Những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông - Pdf 10

Những biện pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở
trung học phổ thông

Nguyễn Thanh Thảo

Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS Phan Trọng Luận
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tế về dạy học tác phẩm văn chương
theo hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông. Nghiên cứu những biện
pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc: Năng lực văn
học của bạn đọc học sinh- tiền đề để dạy học tác phẩm văn chương (những hiểu biết
cơ bản về năng lực văn học, năng lực tiếp nhận văn học, năng lực sáng tạo văn học);
những định hướng chính cho việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (căn
cứ đặc trưng của tác phẩm văn chương trong nhà trường vừa là nguồn thông tin thẩm
mĩ, vừa là công cụ giáo dục, căn cứ đặc điểm của người học sinh về mặt tâm lý cảm
thụ văn học và vị trí trong cơ chế dạy học văn, căn cứ mục đích của việc dạy học tác
phẩm văn chương trong nhà trường); những biện pháp đề xuất trong dạy học tác phẩm
văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc. Trình bày giáo án thể nghiệm: bài
“Hai đứa trẻ- Thạch Lam” (Tiết 37- 38 Ngữ văn 11), bài “Tam Quốc Diễn Nghĩa”
(Ngữ Văn 10).

Keywords: Ngữ văn; Phương pháp giảng dạy; Tác phẩm văn học; Trung học phổ
thông

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

điều hoàn toàn phù hợp.
1.4. Việc dạy học tác phẩm văn chương ở THPT đến nay vẫn còn thiên lệch về văn bản mà
coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh. Điều đó cũng phần nào chịu ảnh hưởng của
khuynh hướng phê bình mới và chủ nghĩa cấu trúc. Sự cần thiết chuyển trung tâm từ văn bản
và giáo viên sang trung tâm là học sinh đang được đặt ra trong lí luận dạy học hiện đại về tác
phẩm văn chương ở nhà trường.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước
Quá trình tìm tới con đường đổi mới phương pháp dạy học nhiều thập kỉ qua ở nhiều
nước phương Tây đặc biệt đề cao lý thuyết học sinh là trung tâm, coi như một sự đối trọng lại
phương pháp truyền thống. Công đầu thuộc về nhà sư phạm nổi tiếng đầu thế kỉ XX ở Mĩ, đó
là J.Dewey. Một phương châm nổi tiếng hồi đó được Dewey nhắc tới như một sự cách tân của
thế giới sư phạm là “Học sinh là mặt trời xung quanh nơi hội tụ mọi phương tiện giáo dục”.
Bằng những hoạt động tại Trường Thực nghiệm giáo dục, J.Dewey có được những tư liệu cần

3
thiết để viết nên những tác phẩm quan trọng về giáo dục, đầu tiên là “Trường học và xã hội”
(The School and Society, 1899) và sau đó là Trẻ em và chương trình học (1902). Đây là hai
tác phẩm đã trình bày và chứng minh cho những nguyên lý chủ yếu của triết lý giáo dục do
ông khởi xướng. Về sau, những ý tưởng này đã được J.Dewey triển khai sâu hơn, khái quát
hơn trong Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education, 1916) - tác phẩm được chính ông
khẳng định là cuốn sách tổng kết đầy đủ nhất “toàn bộ quan điểm triết học” của mình. Tư
tưởng của Dewey muốn bổ sung nguồn kiến thức cho học sinh ngoài sách giáo khoa và lời
giảng của giáo viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh kể cả những hoạt động gắn với
đời sống; dạy học không chỉ là công việc truyền thụ một khối kiến thức mà còn là sự phát
triển một số kĩ năng cho người học. Lý thuyết học sinh là trung tâm là một khuynh hướng tiến
bộ lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người học sinh. Đó là những điều hấp
dẫn, hứng thú, đáng chú ý ở tư tưởng Dewey. Tư tưởng học sinh là trung tâm đã một thời ảnh
hưởng nhiều nước phương Tây và cả Nhật Bản. Tuy nhiên còn một số điểm bất cập thể hiện
tính cực đoan của chủ nghĩa nhi đồng học hơn nữa Dewey không đề cập trực tiếp đến vấn đề

cần được ứng dụng thực tiễn một cách có hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề
này này với mong muốn đóng góp đổi mới giờ dạy học TPVC trong nhà trường phổ thông. 3. Mục tiêu nghiên cứu
Khẳng định vai trò của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương và đề ra được
những biện pháp nhằm hiện đại hóa phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ở THPT.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình tâm lí hoạt động của học sinh trong giờ dạy học tác
phẩm văn chương với tư cách là bạn đọc.
- Khách thể nghiên cứu: Dạy và học của giáo viên và học sinh THPT.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do những điều kiện hạn chế nhất định, đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi về
những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT theo hướng coi học sinh
là bạn đọc.
6. Mẫu khảo sát
- Giáo án dạy học của 3 tác phẩm văn chương.
- Phiếu thăm dò ý kiến học sinh về thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông hiện nay.
7. Hệ thống các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong đề tài
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng hệ thống các phương pháp sau: Phương pháp
nghiên cứu lý luận, Phương pháp đàm thoại, Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, Phương
pháp thống kê toán học

8. Câu hỏi nghiên cứu

5
Câu hỏi nhằm tìm hiểu một số phương diện của dạy và học tác phẩm văn chương ở
nhà trường THPT hiện nay.
9. Giả thuyết nghiên cứu

liên hệ sinh mệnh của tác phẩm đối với đời sống.

6
1.1.2.2. Tác phẩm văn chương trong nhà trường
Vòng đời của tác phẩm văn chương là một vòng tròn khép kín đan kết nhiều quá trình
và nhiều quan hệ: cuộc sống- nhà văn- tác phẩm- bạn đọc- cuộc sống. Trong quá trình vận
động và biến đổi đi từ cuộc sống và trở về với cuộc sống, tác phẩm văn chương có những
quan hệ máu thịt và tác động ngược lại các yếu tố trên.
Sức mạnh của tác phẩm văn học đối với học sinh luôn được nhân lên bởi năng lực của
người giáo viên.
Tác phẩm văn chương trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà
còn là đối tượng thẩm mĩ, đồng thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử
văn học và là công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh tự phát triển một cách toàn diện và cân
đối.
1.1.2. Những cơ chế dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Cơ chế dạy học tác phẩm trong nhà trường chịu ảnh hưởng của các phương pháp
nghiên cứu.
- Cơ chế I: Giáo viên có tiếp xúc với văn bản. Mối liên hệ giữa nhà văn và giáo viên
được xác lập. Nhưng trong cơ chế này đã mất hẳn đi mối liên hệ cơ bản giữa nhà văn với học
sinh. Đây là hình mẫu của phương pháp dạy học truyền thống- giáo viên là trung tâm.
- Cơ chế II: Giáo viên có chú ý đến mối liên hệ giữa thầy và trò, nhưng một vấn đề
nghiêm trọng đã xảy ra là mối liên hệ giữa học sinh- bạn đọc với nhà văn lại không xảy ra.
- Cơ chế III: đã xác lập được một cách cân đối, toàn diện những mối liên hệ giữa ba
chủ thể Nhà văn- Giáo viên- Học sinh. Đó là cơ chế tối ưu của quá trình dạy học tác phẩm văn
chương trong nhà trường.
Như trên đã nói, xác định một cách đúng đắn hệ thống cấu trúc dạy học tác phẩm văn
chương trong nhà trường, là kết quả của một nhận thức đúng đắn hệ thống cấu trúc dạy học
tác phẩm trong nhà trường, cũng như nhận thức đúng đắn vị trí, chức năng của ba chủ thể nói
trên, nhất là chủ thể học sinh mà trong dạy học văn truyền thống không thấy được. Từ quan
điểm và nguyên lý cơ bản đó, chúng ta xác định được cơ chế dạy học tối ưu hướng tới bạn

nhà văn qua tác phẩm, đồng hành với giáo viên và các bạn lĩnh hội tri thức.
HS là một nhân tố căn bản trong hoạt động dạy học nên một quan niệm mới về người
HS tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi trong cơ chế, quá trình, PPDH tác phẩm… Học sinh là
bạn đọc là quan niệm hiện đại về vị thế của người học trong giờ dạy học văn, thể hiện ý nghĩa
mới về hệ hình phương pháp, phù hợp với bản chất của dạy học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động của người học.
Với cách định danh như trên, gọi tên Học sinh là Bạn đọc trong giờ dạy học TPVC là
một quan niệm mới về vị thế của người HS, dẫn đến những điều chỉnh của cả hệ hình dạy học,
đồng thời đặt ra yêu cầu mới về dạy học TPVC hiện nay.
1.1.3.2. Lí do dạy học tác phẩm văn chương theo hướng coi học sinh là bạn đọc
1.1.3.2.1. Bạn đọc là nhân tố không thể thiếu trong sự vận hành của tác phẩm văn chương.
Qua sự tiếp nhận và lĩnh hội của bạn đọc, tác phẩm được khai thác theo những quan
điểm và chiều hướng khác nhau, ý nghĩa tác phẩm sâu sắc và đa dạng với nhiều góc độ, nhiều

8
cảm xúc… lúc này văn bản tác phẩm mới chính thức trở thành TPVC, chính thức hiện hữu
trong đời sống văn học. Như vậy, không có bạn đọc thì không có TPVC đúng nghĩa ; đồng
thời TPVC và bạn đọc luôn song hành tồn tại với những hiểu biết mới, trường nghĩa mới
trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau với mỗi đối tượng bạn đọc riêng.
1.1.3.2.2. Thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT hiện nay thiên lệch về văn bản mà
coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh.
Trong dạy học TPVC hiện nay tuy có những thay đổi, cải cách về sách giáo khoa cũng
như cơ chế dạy và học nhưng việc giảng văn theo phương pháp truyền thống vẫn chiếm ưu
thế. Do đó, việc xác lập vị thế mới cho người học, việc HS chủ động tiếp nhận tri thức là mục
đích của quá trình dạy học văn hiệu quả.
Lí luận và phương pháp dạy học hiện đại đạt được những thành tựu mới về phương
pháp dạy học, khuyến khích khả năng tự học của HS, GV trở thành người hướng dẫn và hỗ
trợ HS trên con đường lĩnh hội tri thức. Dạy học TPVC theo hướng coi học sinh là bạn đọc là
việc coi trọng vai trò chủ động khám phá tri thức từ phía HS, giúp dạy học TPVC trở nên hiệu
quả và phù hợp nhu cầu, xu thế của người học.

- Phân tích, cắt nghĩa, suy luận, phán đoán, tổng hợp… là những thao tác quen thuộc
của tư duy trong quá trình đi sâu khám phá tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, nhận thức giá trị
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Xúc cảm thẩm mỹ: là những phản ứng tâm lí đối với văn học nghệ thuật, là thái độ
thưởng ngoạn, sự thích thú của người đọc, người nghe trước đối tượng nghệ thuật.
- Sự thanh lọc (catacxit): là sự cân bằng hài hòa về tâm ls và mở rộng nâng cao về tâm
hồn và nhân cách sau quá trình tiếp nhận văn chương.
1.1.5. Những hình thức hoạt động của học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn
chương
1.1.5.1. Hoạt động cảm nhập ban đầu (tạo tâm thế)
1.1.5.2. Hoạt động tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.5.3. Hoạt động tái hiện hình tượng
1.1.5.4. Hoạt động phân tích, cắt nghĩa và khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật trong tác
phẩm
1.1.5.5. Hoạt động tự bộc lộ, tự nhận thức của học sinh
1.1.6. Vai trò định hướng của giáo viên
1.1.6.1. GV cần bồi dưỡng nhận thức đúng đắn về đặc trưng của văn học và bộ môn văn học
cho HS.
1.1.6.2. Giáo dục cho học sinh ý thức đúng đắn rằng cảm thụ văn học là quá trình lao động
sáng tạo
1.1.6.3. Nắm vững tình hình học tập và cảm thụ văn học của học sinh
1.1.7. Những khuynh hướng trái chiều trong phát triển và cảm thụ văn chương của học
sinh trung học

10
1.1.7.1. Khuynh hướng ngoại văn bản
Khuynh hướng ngoại văn bản luôn tồn tại và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
quá trình sáng tác và cảm thụ TPVC, nếu cực đoan sẽ khiến người đọc có cái nhìn phiến diện
về tác phẩm, tuy nhiên trong chừng mực cho phép thì đây cũng là hướng nghiên cứu tác phẩm
bao quát và toàn diện.

tính thụ động, máy móc dựa trên gợi ý từ GV, chưa có sự tìm tòi và cảm nhận tác TP còn
nhiều hạn chế.
1.2.2.2. Kết quả lĩnh hội tác phẩm của học sinh sau giờ dạy học tác phẩm văn chương
Thể loại văn học có ảnh hưởng lớn đến khả năng cảm thụ tác phẩm của HS, để việc
cảm thụ tác phẩm hiệu quả hơn GV cần chú ý đến loại thể tác phẩm để có định hướng xây
dựng bài giảng phù hợp.
1.2.3. Nhận xét thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương ở THPT
Qua việc khảo sát 3 giáo án mẫu và tiến hành điều tra sau giờ dạy học, chúng tôi nhận
thấy việc dạy học TPVC trong nhà trường hiện nay chưa thực sự thay đổi cả về chất và lượng.
GV tùy từng TP cụ thể để lựa chọn PPDH, nhưng PPDH truyền thống “thầy giảng, trò nghe”
vẫn chiếm ưu thế và được sử dụng nhiều hơn.
Thứ nhất, hệ thống câu hỏi được sử dụng trong giờ dạy học tương đối ít và đơn điệu,
rời rạc.
Thứ hai, GV có ý thức ứng dụng PPDH hiện đại qua việc tổ chức làm việc nhóm
nhưng chưa thực sự hiệu quả với tất cả HS.
Thứ ba, HS chưa phải là chủ thể của hoạt động tiếp nhận văn chương.
Nguyên nhân của thực trạng trên nằm ở nhiều phía: giáo viên, học sinh, chương trình
và xã hội.
Tóm lại, để hiệu quả giờ học nâng cao và thực sự giúp các em trở thành những Bạn
đọc- Học sinh thì GV cần đổi mới về cách thức dạy và học, sử dụng các PPDH hiệu quả một
cách phù hợp và linh động hơn. CHƢƠNG 2
BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG THEO HƢỚNG COI HỌC
SINH LÀ BẠN ĐỌC
2.1. Năng lực văn học của bạn đọc học sinh- tiền đề để dạy học tác phẩm văn chƣơng
2.1.1. Những hiểu biết cơ bản về năng lực văn học
Năng lực văn học của học sinh trong nhà trường tương ứng với ba hình thức hoạt động
khác nhau về văn: loại năng lực sáng tác văn, loại năng lực nghiên cứu phê bình văn học và

2.3. Những biện pháp đề xuất trong dạy học tác phẩm văn chƣơng theo hƣớng coi học
sinh là bạn đọc
2.3.1. Đọc văn
2.3.1.1. Khái niệm
Đọc văn có thể hiểu là phương pháp tiếp nhận và bộc lộ kết quả tiếp nhận tác phẩm.
2.3.1.2. Nhiệm vụ
2.3.1.3. Các hành động và thao tác
2.3.1.4. Đọc diễn cảm- phương pháp quan trọng trong dạy học
2.3.2. Dạy học nêu vấn đề
2.3.2.1. Khái niệm

13
Dạy học nêu vấn đề là hình thức lấy một vấn đề còn nhiều điều phải tìm hiểu để làm
động lực dạy học, đặt người học vào những tình huống có vấn đề để người học hình thành ý
thức và mong muốn khám phá, giải quyết vấn đề dựa trên những hiểu biết mới và phương
thức hành động mới. Thông qua việc giải quyết vấn đề được giáo viên đưa ra, học sinh sẽ
chiếm lĩnh được nội dung dạy học.
2.3.2.2. Nhiệm vụ
2.3.2.3. Các thao tác của dạy học nêu vấn đề
2.3.3.2. Nhiệm vụ
2.3.3. Đối thoại đa chiều (Bạn đọc học sinh- giáo viên- nhà văn)
2.3.3.1. Khái niệm
Đối thoại đa chiều trong giờ học tác phẩm văn chương là hoạt động trao đổi, chia sẻ
giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh về một vấn đề, một nội dung trong tác
phẩm văn chương; tạo thành một vòng tròn tương tác khép kín: Bạn đọc học sinh- giáo viên-
nhà văn
2.3.3.2. Nhiệm vụ
2.3.3.3. Cách thức thực hiện
2.3.4. Thực hành thuyết trình, bình giảng
2.3.4.1. Khái niệm

Quốc Diễn Nghĩa- La Quán Trung (Ngữ Văn 10).
- Phương pháp thực hiện: thực hiện thiết kế giáo án và tiến hành thực nghiệm tại lớp
học; với kết quả thu được sau giờ học chúng ta có căn cứ để đánh giá hiệu quả của các
phương pháp được đề xuất.
3.1.3. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực hiện
- Đối tượng: Đối tượng chúng tôi lựa chọn để thực nghiệm là học sinh khối 10 và khối
11
- Địa bàn: Trường THPT Chuyên Ngoại Ngữ- Đại học Quốc Gia Hà Nội.
- Thời gian: Học kỳ II năm học 2008 – 2009.
3.2. Thiết kế giáo án thể nghiệm
3.2.1. Bài “Hai đứa trẻ- Thạch Lam” (Tiết 37- 38 Ngữ văn 11)
3.2.2. Bài “Tam Quốc Diễn Nghĩa” (Ngữ Văn 10)
Sản phẩm dự án được thực hiện tại lớp 10A THPT Chuyên Ngoại Ngữ- Hà Nội sẽ được
minh họa trong phụ lục của đề tài.
3.3. Thuyết minh giáo án thể nghiệm
Khi tiến hành thiết kế giáo án thể nghiệm Hai đứa trẻ- Thạch Lam và Tam Quốc Diễn
Nghĩa- La Quán Trung, chúng tôi lấy việc nhấn mạnh vai trò chủ thể của học sinh trong tiếp
cận và lĩnh hội tác phẩm làm nhiệm vụ trung tâm. Do đó, hầu hết các phương pháp dạy học
được đề xuất ở chương II đã được vận dụng trong hai giáo án trên. Chúng tôi đã chỉ rõ từng
hoạt động cụ thể trong bài học đi kèm với các biện pháp tương ứng.

15
- Trong thiết kế thể nghiệm, do hai giáo án đều là tác phẩm văn xuôi có độ dài tương
đối hoặc rất lớn nên chúng tôi chú trọng các phương pháp: đối thoại đa chiều, tranh luận, bình
giảng, dạy học nêu vấn đề, đặc biệt là thực hiện dạy học dự án…
- Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt, mềm dẻo
Như vậy, GV cần sử dụng các phương pháp dạy học được đề xuất một cách linh hoạt,
chủ động nhằm tạo hiệu quả cao nhất đối với từng TPVC, từng đối tượng và điều kiện dạy
học. Bạn đọc- Học sinh là cái đích cần đến để giờ dạy học TPVC thực sự đổi mới về cả chất
và lượng, tạo hứng thú học văn cho HS, biến các em thành chủ thể hoạt động trong quá trình

- CNTT và các PT dạy học hiện đại có tác động mạnh mẽ đến dạy học nói chung và
dạy học văn nói riêng. Không thể phủ nhận những ưu thế của công nghệ, song GV cần chú ý
sử dụng với liều lượng hợp lý, tránh lạm dụng và biến HS thành khán thính giả thụ động.
5. Chúng tôi mong muốn luận văn “Những biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo
hướng coi học sinh là bạn đọc ở trung học phổ thông” góp phần thay đổi quan niệm dạy học
văn cũ để chú ý hơn đến vai trò tích cực chủ động trong nhận thức của học sinh và mối quan
hệ giữa Bạn đọc- Học sinh với các thành tố khác trong cơ chế dạy học. Tư tưởng của luận văn
cùng với những phương pháp đề xuất hi vọng trở thành cơ sở tư liệu đáng tin cậy và phát huy
hiệu quả cho các giờ dạy học văn ở THPT. Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu trên đây
không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi hi vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp để
luận văn hoàn thiện hơn.

References
1. Bộ Giáo Dục & Đào Tạo. Chương trình giáo dục phổ thông bộ môn Ngữ Văn. NXB
Giáo dục, 2006.
2. Bộ Giáo Dục & Đào tạo. Ngữ Văn 10 tập II. NXB Giáo Dục, 2008.
3. Bộ Giáo Dục & Đào tạo. Ngữ Văn 11 tập I. NXB Giáo dục, 2008.
4. Bộ Giáo Dục & Đào tạo. Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT
về đổi mới phương pháp dạy học. HN, 2005.
5. Bùi Minh Đức. Dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT theo hướng coi học
sinh là ban đọc sáng tạo. Luận án Tiến sĩ giáo dục học. Đại học Sư phạm Hà Nội,
2009.
6. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa. Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học. NXB Đại học Sư phạm, 2003.
7. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa. Phong cách học Tiếng Việt. NXB Giáo Dục,
1998.
8. M.A.Đannilop, M.N.Xcatkin, A.A.Budarnui. Lí luận dạy học của trường phổ thông:
Một số vấn đề của lí luận dạy học hiện đại: trích dịch. NXB Giáo dục, 1980.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status