1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH THẢO
NHỮNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN
CHƢƠNG THEO HƢỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN
ĐỌC Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội – 2011 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Tác phẩm văn chương
3
PP
Phương pháp
4
PPDH
Phương pháp dạy học
5
HS
Học sinh
6
GV
Giáo viên
7
SGK
Sách giáo khoa
8
CNTT
Công nghệ thông tin
9
THPT
Trung học phổ thông
chương của học sinh trung học ……………………………………………….34
1.2. Thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT ……………………….38
1.2.1. Phương thức dạy học tác phẩm văn chương hiện nay …………………38
1.2.2. Học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương hiện nay ……………….43
1.2.3. Nhận xét thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT…………… 45 6
Chƣơng 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG THEO
HƢỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN ĐỌC ……………………………… 48
2.1. Năng lực văn học của bạn đọc học sinh- tiền đề để dạy học tác
phẩm văn chương …………………………………………………………….48
2.1.1. Những hiểu biết cơ bản về năng lực văn học ………………………….48
2.1.2. Năng lực tiếp nhận văn học…………………………………………… 49
2.1.3. Năng lực sáng tạo văn học …………………………………………… 55
2.2. Những định hướng chính cho việc dạy học tác phẩm văn chương trong
nhà trường …………………………………………………………………….62
2.2.1. Căn cứ đặc trưng của tác phẩm văn chương trong nhà trường vừa
là nguồn thông tin thẩm mĩ, vừa là công cụ giáo dục ……………………… 62
2.2.2. Căn cứ đặc điểm của người học sinh về mặt tâm lý cảm thụ văn học và
vị trí trong cơ chế dạy học văn ……………………………………………….63
2.2.3.Căn cứ mục đích của việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà
trường …………………………………………………………………………64
2.3. Những biện pháp đề xuất trong dạy học tác phẩm văn chương theo
hướng coi học sinh là bạn đọc ……………………………………………….65
2.3.1. Đọc văn …………………………………………………………………65
2.3.2. Dạy học nêu vấn đề …………………………………………………….73
2.3.3. Đối thoại đa chiều (Bạn đọc học sinh- giáo viên- nhà văn)…………… 76
2.3.4. Thực hành thuyết trình, bình giảng …………………………………….79
2.3.5. Thực hiện dự án ……………………………………………………… 83
vận dụng những thành tựu mới của lý thuyết tiếp nhận về mối quan hệ giữa
tác phẩm và bạn đọc.
Tôn trọng tồn tại khách quan của tác phẩm qua văn bản là cần thiết, là
khoa học, nhưng văn bản nói chung vẫn chưa phải là tác phẩm. Trong cơ chế
dạy- học văn bản chưa thể trở thành đối tượng thẩm mỹ, đối tượng cảm thụ
phân tích của học sinh. Muốn văn bản trở thành một yếu tố thực sự trong cơ chế
dạy-học văn, tác phẩm phải chuyển hóa từ một tác phẩm bên ngoài, một tác
phẩm khách quan xa lạ trở thành đối tượng hứng thú, đối tượng quan tâm của
bản thân học sinh. Tác phẩm từ chỗ là tiếng nói nội tâm của nhà văn phải trở
thành một vấn đề nội tâm của học sinh- bạn đọc. Tác phẩm đến đây mới thực sự 2
hoàn tất quá trình chuyển hóa từ một văn bản thành một tác phẩm văn học và đi
vào quá trình dạy-học.
1.3. Bạn đọc là nhân tố không thể thiếu trong sự vận hành của tác phẩm văn
chương.
Bàn về mối quan hệ giữa tác phẩm văn chương với bạn đọc, nhà thơ Xô
Viết Marsac đã có lý khi nói rằng: “Bạn đọc là nhân vật không thể không có
được. Không có bạn đọc, không có sách của chúng ta và cả những tác phẩm
của Homere, Dante, Shakespeare, Đốt, Puskin, tất cả chỉ là đống giấy chết”[14,
tr.12]. Vị trí đặc biệt quan trọng của khâu cảm thụ về mặt lý luận cũng như thực
tiễn hoạt động văn học nghệ thuật là điều không có gì đáng nghi ngại. Bạn đọc
là một nhân tố đặc biệt quan trọng để đưa tác phẩm vào đời sống. Như vậy trong
quá trình dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông việc coi đối
tượng học sinh là bạn đọc là điều hoàn toàn phù hợp.
1.4. Việc dạy học tác phẩm văn chương ở THPT đến nay vẫn còn thiên lệch
về văn bản mà coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh.
Điều đó cũng phần nào chịu ảnh hưởng của khuynh hướng phê bình mới
và chủ nghĩa cấu trúc. Sự cần thiết chuyển trung tâm từ văn bản và giáo viên
việc truyền thụ một khối kiến thức mà còn là sự phát triển một số kĩ năng cho
người học. Lý thuyết học sinh là trung tâm là một khuynh hướng tiến bộ lành
mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người học sinh. Đó là những điều
hấp dẫn, hứng thú, đáng chú ý ở tư tưởng Dewey. Tư tưởng học sinh là trung
tâm đã một thời ảnh hưởng nhiều nước phương Tây và cả Nhật Bản. Tuy nhiên
còn một số điểm bất cập thể hiện tính cực đoan của chủ nghĩa nhi đồng học hơn
nữa Dewey không đề cập trực tiếp đến vấn đề dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường. 4
2.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
Xét trong lịch sử dạy học của nước ta, chú trọng đến đối tượng người
học, đến chủ thể học sinh trong quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường,
nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tính năng động, tính sáng tạo của bản thân
người học thì đó là một phương hướng mà bản thân chúng ta nhiều năm đã có
những cố gắng đáng kể với những tư tưởng như “Biến quá trình đào tạo thành
quá trình tự đào tạo”, “thầy chủ đạo trò chủ động”, “dạy học cá thể hóa”, “dạy
học nêu vấn đề”, “học sinh là chủ thể sáng tạo”, “học sinh là bạn đọc”… Cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nói về vấn đề phát huy óc thông minh,
trí sáng tạo của học sinh. Chú trọng đến học sinh không phải là điều hoàn toàn
mới lạ, có mới lạ chăng là thái độ tuyệt đối hóa vai trò học sinh thành nhân vật
trung tâm, điều mà chính ở đất nước của nó cũng đã lên án từ lâu. Trong tình
hình giáo dục nhiều năm nay của chúng ta còn quá trì trệ dưới ảnh hưởng của
“giáo dục truyền thống”, còn nặng về uy thế người thầy, còn quá thiên về lối
thuyết giảng thì một sự nhắc nhở điều chỉnh, quan tâm thỏa đáng đến người học,
chủ thể học sinh là một việc làm có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới
phương pháp đào tạo và giảng dạy ở nhà trường.
Tác giả Phan Trọng Luận là người có nhiều bài viết và công trình về
phương pháp dạy học tác phẩm văn chương nghiên cứu về nội dung này; đáng
- Khách thể nghiên cứu: Dạy và học của giáo viên và học sinh THPT.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do những điều kiện hạn chế nhất định, đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn
trong phạm vi về những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường
THPT theo hướng coi học sinh là bạn đọc. 6
6. Mẫu khảo sát
- Giáo án dạy học của 3 tác phẩm văn chương.
- Phiếu thăm dò ý kiến học sinh về thực trạng dạy học tác phẩm văn
chương ở nhà trường phổ thông hiện nay.
7. Hệ thống các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong đề tài
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng hệ thống các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa
những vấn đề lý luận về Dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường Phổ Thông
hiện nay và Dạy học theo hướng coi học sinh là bạn đọc.
Phương pháp đàm thoại: tiến hành trao đổi trực tiếp với học sinh để tìm
hiểu nhận thức của học sinh về Dạy học tác phẩm văn chương và quan điểm đối
với bộ môn Văn.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng Dạy học tác
phẩm văn chương ở nhà trường Phổ Thông hiện nay và quan điểm của học sinh
đối với hướng tiếp cận Dạy học coi học sinh là bạn đọc.
Phương pháp thống kê toán học: Được sử dụng để phân tích và xử lý
các kết quả nghiên cứu.
8. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nhằm tìm hiểu một số phương diện của dạy và học tác phẩm văn
chương ở nhà trường THPT hiện nay.
9. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT
VĂN CHƢƠNG THEO HƢỚNG COI HỌC SINH LÀ BẠN ĐỌC Ở
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận diện về tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà
trường
1.1.2.1. Tác phẩm văn chương
Tác phẩm văn chương xét từ những góc độ khác nhau, trong những
trường hợp và mục đích không giống nhau, đã được các nhà thơ, nhà văn, nhà lý
luận đưa ra những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên từ những ý kiến đó chúng ta
giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường.
Xét về mục đích sáng tác, tác phẩm văn chương thể hiện ý định của người
cầm bút.Ý định đó bao giờ cũng được thể hiện qua nội dung và hình thức nghệ
thuật. Nội dung đó được cấu tạo nên bởi hai yếu tố hợp thành gắn quyện vào
nhau là hiện thưc khách quan và chủ quan của tác giả, tùy tài năng sáng tạo của
nhà văn và đặc điểm loại thể mà phương thức biểu hiện nội dung hình thức có
điểm khác biệt. Nhưng nhìn chung dù là tự sự hay trữ tình, tác phẩm văn học
đều lấy ngôn ngữ làm vật liệu thể hiện. Ngôn ngữ cấu tạo thành hình tượng tính
cách, trong từng thể loại lại có những đặc điểm riêng.
Sức mạnh của tác phẩm văn chương chính là ở mặt tình cảm. Nhà văn
muốn bày tỏ một vấn đề, một quan niệm, một thái độ sống đến những bạn đọc
nhất định cho nên bất cử tác phẩm nào cũng là một lời tri âm, một tiếng lòng
của tác giả. Tác giả dẫn dắt và thuyết phục người đọc bằng cách đốt cháy trong 9
lòng người đọc những ngọn lửa tình cảm, khêu gợi những rung động tâm hồn
của họ qua cầu nối tác phẩm.
Mối liên hệ giữa bạn đọc với tác phẩm văn chương là một mối liên hệ
giao tế xã hội, một mối liên hệ có lựa chọn đầy hứng thú với sự vận động của
những năng lực tâm lý đặc biệt. Như Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh vai trò của
sống, tác phẩm văn chương có những quan hệ máu thịt và tác động ngược lại
các yếu tố trên, như Bêlinxki viết: “Nghệ thuật không chỉ nhận thức cuộc sống,
mà nó còn là câu hỏi và câu trả lời về cuộc sống”. Những quan hệ đó không
phải là những công thức cứng nhắc, nhân tố trên thay đổi thì tự bản thân tác
phẩm cũng thay đổi Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc là mối quan hệ qua
lại một cách hữu cơ; tác phẩm đến với bạn đọc vốn không đồng nhất về diều
kiện cảm thụ, nên tác động của tác phẩm đối với mỗi bạn đọc và ở mỗi thời kì
cũng không giống nhau. Người đọc có những điều kiện chủ quan, có sự lựa
chọn nhất định đối với tác phẩm. Trong điều kiện tác phẩm đối với bạn đọc học
sinh, ở khuôn khổ nhà trường, không hoàn toàn giữ nguyên vẹn những quan hệ
vốn có với bạn đọc nói chung.
Đối với sách giáo khoa trong nhà trường, tác phẩm trước hết chịu sự lựa
chọn của bản thân người soạn sách, tuân theo những yêu cầu của cơ quan giáo
dục. Những tác phẩm hay không nhất thiết đã có thể chọn dạy trong nhà trường,
cũng như một tác phẩm hay nhiều khi vẫn không thể và không có diều kiện giữ
nguyên vẹn khi đi vào trong sách giáo khoa.
Sức mạnh của tác phẩm văn học đối với học sinh luôn được nhân lên bởi
năng lực của người giáo viên. Tác phẩm đến với học sinh thông qua vai trò
trung gian của giáo viên, nhưng đồng thời đây cũng là cơ sở để học sinh tự nhận
thức dựa trên vốn kinh nghiệm và đặc điểm tâm sinh lý của bản thân các em.
Cho nên một định nghĩa chung về tác phẩm văn chương thường được xác định 11
trên cơ sở lý luận chung của khoa văn học, cần được đặt trong mối liên hệ cụ
thể với thực tiễn nhà trường, với bản thân người đọc- học sinh dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của giáo viên văn.
Tác phẩm văn chương trong nhà trường không chỉ là một phương tiện
nhận thức mà còn là đối tượng thẩm mĩ, đồng thời còn là một cơ sở để hình
thành những hiểu biết về lịch sử văn học và là công cụ giáo dục đặc biệt giúp
thành và tác động qua lại giữa các thành tố trong quá trình dạy học văn. Yếu tố
và liên hệ là những thành tố tạo nên cấu trúc. Cấu trúc xét trong sự vận động
của nó là cơ chế. Tiếp đó, hệ thống cấu trúc trong dạy học TPVC được thể hiện
thông qua mối quan hệ nhiều chiều giữa những thực thể học sinh- giáo viên-
nhà văn thông qua văn bản. Cơ chế dạy học văn với quan điểm hệ thống cấu
trúc được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau. Yếu tố ngoài hệ thống và cấu trúc
bên trong của bản thân cơ chế, cấu trúc nội tại của những yếu tố trong cơ chế.
Những yếu tố ngoài hệ thống bao gồm môi trường xã hội, đời sống chính trị, tư
tưởng văn hóa thẩm mĩ, môi trường học đường… Những yếu tố cấu trúc của
của cơ chế dạy học văn bao gồm những chủ thể học sinh, chủ thể giáo viên, chủ
thể nhà văn thông qua văn bản; những liên hệ hữu cơ biện chứng giữa giáo
viên- học sinh- nhà văn trên văn bản. Ngoài những yếu tố ngoài hệ thống, bản
thân mỗi yếu tố trong cơ chế cũng là một hệ thống nhỏ cần được nghiên cứu
công phu như tác phẩm, chủ thể học sinh… Quan điểm hệ thống cấu trúc cho
phép nhìn được toàn diện hơn mọi yếu tố của quá trình dạy và học văn trong
nhà trường ở những cấp độ khác nhau, tuy nhiên vẫn không giải quyết được
những vấn đề cơ bản trong cải tiến phương pháp dạy học văn. Sai lầm cơ bản
của quan điểm dạy học văn truyền thống là nhận thức phiến diện mất cân đối về
các yếu tố đó trong cơ chế dạy học văn. Ta thấy rõ trong những trường hợp sau
đây:
- Cơ chế I: Giáo viên có tiếp xúc với văn bản. Mối liên hệ giữa nhà văn
và giáo viên được xác lập. Nhưng trong cơ chế này đã mất hẳn đi mối liên hệ cơ 13
bản giữa nhà văn với học sinh. Liên hệ giữa giáo viên và học sinh là liên hệ một
chiều, giáo viên tiếp nhận tác phẩm rồi truyền đến cho học sinh, học sinh nghe
và ghi nhớ điều giáo viên đã truyền đạt, giáo viên cũng không cần biết phản ứng
tâm lý ở học sinh như thế nào về tác phẩm. Đây là hình mẫu của phương pháp
dạy học truyền thống- giáo viên là trung tâm, tương tác một chiều và học sinh
1.1.3.1.1. Khái niệm Bạn đọc
Bạn đọc là khái niệm chỉ người đọc nói chung. Từ diển Tiếng Việt
(Hoàng Phê chủ biên) giải thích: “Bạn đọc: người đọc sách báo; độc giả, trong
quan hệ với tác giả”. Lý luận văn học xem bạn đọc là yếu tố cuối cùng trong
vòng đời của một tác phẩm và hoạt động tiếp nhận của người đọc là công đoạn
hoàn tất quá trình sáng tác- giao tiếp văn học:
Hiện thực đời sống Bạn đọc Nhà văn Tác phẩm
Cũng như ba thành tố hiện thực đời sống, nhà văn và tác phẩm; vị trí và
vai trò của bạn đọc cùng sự tiếp nhận của họ đã được đề cập đến từ rất lâu trong
đời sống văn học. Thi hào Nguyễn Du cách đây 200 năm đầy băn khoăn: “Bất
tri tam bách dư niên hậu. Thiện hạ hà nhân khấp Tố Như” (Độc Tiểu Thanh Kí)
hay như M. Gorki cảm thán: “Người tạo nên tác phẩm là tác giả, nhưng người 15
quyết định số phận của tác phẩm lại là độc giả” ta có thể thấy bạn đọc là thành
phần không thể thiếu và có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn học nói
chung và sự tồn tại của một sinh thể nghệ thuật nói riêng. Nếu xem quá trình
sáng tác là một hoạt động sản xuất (sản xuất tinh thần) và tác phẩm văn chương
là một loại sản phẩm (sản phẩm tinh thần) thì vai trò của người đọc có thể thấy
rõ trong phát biểu nổi tiếng của Mac: “Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động
sản xuất, mang lại cho sản phẩm một sự trọn vẹn với tư cách là sản phẩm”. Đó
là những căn cứ quan trọng khẳng định tư cách của bạn đọc- người góp phần
quyết định sức sống của tác phẩm văn chương sau khi “chào đời”.
- Thứ nhất: sự tái hiện mang tính sáng tạo. Do đặc trưng của chất liệu
ngôn từ nên hình tượng văn học có tính phi vật thể, không thể cảm nhận một
cách trực tiếp; nó phải thông qua tưởng tượng của người đọc được gắn với
thuộc tính tất yếu là sự sáng tạo. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khung
cảnh mùa xuân hiện lên thông qua tưởng tượng của đọc giả thật mĩ lệ “Cỏ non
xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, không có trải
nghiệm cuộc sống và sự sáng tạo qua lăng kính của người đọc thì mùa xuân
trong thơ Nguyễn Du đâu thể khoác lên mình màu xanh đẹp truyệt trần và sự
nên thơ, giàu sức sống đến vậy. Nhờ có tái hiện mang tính sáng tạo, hình tượng
văn học sống động, chân thực và lôi cuốn hơn.
- Thứ hai, trong quá trình tiếp nhận bạn đọc đã “điền thêm” vào những
“khoảng trống”, những “điểm trắng”, mà nhà văn đã cố tình hoặc vô tình tạo ra.
Điều này dễ dàng nhận thấy trong các tác phẩm có kết thúc mở, như hình ảnh
chị Dậu chạy ra trong bóng tối mịt mùng của Tắt đèn, hình ảnh lá cờ đỏ sao
vàng trong truyện ngắn của Kim Lân, hình ảnh lò gạch trong Chí Phèo … đều
để lại trong lòng người đọc những cảm xúc và mường tượng về cái kết của câu
truyện, và hầu như mỗi người đều tự bản thân xây dựng nên một cái kết cho
nhân vật của mình. 17
- Thứ ba, người đọc bổ sung các phạm vi ý nghĩa mới, giá trị mới cho tác
phẩm. Vai trò sáng tạo của bạn đọc thể hiện rõ nét nhất là ở sự mở rộng các giới
hạn, phạm vi nghĩa cho tác phẩm. Đọc tác phẩm là đưa nó vào văn cảnh mới,
quan hệ mới, xúc cảm mới riêng tư của bạn đọc để từ đó phát hiện các lớp nghĩa
mà trước đó tác giả và bạn đọc khác chưa nghĩ đến. Điều này được thể hiện
trong nhiều phương diện khác nhau, ví dụ trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ,
bản thân nhà thơ khi sáng tác cũng không gắn ngay cho con hổ là tượng trưng
cho người dân mất nước, vườn bách thú là “nhà tù chế độ”, tuy nhiên sau khi
bài thơ đi vào hiện thực cuộc sống, chính người đọc đã tạo nên lớp ý nghĩa thứ
sinh tích cực, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận văn học dưới sự hướng dẫn
của giáo viên; là chủ thể cảm thụ tác phẩm, là người đối thoại với nhà văn qua
tác phẩm, đồng hành với giáo viên và các bạn lĩnh hội tri thức.
HS là một nhân tố căn bản trong hoạt động dạy học nên một quan niệm
mới về người HS tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi trong cơ chế, quá trình,
PPDH tác phẩm… Nói cách khác, một quan niệm mới về người HS sẽ đưa đến
một sự thay đổi về hệ hình dạy học, làm chuyển động tư duy dạy học văn truyền
thống sang quỹ đạo mới. Theo ý nghĩa đó, Học sinh là bạn đọc là quan niệm
hiện đại về vị thế của người học trong giờ dạy học văn, thể hiện ý nghĩa mới về
hệ hình phương pháp, phù hợp với bản chất của dạy học tác phẩm văn chương
ở nhà trường phổ thông trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động của
người học.
Với cách định danh như trên, gọi tên Học sinh là Bạn đọc trong giờ dạy
học TPVC là một quan niệm mới về vị thế của người HS, dẫn đến những điều
chỉnh của cả hệ hình dạy học, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về dạy học TPVC
hiện nay.
1.1.3.2. Lí do dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc 19
1.1.3.2.1. Bạn đọc là nhân tố không thể thiếu trong sự vận hành của tác phẩm
văn chương.
TPVC là đứa con tinh thần được nhà văn dày công vun trồng từ mảnh đất
hiện thực cuộc sống, qua đôi mắt lĩnh hội của người nghệ sĩ tạo nên hình hài
cho tác phẩm. Song lúc này, TPVC vẫn chỉ mang cái vỏ mà chưa có hồn, chỉ
như đứa trẻ lọt lòng mà chưa có hiểu biết và khôn lớn. Qua sự tiếp nhận và lĩnh
hội của bạn đọc, tác phẩm được khai thác theo những quan điểm và chiều hướng
khác nhau, ý nghĩa tác phẩm sâu sắc và đa dạng với nhiều góc độ, nhiều cảm
xúc… lúc này văn bản tác phẩm mới chính thức trở thành TPVC, chính thức
hiện hữu trong đời sống văn học. Như vậy, không có bạn đọc thì không có
đọc là hướng dạy học ưu thế giúp phát huy khả năng của người học và người
dạy đồng thời tiếp cận phương pháp dạy học hiện đại tại các nước có nền giáo
dục tiên tiến.
1.1.4. Những thay đổi cơ bản trong phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc
1.1.4.1. Dạy học tác phẩm văn chương ở THPT theo hướng coi học sinh là bạn
đọc đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản về hệ hình
Hệ hình (paradigm) dạy học là tổng thể các quan niệm, cơ chế, nguyên
tắc, phương pháp… Dạy học TPVC theo hướng coi HS là bạn đọc là sự chuyển
đổi về hệ hình dạy học văn từ hệ hình giảng văn lấy thầy lam trung tâm sang hệ
hình đọc văn coi trò như một trung tâm trong cơ chế dạy học, từ chỗ coi việc
truyền thụ tri thức văn của thầy là chủ đạo sang việc đặt hoạt động tiếp nhận văn
học của HS vào trục chính của giờ dạy học TPVC,
Sự thay đổi cơ bản về hệ hình nhận thấy rõ nét thông qua cơ chế dạy học
văn mới như sau