1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
TUYỂN CHỌN, PHÂN LOẠI VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHẦN HỮU CƠ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HOÁ HỌC)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM VĂN HOAN
HÀ NỘI – 2012
3
MỘT SỐ KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
11. ĐPQH
:
Đồng phân quang học
12. GV
:
Giáo viên
13. HCHC
:
Hợp chất hữu cơ
14. HH
:
Hóa học
15. HHHC
:
Hóa học hữu cơ
16. HTLT
:
Hệ thống lý thuyết
17. HS
:
Học sinh
18. HSG
:
Học sinh giỏi
19. HSGHH
:
Học sinh giỏi hóa học
20. HƯ
:
Hiệu ứng
Nội dung
Trang
Bảng 3.1. Kết quả thực nghiệm
102
Bảng 3.2. Bảng kết quả điểm kiểm tra
103
Bảng 3.3. Bảng tính tần suất và tần suất luỹ tích (bài 1)
104
Bảng 3.4. Bảng tính tần suất và tần suất luỹ tích (bài 2)
106 5
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Nội dung
Trang
Đồ thị 3.1. Đồ thị phân bố tần suất (bài 1)
105
Đồ thị 3.2. Đồ thị phân bố tần suất luỹ tích (bài 1)
105
Đồ thị 3.3. Đồ thị phân bố tần suất (bài số 2)
107
Đồ thị 3.4. Đồ thị phân bố tần suất luỹ tích (bài số 2)
107 6
MỤC LỤC
10
1.5.1. Khái niệm về bài tập hóa học
10
1.5.2. Tác dụng của bài tập hóa học
11
1.5.3. Phân loại bài tập hóa học
13
1.5.4. Các bước tiến hành giải bài tập hóa học
14
1.5.5. Quan hệ giữa việc giải bài tập hóa học và việc phát triển tư duy
hóa học của học sinh
15
1.6. Tình hình bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học THPT ở Hưng Yên và
một vài địa phương khác
17
1.6.1. Thực tế thi học sinh giỏi Hóa học THPT ở Hưng Yên
17
1.6.2. Đề thi học sinh giỏi Hóa học ở một số địa phương khác
27
1.6.3. Những khó khăn và nhu cầu của giáo viên khi bồi dưỡng học
sinh giỏi hóa học
32
Chương 2: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG BÀI
TẬP HÓA HỌC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN HỮU CƠ
35
2.1. Nội dung và cấu trúc chương trình Hóa học THPT Chuyên phần
3.2 . Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm
101
3.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm
101
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm.
102
3.5. Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
109
1. Kết luận
109
2. Khuyến nghị
109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
111
PHỤ LỤC 1
115
PHỤ LỤC 2
117
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ
vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vang với các cường
quốc năm Châu hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các
cháu.” . Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo đến
riêng và công tác thi đua dạy và học trong các nhà trường nói chung.
Qua thăm dò từ bạn bè đồng nghiệp và qua báo cáo tổng kết của ngành
giáo dục cho thấy việc tập trung nâng chất lượng học sinh giỏi trong các
trường phổ thông là một việc làm thiết thực để đào tạo nhân tài cho đất nước.
Trong thực tế, nhiều giáo viên đang gặp nhiều khó khăn trong công tác nâng
cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học ở trường phổ thông mà hạt
nhân của khó khăn cần tháo gỡ là công tác sưu tầm, chọn lọc, phân loại được
hệ thống bài tập, phương pháp sử dụng bài tập đó như thế nào để trực tiếp
nâng cao hiệu quả chất lượng học sinh giỏi môn hóa học trong trường THPT.
Trong quá trình dạy học của giáo viên, việc phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi hóa học còn nhiều hạn chế và khó khăn. Giáo viên chưa có kinh
nghiệm trong việc phát hiện học sinh có năng khiếu trong học tập bộ môn,
chưa có sự định hướng đúng đắn cho các em để các em có thêm niềm đam mê
trong việc học bộ môn, chưa có sự định hướng được phẩm chất và năng lực
của một học sinh giỏi là gì. Cần làm những gì để góp phần hình thành năng
lực tư duy cho học sinh, Một điều rất quan trọng và có thể nói là mang tính
quyết định cho chất lượng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi đó là nhiều giáo
viên còn chưa làm chủ được nội dung kiến thức cần truyền đạt, giáo viên còn
mơ hồ về các dạng bài và độ khó của kiến thức để tiến hành bồi dưỡng các
cho các em một hệ thống bài tập và có sự lôgic.
Trong những năm qua, sở Giáo dục & Đào tạo Hưng Yên đã rất chú
trọng đến công tác bồi dưỡng HSG trong đó có môn Hoá học và đã có những
kết quả nhất định. Tuy nhiên, những kết quả thu được còn rất khiêm tốn, chưa
đáp ứng được yêu cầu và mong muốn. Có nhiều nguyên nhân khác nhau
10
nhưng trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là nội dung bồi dưỡng còn tự
phát, chưa có hệ thống bài tập phù hợp.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài:“Tuyển chọn, phân
loại và sử dụng hệ thống bài tập phần hữu cơ bồi dưỡng học sinh giỏi
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các bài tập hóa học hữu cơ để bồi dưỡng và nâng cao chất
lượng học sinh giỏi.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu có phương pháp sử dụng hệ thống bài tập một cách hiệu quả và có
được hệ thống bài tập hóa học hữu cơ có chất lượng tốt thì sẽ góp phần rèn
luyện được năng lực tư duy cần có cho học sinh giỏi ở trường THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra, luận văn cần phải vận dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học đặc trưng của một đề tài nghiên cứu khoa
học giáo dục đó là nhóm các phương pháp nghiên cứu như sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn
tài liệu để xây dựng nội dung đề tài.
- Nghiên cứu chương trình chuyên hóa học.
- Sưu tầm, phân tích các đề thi học sinh giỏi hóa học các cấp.
- Căn cứ vào tài liệu hướng dẫn nội dung chọn thi học sinh giỏi quốc
gia của Bộ GD-ĐT.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Trắc nghiệm, phỏng vấn, dự giờ để tìm hiểu
thực tiễn quá trình bồi dưỡng HSG và chuyên hóa học trường THPT.
- Trao đổi tổng kết kinh nghiệm với các giáo viên giảng dạy các lớp
chuyên hóa học và bồi dưỡng HSG hóa học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm :
+ Kiểm tra, đánh giá chất lượng của hệ thống bài tập đã đề xuất.
12
+ Kiểm nghiệm hiệu quả việc đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống lí
thuyết, bài tập.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Đối với môn Hóa học, đã có một số luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ
nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng HSG như :
- “Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc
bồi dưỡng HSG hóa học ở trường THPT” - Luận án Tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn
(2004) - ĐHSP Hà Nội.
- “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phần dung dịch, sự điện li và
phản ứng oxi hóa khử dùng cho học sinh khá giỏi, lớp chọn, lớp chuyên hóa học
bậc THPT” - Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Công Chứ (2006) - ĐHSP Hà Nội.
- Hệ thống lý thuyết - xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại dùng
cho bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa học THPT” - Luận văn Thạc sĩ
của Nguyễn Thị Lan Phương (2007) - ĐHSP Hà Nội.
- “Xây dựng hệ thống bài tập hóa học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy
trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT”- Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Văn
Minh (2007) - ĐHSP Hà Nội.
- “Phân loại, xây dựng tiêu chí cấu trúc các bài tập về hợp chất ít tan
phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia” - Luận văn Thạc sĩ của
Vương Bá Huy (2006) – ĐHSP Hà Nội.
Như vậy có thể thấy rõ, mới có ít tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn
đề bồi dưỡng HSG trong đó hệ thống bài tập hữu cơ bồi dưỡng học sinh giỏi
còn ít được nghiên cứu. Vì vậy với đề tài trên tôi hy vọng sẽ kế thừa, phát
14
triển và phát huy đóng góp vào việc sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng học
sinh giỏi sao cho có kết quả tốt.
1.2. Quan niệm về học sinh giỏi
Hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng
HSG trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục THPT. Luật bang
Georgia (Mỹ) định nghĩa: “HSG đó là những HS chứng minh được trí tuệ ở
trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện ở động cơ học tập mãnh liệt và
đạt kết quả xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là đối tượng cần
Thế kỉ mà chúng ta đang sống là thế kỉ hội nhập, là sự hội nhập của trí
tuệ của tài năng và kĩ năng sống của con người. Trong xã hội tương lai, nhiệm
vụ của ngành giáo dục là phải đào tạo ra những con người trí tuệ phát triển
thông minh và sáng tạo. Các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục
Việt Nam hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
không cao, việc phát huy tính tích cực cho học sinh, năng lực nhận thức, năng
lực giải quyết vấn đề và khả năng tự học chưa được rèn luyện đúng mức.
Từ thực tế đó nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải đổi mới phương pháp
dạy học, áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh
năng lực tư duy năng lực giải quyết vấn đề.
Việc nghiên cứu các vấn đề bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề từ trước tới nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước quan tâm như Zueva M.V,
nghiên cứu sự phát triển học sinh và rèn luyện kĩ năng thông qua hoạt động
dạy học [34]; GS. Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lí luận về giải toán hóa
học [31]; PGS.TS Nguyễn Xuân Trường; GS.TS Nguyễn Đình Chi [14] đã có
những công trình viết về định hướng bồi dưỡng HSG TLTK. Tuy nhiên, xu
hướng hiện nay của lí luận dạy học là đặc biệt chú trọng tới hoạt động học và
vai trò của học sinh trong quá trình dạy học và vai trò của học sinh trong quá
trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải làm việc tích cực, tự lực. Vì vậy cần phải
16
nghiên cứu hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi nâng cao năng lực
phát triển tư duy cho học sinh.
Để đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách giáo dục, quán triệt mục
tiêu đào tạo con người mới toàn diện, người giáo viên trong nhà trường có mối
liên hệ và vai trò rất quan trọng. Người giáo viên trong nhà trường không những
phải truyền thụ được kiến thức của chương trình theo quy định, mà còn phải hình
thành cho được học sinh của mình phương pháp học tập tốt, độc lập sáng tạo,
nhằm thực hiện tốt lời dạy của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng : “Ở nhà trường,
Theo từ điển Tiếng Việt [47], bài tập là yêu cầu của chương trình cho
học sinh làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng
phương pháp khoa học. Một số tài liệu lý luận dạy học thường dùng “bài toán
hóa học” để chỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập tính toán - khi
học sinh cần thực hiện những phép tính nhất định.
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi
và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh vừa nắm bắt được, vừa
hoàn thiện được một tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng,
trả lời viết hoặc thực nghiệm [34].
Ở nước ta, trong sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài
tập” được dùng theo quan điểm này.
Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hóa học
trong quá trình dạy học, người giáo viên phải sử dụng nó để hiểu theo quan
điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động. Một học sinh lớp 1 không thể xem bài
tập lớp 12 là một bài tập và ngược lại, đối với một học sinh lớp 12 bài toán
lớp 1 không phải à một bài tập nữa. Vậy chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở
thành đối tượng hoạt động của một chủ thể, khi một người nào đó có nhu cầu
chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó tức là khi có một “người giải”. Vì
vậy bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống
toàn vẹn, thống nhất và lên hệ chặt chẽ với nhau.
18
Bài tập là một hệ thông tin chính xác, bao gồm 2 tập hợp gắn bó chặt
chẽ, tác động qua lại với nhau đó là những điều kiện và yêu cầu.
Người giải bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách
biến đổi, thao tác trí tuệ ).
Thông thường trong sách giáo khoa và tài liệu lý luận dạy học bộ môn,
người ta hiểu bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp
với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hóa học, hình thành khái
niệm, phát triển tư duy hóa học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức của
nhiều lần so với một học sinh giải bài tập bằng một cách và không phân tích
đến nơi đến chốn.
- Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện để ôn tập,
củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất.
- Thông qua bài tập hóa học rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh
như kĩ năng viết và cân bằng phương trình hóa học của phản ứng, kĩ năng tính
toán theo công thức và phương trình hóa học, kỹ năng thực hành như cân, đo,
đun nóng, nung sấy, lọc, nhận biết hóa chất,
- Bài tập hóa học giúp phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện thông
minh cho học sinh (học sinh cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một
số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn cách giải
độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo. Thông thường nên yêu cầu học sinh
giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách ngắn nhất, hay nhất - đó là cách rèn
luyện trí thông minh cho học sinh. Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc
độ khác nhau thì khả năng tư duy của học sinh tăng lên gấp nhiều lần so với
một học sinh giải được nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến
nơi đến chốn.
- Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu
tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp
học sinh tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững.
Điều này thể hiện rõ khi học sinh làm bài tập thực nghiệm định lượng.
- Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh và hình
thành phương pháp học tập hợp lý.
20
- Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của
học sinh một cách chính xác.
- Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn luyện
tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác, khoa học và sáng tạo, phong cách làm
việc có khoa học (có tổ chức, kế hoạch, ) nâng cao hứng thú học tập môn
- Đọc kỹ đầu bài.
- Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng
sơ đồ cho dễ sử dụng).
- Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.
- Viết các phương trình phản ứng có thể xảy ra.
b. Xây dựng tiến trình luận giải
Thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho. Bằng
cách xét một vài các bài toán phụ liên quan. Tính logic của bài toán có chặt
chẽ hay không là ở giai đoạn này. Nếu giáo viên biết rèn luyện cho học sinh
tự xây dựng cho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là giáo viên đã dạy cho
học sinh thông qua giải bài tập. Thông qua đó học sinh không chỉ nắm vững
kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận để
giải bất kỳ một bài tập khác. Điều này được thông qua một số dạng câu hỏi
như sau (giáo viên gợi ý sau đó cho học sinh tự đặt dần câu hỏi).
c. Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời
giải một cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm. Với các bài tập định
lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập
phương trình, giải phương trình hay giải hệ phương trình và biện luận kết quả
(nếu cần).
d. Đánh giá việc giải bài tập
Bằng cách khảo sát lời giải đã được tìm, kiểm tra lại toàn bộ quá trình
giải và đặt câu hỏi: Có thể đi đến kết quả bằng cách khác được không? Tối ưu
hơn không? Tính đặc biệt của bài toán là gì? Trên thực tế ngay cả với học
sinh giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lập luận của mình một cách
22
sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết thúc. Như vậy chúng ta đã bỏ mất
một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi. Việc nhìn lại cách
giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, học sinh có thể củng cố
tích lũy thêm kỹ năng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh.
- Theo M.A Đanilôv “Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng
có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình
hoạt động lý thuyết cũng như thực tiễn” [29]. Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát
từ kiến thức, dựa trên kiến thức. Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động.
Còn kỹ xảo là hành động mà những hợp thành của nó do tập luyện mà trở
thành tự động hóa. Kỹ xảo là mức độ cao của sự nắm vững kỹ năng. Nếu như
kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là
hành động đã được tự động hóa, trong đó sự tự kiểm tra sự tự giác xảy ra
chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ
dàng và nhanh chóng.
- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở ba mức độ: Biết, hiểu
và vận dụng được.
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các
kiến thức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác. Đây là mức độ
tối thiểu mà học sinh cần đạt trong quá trình học tập.
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết, đưa
được nó vào trong hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân, nói cách khác,
hiểu một kiến thức là nêu đúng ngoại hàm và nội diên của nó, xác lập những
quan hệ giữa nó và hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức
ấy vào những tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một
cách linh hoạt và sáng tạo.
+ Vận dụng kiến thức và giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải
tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một
nhiệm vụ mới. Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách
thực sự, sâu sắc hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự
24
giác, sáng tạo làm cho mối quan hệ giữa lý thuyết và các thực tiễn càng sâu
sắc gần gũi. Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được
25
Để định hướng cho việc xây dựng và tuyển chon các bài tập bồi dưỡng
học sinh giỏi Hóa học, chúng tôi đã nghiên cứu phân tích nội dung yêu cầu về
kiến thức kĩ năng phần Hữu cơ trong đề thi vòng 1, vòng 2 trong một số năm
gần đây.
Thí dụ: Đề thi vòng 1 chọn HSG Hóa học tỉnh Hưng Yên năm 2008-2009
Câu IV
1. Có một ancol no mạch hở X, để đốt cháy hoàn toàn 1 mol ancol đó
cần ít nhất 3,5 mol O
2
.
a. Xác định công thức cấu tạo của X.
b. Từ n-butan và các chất vô cơ cần thiết, hãy viết các phương trình
phản ứng điều chế X (ghi rõ điều kiện, nếu có).
2. Có hỗn hợp X gồm 2 este A, B có cùng công thức phân tử là C
5
H
8
O
2
.
Khi đun nóng hỗn hợp X với dung dịch NaOH, thu được hỗn hợp 2 muối natri
của 2 axit có công thức phân tử tương ứng là C
3
H
6
O
2
(A
1
O
2
N. Biết rằng: A có tính chất lưỡng tính, phản ứng với axit nitrơ giải
phóng nitơ; A phản ứng với ancol etylic có axit làm xúc tác tạo thành hợp
chất có công thức C
5
H
11
O
2
N; khi đun nóng A chuyển hoá thành hợp chất
mạch vòng có công thức C
6
H
10
N
2
O
2
.
Hãy viết các phương trình phản ứng để minh hoạ các tính chất trên.
Câu V.
1. Cho sơ đồ phản ứng sau:
E + F
o
tOH ,
2
D
OH (etylcacbitol).
Thí dụ 2: Đề thi vòng 1 chọn HSG Hóa học tỉnh Hưng Yên năm 2010- 2011
Câu IV.
1. Cho sơ đồ chuyển hóa sau:
A
2
A
3
A
4
B
1
B
2
B
3
B
4
CH
3
COOCH
2
-CH
2
-(CH
3
)CH-CH
3
A
1
OH
H
2
N
COOH
OH
(X) (Y) (Z) (P)
Các chất vô cơ, hữu cơ cần thiết khác coi như có đủ, hãy viết sơ đồ
phản ứng điều chế:
a. Y, Z từ X.
b. P từ benzen.
Câu V
1. Có các sơ đồ chuyển hóa sau: