thiết cho học sinh để đọc
hiểu được các tác phẩm khác ngoài chương trình mà các em bắt gặp
trong đời sống. Như thế là bởi vì: Thể loại văn học là sự thống nhất
giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức
chiếm lĩnh đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm. Đọc
hiểu văn bản phải đi từ dạng hình thức văn bản để cảm thụ phương
thức chiếm lĩnh đời sống, rồi từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa, các
khía cạnh tư tưởng nghệ thuật mà tác giả thể hiện qua văn bản; phải đi
từ việc nắm bắt và sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản (có
ý kiến cho rằng đây là hoạt động đọc hiểu cấu trúc văn bản) đến
những thông tin có trong bài (đọc hiểu nội dung văn bản), rồi cao hơn
là khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giới
bên ngoài (đọc hiểu ý nghĩa văn bản). Có thể đồng tình với quan niệm
cho rằng: tính chất của hoạt động đọc hiểu văn bản sẽ được quy định
theo nguyên tắc đọc hiểu văn bản phù hợp với đặc điểm thể loại của
văn bản.
2. Một số kinh nghiệm thích hợp dạy học “chữ người tử tù”
theo đặc trưng thể loại
2.1. Vận dụng các phương pháp dạy học
2.1.1. Phương pháp đọc sáng tạo
Kênh vật chất tác động mạnh mẽ đến con người là kênh nghe,
khi đó ngôn ngữ mới hoàn chỉnh được hoạt động của nó. Văn tự
thường tác đạng qua kênh nhìn còn âm điệu thì phải qua kênh nghe.
Do đó việc đọc tác phẩm văn chương là một phương pháp quan trọng.
10
Phương pháp đọc sáng tạo được sử dụng hầu như thường trực
trong tiết học, từ lúc bắt đầu đến sau khi phân tích tác phẩm văn
chương. Đọc sáng tạo có nhiều biện pháp: Đọc hướng dẫn, đọc phân
tích, kể chuyện,hoặc thuộc lòng, phát biểu cảm nghĩ hay hoạt động
liên môn với hội họa, âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật. Mức thấp nhất là
đọc đúng ( tròn vành, rõ chứ, đúng chính âm,chính tả). Mức cao hơn
là đọc diễn cảm, đọc diễn tả sự cảm thụ, sự hiểu biết cảu người đọc, sự
tri âm cùng tác giả.
Trong công tác giảng dạy hiện nay, hoạt động đọc chưa được
chú ý đúng mức. Phần lướn học sinh đọc với giọng đều đều, không
biết nhấn đúng chỗ, đúng lúc, hoặc đọc bài thơ buồn mà đọc quá
nhanh. Kết quả là ấn tượng cảu học sinh về bài thơ hoặc truyện ngắn
rất mờ nhạt. Vì vậy hướng dẫn học sinh đọc đúng,đọc hay tác phẩm là
một yêu cầu cấp thiết.
Truyện ngắn “ Chữ người tử tù ” là một truyện ngắn trữ tình
lãng mạn giàu kịch tính. Vì vậy yêu cầu đầu tiên là đọc đúng thể loại
của nó. Chúng ta phải đọc để làm nổi bật tình huống kịch, nhân vật
chính trong đó có sự đối lập giữa nhân vật và không gian, nhân vật và
nhân vật, không gian trong tù và không gian ánh sáng bao quanh nhân
11
vật trong cảnh cho chữ. Bên cạnh chất giọng trữ tình cũng cần đọc với
Giáo viên có thể gợi mở vấn đề cho học sinh suy nghĩ về thái độ
của viên quản ngục và thầy thơ lại khi nghe tin Huấn Cao về trai giam
lĩnh án. Tại sao quản ngục lại quan tâm đên việc Huấn Cao xuất hiên,
“ Huấn Cao ! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài
viết chữ rất nhanh và rất đep đó sao?”. Tại sao thái độ của thầy quản
lại nửa úp, nửa mở như đề phòng Huấn Cao, nửa như muốn nhân
nhượng ông ta ? Khi Huấn cao xuất hiện, hình ảnh Huấn Cao rắn rỏi,
13
hiên ngang không chút run sợ. Điều này có gì khác biệt Tại sao Quản
ngục biệt đãi Huấn Cao ? Tại sao tính Huấn Cao vốn khoảnh lại nhận
lời cho chữ viên quản ngục? Tại sao cảnh cho chữ lại là cảnh xưa nay
chưa từng co ? Theo bước phát triển của tác phẩm, hình tượng nhân vật
sẽ được hiện lên, các em sẽ nắm được đặc điểm, thái độ của họ thông
qua hệ thống câu hỏi gợi mở.
2.1.3 Phương pháp tái tạo
Thực ra đây là phương pháp nhớ một cách sáng tạo. Phương
pháp này đưa hoạt động của học sinh vào kiến thức có sẵn trong ngôn
ngữ hoặc trong bài giảng của giáo viên, sách giáo khoa đã được chọn
lọc để giải quyết những vấn đề mà cô giáo đưa ra.
Phương pháp này giáo viên cần trình bày theo kiểu nêu vấn đề,
học sinh tự giải quyết. Với “” Chữ người tử tù” giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao, viên
quản ngục và thầy thơ lại để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm, phân
tích cảnh cho chữ để chứng minh sự chiến thắng của cái đẹp trên cơ
sở kiến thức SGK, kiến thức bài giảng, học sinh trình bày bài theo
phương pháp đọc-hiểu,đọc-phân tích,đọc-bình giảng,đọc-nêu vấn đề,
14
vưa thuyết trình vừa gợi mở cho học sinh, tạo tâm thế người giáo viên
chủ động và tư thế học tập tích cực cho học sinh.
2.2. Kết hợp các con đường phân tích tác phẩm
bậc anh hùng vì nghĩa lớn, thái độ trân trọng và đề cao cái đẹp của nhà
văn-đó là cái đẹp của thiên lương ,của tài hoa và nghĩa khí.
2.2.3. Theo hình tượng nhân vật
Phân tích hình tượng nhân vật là phải làm cho nhân vật thực sự
sống động trước mắt người đọc. Một phương tiện quan trong nhất để
16
tái hiện lại hình tượng là những chi tiết thần trong tác phảm phản ánh
ngoại hình, thái độ và tính cách nhân vật.
Trong “ Chữ người tử tù ” , các nhân vật hiện lên là :
- Hình tượng nhân vật Huấn Cao
- Hình tượng viên quản ngục và thầy thơ lại
- Sự hội ngộ của ba hình tượng. Cảnh cho chữ.
2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi
Phương pháp dạy học mới phát huy tính chủ thể của học sinh,
trong đó giáo viên đóng vai trò là đạo dieenx còn học sinh là diễn
viên, vì vậy phương pháp đàm thoại phát vấn là quan trọng. Nó tạo
nên không khí học tập trong lớp, quyết định thành công của giờ dạy,
Với “ Chữ người tử tù ” , ta có thể xây dựng hệ thống câu hỏi
cảm thụ như sau:
1) Sau khi đọc xong tác phẩm, tâm trạng của em như thế nào?
Tại sao em có tâm trạng ấy ?
2) Đọc xong tác phẩm, nhân vật nào gợi cho em ấn tượng mạnh
nhất ?
3) Em hãy hình dung hình ảnh “ Quản ngục băn khoăn ngồi bóp
thái dương ”. hình ảnh này nói lên điều gì ?
17
4) Tưởng tượng ra cảnh cho chữ và miêu tả lại.
5) Em có suy nghĩ gì về câu nói của viên quản ngục : “Không,
tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc tới cái danh đó luôn,
thì tôi cũng hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. À, nhưng mà thong thả.
A. Mục tiêu bài học: Giúp học sinh
1. Kiến thức:
- Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn cao
- Quan niệm thẩm mĩ và tấm lòng yêu nước thầm kín của tác giả
- Những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm: Xây dựng nhân vật tạo tình
huống, nghệ thống ngôn ngữ.
2. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật văn học và tìm hiểu
tác phẩm trên những phương diện đặc trưng thể loại
B. Phương tiện thực hiện
- Giáo viên: SGK, SGV, thiết kế bài học, tài liệi tham khảo
- Học sinh: vở soạn, SGK
C. Phương pháp
Giáo viên tổ chức giờ dạy bằng cách kết hợp các phương pháp: nêu
gợi dẫn vấn đề, trao đổi, vấn đáp và các phương pháp dạy học tích
cực.
20
D. Tiến trình giờ học:
1. Ổn định
2. Bài cũ: Thế nào là ngữ cảnh? Các nhân tố của ngữ
cảnh?
3. Bài mới:
Hoạt động của thầy và
trò
Nội dung cần đạt
21
Hoạt động 1: Sử
dụngphương pháp các
mảnh ghép
Nêu những nét cơ bản về
tác giả?
đẹp nào?
Tìm những chi tiết chứng
minh cho từng vẻ đẹp?
Cảnh ngộ của Huấn cao
được tác giả giới thiệu
như thế nào?
Tìm những chi tiết chứng
minh cho vẻ đẹp khí
phách của Huấn Cao.
a. Con người tài hoa- nghệ sĩ
- Xuất hiện gián tiếp qua suy nghĩ, lời bình
phẩm của thầy trò quản ngục.
+ Tài viết chữ nhanh, đẹp nổi tiếng cả vùng
tỉnh Sơn.
+ tài bẻ khoá vượt ngục
+ Nổi tiếng văn võ toàn tài cả: “ nếu phải
chém người như thếthấy tiêng tiếc”
-> con người tài hoa, nghệ sĩ. Đây là vẻ
đẹp, biểu hiện văn hoá dân tộc một thời:
nghệ thuật thư pháp.
b.con người khí phách, hiên ngang
Cảnh ngộ (hoàn cảnh) nhân vật: kẻ phản
nghịch ( giặc) cầm đầu những kẻ chống lại
triều đình, bị băt giam và đang chờ ngày ra
pháp trường.
- khi đến nhà ngục”
+ người đi đầu 6 tên tù, “ cổ mang gông dài
8 thước….
23
Trước sự đối đải và biết
gắm khi xây dựng nhân
vật QN?
Vì sao Huấn Cao lại cho
phải gắn với tâm
2. Nhân vật Quản Ngục
- Hoàn cảnh: sống trong đề lao,nơi cái tốt-
xấu lẫn lộn >dễ làm con người ta thay đổi
về nhân cách
- Phẩm chất:
+ có vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ, sở thích cao
quý
+ trong cảm phục người tài, thể hiện qua
hành động biệt nhỡn với Huấn Cao
+ NT so sánh “ là thanh âm trong trẻo,
chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật
đều hỗn loạn xô bồ”
=> Trong mỗi con người đều ẩn chứa tâm
hồn yêu cái đẹp, cái tài. Cái đẹp chân chính
trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ được
phẩm chất nhân cách.
3. Cảnh cho chữ
- Động cơ: yêu mến, trân trọng cái thiện,
25