1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ ÁNH NGỌC PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA
DẠY HỌC GIẢI BÀI TẬP TỌA ĐỘ HÌNH HỌC KHÔNG GIAN
CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 - BAN NÂNG CAO LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số : 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học : GS.TS. NGUYỄN HỮU CHÂU
Hà Nội – 2012
16
1.4. Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh
16
1.5. Tiềm năng của hình học trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo
cho học sinh
17
1.6. Dạy tư duy sáng tạo cho học sinh
19
1.7. Phương hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông
qua dạy học môn Toán
21
1.7.1. Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh cần kết hợp với các
hoạt động trí tuệ khác
21
1.7.2. Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh cần đặt trọng tâm vào
việc rèn khả năng phát hiện vấn đề mới, khơi dậy ý tưởng mới
22
1.7.3. Chú trọng bồi dưỡng từng yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo
23
1.7.4. Bồi dưỡng tư duy sáng tạo là một quá trình lâu dài cần tiến
hành trong tất cả các khâu của quá trình dạy học
23
1.8. Thực trạng của việc dạy và học nhằm phát triển tư duy sáng tạo
2.2.1. Hướng vào rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho học sinh thông
qua ví dụ và bài tập
34
2.2.2. Khuyến khích học sinh tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán
tọa độ hình không gian
40
2.2.3. Xây dựng bài toán mới từ bài toán đã biết
46
2.2.4. Tăng cường cho học sinh làm việc nhóm để thúc đẩy sự sáng
tạo của mỗi cá nhân trong sự hỗ trợ của tập thể và giáo viên
49
2.3. Thiết kế một số tiết dạy nhằm bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh
73
2.3.1. Giáo án 1
73
2.3.2. Giáo án 2
79
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
86
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
86
3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm
86
3.2.1.Tổ chức thực nghiệm
86
3.2.2. Nội dung dạy thực nghiệm
86
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Rèn luyện khả năng sáng tạo cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng, cấp
thiết của nhà trường phổ thông
- Nghị quyết trung ương Đảng khoá IV về định hướng đổi mới phương
pháp dạy học đã chỉ rõ: ” Mục tiêu giáo dục đào tạo phải hướng vào việc đào
tạo những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những
vấn đề thường gặp, góp phần thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là : dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Nghị quyết trung ương Đảng khoá VII, 1993 về tiếp tục đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo đã nhận định: “Con người được đào tạo thường
thiếu năng động, chậm thích nghi với nền kinh tế xã hội đang đổi mới”, từ đó
chỉ đạo chúng ta phải đổi mới giáo dục và đào tạo, đổi mới phương pháp giáo
dục. Điều 29 trong Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, của học sinh;
bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú cho học sinh”.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, 1997 tiếp tục khẳng định: “Phải
đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương
duy trong dạy học Toán là rất cần thiết.
- Do đặc thù của môn Toán, có hệ thống bài tập đa dạng phong phú, mà
một trong các chức năng quan trọng của nó là phát triển tư duy cho học sinh,
trong đó đỉnh cao là tư duy sáng tạo.
Vì thế, dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông giữ vai trò quan
trọng trong việc rèn luyện, bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh.
- Hệ thống các lớp chuyên Toán, các lớp chọn ngày càng được Nhà
nước quan tâm, phát triển ở khắp các tỉnh thành trên cả nước. Trong những
năm qua, các trường chuyên lớp chọn đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đã
bồi dưỡng được ngày càng nhiều học sinh giỏi Toán, phát hiện nhiều tài năng
Toán học, nhiều cán bộ kĩ thuật có chất lượng cao cho đất nước.
- Tuy nhiên, trong tình trạng hiện nay,phương pháp dạy học nói chung
và dạy Toán nói riêng ở nước ta còn có nhược điểm là: dạy học hiện nay còn
chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, học để thi, dạy để thi đua có thành
tích thi cử cao nhất. Vì thế, giáo viên chủ yếu là truyền thụ kiến thức, tập
trung rèn luyện kĩ năng giải Toán, nặng về cường độ lao động, mà nhẹ về rèn
luyện tư duy, nhất là tư duy sáng tạo cho học sinh. Học sinh luôn ở trạng thái
quá tải, làm các bài tập theo khuôn mẫu có sẵn, mà ít có điều kiện suy nghĩ,
tìm tòi, khám phá, phát triển bài Toán theo nhiều cách, nhiều tình huống.
Như vậy, đòi hỏi phải tìm ra các biện pháp thích hợp trong khi dạy
Toán để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao về nguồn nhân lực của xã hội.
1.3. Vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh đã được nhiều tác giả
trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
- Trên thế giới, các công trình của nhà tâm lý học Mỹ Giulford và
Torance đã nghiên cứu sâu về năng lực tư duy sáng tạo, bản chất của sự sáng
tạo trong các lĩnh vực khác nhau. Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh
trong nhà trường là chủ đề nhiều tác phẩm của các nhà tâm lý học, giáo dục học
phương Tây, Liên Xô (cũ), Nhật Bản, Trung Quốc. Trong cuốn "Sáng tạo toán
tập to
̣
a đô
̣
hình học không gian chương trình lớp 12 – ban nâng cao ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần phát triển tư
duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học giải bài tập tọa độ hình học
không gian lớp 12 nâng cao .
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển một số yếu tố cụ thể của tư
duy sáng tạo qua bài tập tọa độ hình học không gian lớp 12 - ban nâng cao.
Thời gian: Năm học 2011 – 2012.
4. Vấn đề nghiên cứu
Dạy bài tập tọa độ hình học không gian lớp 12 theo hướng nào thì phát
triển tư duy sáng tạo cho học sinh ?
5. Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nếu xây dựng được hệ
thống bài tập theo hướng phát triển tư duy sáng tạo và có phương pháp sử dụng
thích hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo, các yếu tố đặc trưng
của tư duy sáng tạo.
- Điều tra thực trạng dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở
một số trường THPT tại Hải Phòng. Qua đó, đề xuất các biện pháp dạy học
bài tập tọa độ không gian nhằm rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho học
sinh.
- Xây dựng và khai thác hệ thống bài tập tọa độ hình học không gian
lớp 12 phù hợp với sự phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
̣
t số biện pháp dạy học giải bài tập tọa độ không gian
12 theo hướng phát huy tư duy sáng tạo cho học sinh.
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho đồng
nghiệp và sinh viên khoa Toán trường Đại học Sư phạm và cho những ai quan
tâm đến dạy học bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2. Một số biện pháp dạy học giải bài tập tọa độ không gian lớp
12 theo định hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tƣ duy
Hiện thực xung quanh chúng ta có nhiều cái mà con người chưa biết.
Nhiệm vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người phải hiểu
biết cái chưa biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác, phải vạch ra
bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó gọi là
tư duy.
Theo Nguyễn Quang Cẩn [1], tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh
những thuộc tính, bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật
của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết .
Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được
tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới
quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận. Tư duy xuất hiện trong quá
trình hoạt động sản xuất của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một
cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật. Tư duy chỉ tồn tại
- Suy luận theo sơ đồ lôgíc chiếm ưu thế
- Khuynh hướng đi tìm con đường ngắn nhất đến đích
- Phân chí rành mạch các bước suy luận
- Sử dụng chính xác các kí hiệu
- Lập luận có căn cứ đầy đủ.
1.2. Tƣ duy sáng tạo
Theo từ điển, “sáng tạo” nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết vấn đề
mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có. Nội dung của sáng tạo gồm hai ý
chính là có tính mới (khác cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ). Như
vậy, sự sáng tạo cần thiết cho bất kì lĩnh vực hoạt động nào của xã hội loài người.
Sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là một
quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là
một năng lực của con người.
Trước đây, các học giả thường định nghĩa sáng tạo thông qua sản
phẩm sáng tạo. Ngày nay, tính sáng tạo thường được xem xét như là một quá
trình sáng tạo.
Wilson và Crutchfield định nghĩa tính sáng tạo như là sự đối lập với
tính phục tùng, nghĩa là làm những điều không được mong đợi và điều được
coi là khác thường.
Kubie xem tính sáng tạo như một năng lực tìm ra những mối quan hệ
mới
Guilford coi tính sáng tạo như những quá trình, những thuộc tính của trí
tuệ cần thiết cho thành tựu sáng tạo
Nhà tâm lí học Henry Glêitman định nghĩa: “Sáng tạo, đó là năng lực
tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu
ích” [5].
Nhà tâm lí học Karen Huffman cho rằng người có tính sáng tạo là
người tạo ra được giải pháp mới mẻ và thích hợp để giải quyết vấn đề [8].
Theo nhiều nhà tâm lí học và giáo dục học, sáng tạo là thành phần
Theo Nguyễn Bá Kim, “tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là
những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt
khác nhau của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả
năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả
mới. Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ” [10].
Trong tác phẩm “Sáng tạo Toán học”, G. Polya cho rằng: “Một tư duy gọi
là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó. Có thể
coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán
sau này. Các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số lượng càng
lớn, có dạng muôn màu muôn vẻ, thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao, thí
dụ: Lúc những cố gắng của người giải vạch ra được những phương thức giải áp
dụng cho những bài toán khác. Việc làm của người giải có thể là sáng tạo một
cách gián tiếp, chẳng hạn lúc ta để lại một bài toán tuy không giải được nhưng
tốt vì đã gợi ra cho người khác những suy nghĩ có hiệu quả” [2].
Parnes đã so sánh một cách đầy hình ảnh rằng tư duy sáng tạo “như một
chiếc kính vạn hoa mà khi ta xoay nó sẽ tạo ra biết bao hình ảnh rực rỡ sắc
màu của những ý tưởng mới lạ” [16].
Tác giả Trần Thúc Trình đã cụ thể hóa sự sáng tạo với người học Toán:
”Đối với người học Toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ
đương đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhận được cái mới mà học
chưa từng biết. Như vậy, lời giải một bài toán cũng được xem như là mang
yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải không bị những mệnh lệnh nào đó chi
phối (từng phần hoặc hoàn toàn), tức là nếu người giải chưa biết trước thuật
toán để giải và phải tiến hành tìm hiểu những bước đi chưa biết trước. Nhà
trường phổ thông có thể chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng hoạt động sáng tạo
theo nội dung vừa trình bày”
Nếu hiểu theo định nghĩa thông thường và phổ biến nhất, tư duy sáng
tạo là tư duy tạo ra cái gì đó mới. Tư duy sáng tạo dẫn đến những tri thức mới
về thế giới và các phương thức hoạt động.
Trong trường hợp học sinh tự khám phá, tự tìm ra cách chứng minh
định lý mà học sinh đó chưa biết đến – đó là tư duy sáng tạo
Cùng với quan điểm như trên, tác giả Trần Bá Hoành khẳng định:
“ Sáng tạo thường được hiểu là đẻ ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích,
phù hợp với hoàn cảnh. Tính sáng tạo thường liên quan đến tính tự giác, tích
cực, chủ động, độc lập, tự tin. Người có tư duy sáng tạo không chịu suy nghĩ
theo lề thói chung, không bị ràng buộc bởi những quy tắc hoạt động cứng
nhắc đã học được, ít chịu ảnh hưởng của người khác”
Tôn Thân quan niệm: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo
ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao … Tư duy sáng
tạo là tư duy độc lập và nó không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có. Tính độc
lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp.
Hình 1.2
Mỗi sản phẩm của tư duy sáng tạo đều mang rất đậm dấu ấn của mỗi cá nhân
đã tạo ra nó” [10, tr. 18].
Như vậy, tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng
mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao.
Tuy nhiên, tư duy sáng tạo có tính chất tương đối. Một phát hiện có thể
được coi là sáng tạo trong một hoàn cảnh nào đó, chưa chắc được coi là sáng
tạo trong một tình huống, hoàn cảnh khác. Một phát hiện có thể coi là sáng
tạo với người này nhưng không mới mẻ với người khác, sáng tạo ở thời điểm
này nhưng không sáng tạo ở thời điểm khác. Bởi vì, tính mới mẻ của hoạt
động tư duy sáng tạo có thể hiểu theo hai cấp độ:
+ Theo nghĩa khách quan: mới mẻ vì từ trước chưa hề có, chưa
có người nào sáng tạo ra, sản phẩm có ý nghĩa với thực tiễn loài người.
+ Theo nghĩa chủ quan: sản phẩm không mới mẻ đối với người
khác nhưng mới mẻ với người “ đẻ” ra nó. Tuy sản phẩm có ít ý nghĩa với
hoạt động thực tiễn loài người, nhưng có ý nghĩa với sự phát triển nhân cách
của người sáng tạo ra nó, với những người quan tâm đến nó, chưa biết về nó.
sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá và các phương pháp suy luận
như quy nạp, suy diễn, tương tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải
pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại.
- Một đặc trưng khác của tính mềm dẻo của tư duy đó là khả năng suy
nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc các kiến thức, kĩ
năng có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới trong đó có những yếu tố đã
thay đổi , có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm,
những phương pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trước.
- Tính mềm dẻo còn thể hiện ở khả năng nhận ra vấn đề mới trong điều
kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
Như vậy, tính mềm dẻo là một trong những đặc trưng cơ bản của tư duy
sáng tạo. Do đó, để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo viên có thể tổ
chức cho học sinh giải các bài tập mà thông qua đó có thể rèn luyện được tính
mềm dẻo của tư duy.
1.3.2. Tính nhuần nhuyễn
Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách
nhanh chóng giữa sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn
cảnh, đưa ra giả thuyết mới. Các nhà tâm lí học coi yếu tố chất lượng của ý
tưởng sinh ra làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo.
Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng
nhất định các ý tưởng. Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả
năng xuất hiện ý tưởng độc đáo. Trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh
chất lượng.
Tính nhuần nhuyễn còn được thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:
- Một là tính đa dạng của các cách xử lí khi giải toán, khả năng tìm
được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau. đứng trước
một vấn đề phải giải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn thường nhanh
chóng tìm và đề xuất được nhiều phương án khác nhau, từ đó tìm ra phương
án tối ưu.
phân tích và tổng hợp: dùng kĩ năng phân tích khi tìm tòi lời giải, sử dụng kĩ
năng tổng hợp để trình bày lời giải. Người giáo viên cần có phương pháp dạy
học thích hợp để bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
1.4. Vận dụng tƣ duy biện chứng để phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh
Tư duy biện chứng có thể phản ánh đúng đắn thế giới xung quanh và
nhiệm vụ của người giáo viên là rèn cho học sinh năng lực xem xét các đối
tượng và hiện tượng trong sự vận động, trong những mối liên hệ, mối mâu
thuẫn và trong sự phát triển.
Tư duy biện chứng đóng vai trò quan trọng, giúp ta phát hiện vấn đề và
định hướng tìm cách giải quyết vấn đề đồng thời củng cố lòng tin mỗi khi
việc tìm tòi tạm thời bị thất bại.
Tư duy sáng tạo là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt động và suy nghĩ
nhận thức mà những hoạt động nhận thức ấy luôn theo một phương diện mới,
giải quyết vấn đề theo cách mới và vận dụng trong hoàn cảnh mới đồng thời
xem xét sự vật hiện tượng, về mối quan hệ theo một cách mới có ý nghĩa, có
giá trị. Để đạt được điều đó, khi xem xét một vấn đề, chúng ta phải xem xét
nó dưới nhiều khía cạnh khác nhau và đặt vào những hoàn cảnh khác nhau
…., có như vậy mới có thể giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Mặt khác, tư
duy biện chứng giúp ta xem xét một cách đầy đủ với tất cả tính phức tạp của
nó tức là xem xét sự vật ở tất cả các mặt, trong tổng hoà các mối quan hệ. Đây
là cơ sở để học sinh học toán một cách sáng tạo, không gò bó và đưa ra nhiều
lời giải khác nhau.
Tóm lại, giáo viên cần rèn tư duy biện chứng cho học sinh, từ đó có thể
rèn luyện được tư duy sáng tạo.
1.5. Tiềm năng của hình học trong việc bồi dƣỡng tƣ duy sáng tạo cho học sinh
Ở trung học phổ thông, học sinh không chỉ được cung cấp những kiến
thức Toán học mà còn được luyện kĩ năng vận dụng Toán học, tính độc lập,
tính độc đáo và khả năng sáng tạo.
Các nhà tâm lí học cho rằng: Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các
với các đặc trưng: nhanh chóng phát hiện vấn đề, tìm ra kết quả mới, tạo ra
bài toán mới, khả năng nhanh chóng phát hiện ra các mâu thuẫn, thiếu lôgic.
Ngoài ra, tư duy hình học mang những nét đặc trưng quan trọng và cơ
bản của tư duy toán học. Việc phát triển tư duy hình học luôn gắn với khả
năng phát triển trí tưởng tượng không gian, phát triển tư duy hình học luôn
gắn liền với việc phát triển của phương pháp suy luận. Phát triển tư duy hình
học ở cấp độ cao sẽ kéo theo sự phát triển tư duy đại số. Như vậy, để nâng
dần cấp độ tư duy trong dạy học hình học, việc dạy học cần chú ý vào việc
phát triển trí tưởng tượng không gian thông qua việc giúp học sinh hình thành
và tích luỹ các biểu tượng không gian một cách vững chắc, biết nhìn nhận các
đối tượng hình học ở các không gian khác nhau, biết đoán nhận sự thay đổi
của các biểu tượng không gian khi thay đổi một số sự kiện.
Có thể thấy tiềm năng của chủ đề hình học trong việc bồi dưỡng tư duy
sáng tạo cho học sinh là rất lớn.
1.6. Dạy tƣ duy sáng tạo cho học sinh
Theo Eric Jensen [26] , trường học muốn đào tạo nên những học sinh
có tư duy sắc bén, cần phải tạo ra nhiều tương tác tư duy hơn nữa trong lớp
học, từ hình thức thảo luận nhóm lớn về các vấn đề gây tranh cãi đến hình
thức giải quyết vấn đề theo cặp hay nhóm nhỏ.
Một cách trau dồi khả năng tư duy nhạy bén trong lớp học là khiến học
sinh hiểu được những đặc điểm của nó, có thể là giảng giải cho họ hoặc giúp
họ tự tìm hiểu. Cách thứ hai, giáo viên có thể cho học sinh nghiên cứu cuộc
sống của những người có tư duy phê phán và sáng tạo hoặc phỏng vấn những
người biết về trình độ tư duy của họ.
Ngoài ra, giáo viên cũng có thể trau dồi tư duy cho học sinh bằng nhiều
cách khác:
- Chuẩn bị tài liệu bổ trợ trong quá trình dạy học. Ví dụ như tài liệu về
nghệ thuật ngôn ngữ, ngôn ngữ cơ thể, Thay vì việc sử dụng ngôn ngữ trong
bài, giáo viên nên sử dụng những từ vựng, kích thích tư duy phê phán và sáng
- Thay đổi vị trí của họ khi bằng chứng được đưa ra,sẵn sang chấp nhận
khuyết điểm.
- Nắm được cảm giác, trình độ hiểu biết, độ tinh tế của người khác