Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đề dạy học kiến thức di truyền và biến dị môn Sinh học lớp 9 trung học cơ sở - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHÙNG THỊ THẠO
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN ĐỂ DẠY HỌC KIẾN THỨC DI TRUYỀN VÀ
BIẾN DỊ MÔN SINH HỌC LỚP 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Văn Lập
HÀ NỘI - 2012


5
2.2.1. Tiêu chuẩn của một câu hỏi MCQ 48
2.2.2. Tiêu chuẩn của một bài trắc nghiệm khách quan dạng MCQ 49
2.3. Một số nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ 51
2.3.1. Các nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 51
2.3.2. Các nguyên tắc biên soạn liên quan đến việc cân đối câu hỏi trắc
nghiệm với các mục đích hỏi 52
2.3.3. Một số nguyên tắc trong việc biên soạn các giải pháp trả lời 52
2.4. Các bước cơ bản để xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm MCQ [17] 54
2.4.1. Bước 1: Xác định mục tiêu kết quả đánh giá 56
2.4.2. Bước 2: Phân tích nội dung để xây dựng bảng trọng số 58
2.4.3. Bước 3: Tuyển chọn và xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm 59
2.4.4. Bước 4:Thực nghiệm kiểm định các câu hỏi 60
2.5. Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ phần Di truyền và
biến dị Sinh học lớp 9 trung học cơ sở 62
2.5.1. Nghiên cứu nội dung và mục tiêu phần Di truyền và biến dị sinh học 9
trung học cơ sở 62
2.5.2. Xây dựng bảng trọng số cần trắc nghiệm phần Di truyền và biến dị sinh
học 9 69
2.5.3. Xây dựng câu hỏi tự luận nhỏ phần Di truyền và biến dị Sinh học 9 69
2.5.4. Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ cho từng loại
kiến thức 73
Chương 3: SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN VÀO QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 123
3.1. Sử dụng câu hỏi Trắc nghiệm khách quan dạng MCQ vào dạy học kiến
thức mới 123
3.1.1. Quy trình sử dụng câu hỏi Trắc nghiệm khách quan dạng MCQ trong
dạy học kiến thức mới 123

6

TN
THPT
: Đối chứng
: Giáo viên
: Học sinh
: Kiểm tra đánh giá
: Multi-choice-questions
: Sách giáo khoa
: Trung học cơ sở
: Trắc nghiệm khách quan
: Thực nghiệm
: Trung học phổ thông

7
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Kết quả điều tra tình hình sử dụng SGK, tài liệu tham khảo, câu hỏi
TNKQ trong dạy học phần Di truyền và biến dị 37
Bảng 1.2. Kết quả điều tra việc sử dụng câu hỏi TNKQ 40
trong các khâu của quá trình dạy học 40
Bảng 1.3. Kết quả khảo sát thái độ học tập của HS phần Di truyền và biến dị 41
Bảng 2.1. Cấu trúc nội dung kiến thức Di truyền và biến dị Sinh học 9 63
Bảng 2.2. Mục tiêu phần Di truyền và biến dị Sinh học 9 65
Bảng 2.3. Bảng trọng số xây dựng câu hỏi TNKQ dạng MCQ 69

Biểu đồ 2.2. Độ phân biệt của 240 câu hỏi TNKQ dạng MCQ 77
qua thực nghiệm khảo sát 77
Biểu đồ 2.3. Kết quả xác định những câu đạt và không đạt yêu cầu 78
về cả hai chỉ tiêu FV và DI 78
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kiểm tra giữa nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm thông qua điểm trung bình 131
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả kiểm tra giữa nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm thông qua tỉ lệ điểm khá giỏi 131
Biểu đồ 3.3. So sánh kết quả kiểm tra giữa nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm thông qua tỉ lệ điểm dưới trung bình 132

9
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện hiện nay, việc đổi mới trong giáo dục là điều kiện tất
yếu nhằm đào tạo bồi dƣỡng và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực để đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Để thực hiện đƣợc mục
tiêu giáo dục mà Đảng đề ra, ngoài việc đổi mới nội dung thì cần thiết phải
đổi mới phƣơng pháp dạy học, trong đó có phƣơng pháp KTĐG.
Có nhiều phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp KTĐG khác nhau. Dù là
phƣơng pháp dạy học nào thì đều có mỗi liên hệ chặt chẽ với nội dung
chƣơng trình, phƣơng tiện dạy học và phƣơng pháp KTĐG. Mỗi phƣơng pháp
có những ƣu nhƣợc điểm riêng. Thực tiễn cho thấy không có một phƣơng
pháp nào là tối ƣu đối với mọi mục tiêu giáo dục. Có nhiều hình thức KTĐG
đã và đang đƣợc áp dụng trong quá trình dạy học. TNKQ là một phƣơng pháp
đo lƣờng và đánh giá có nhiều ƣu điểm đang đƣợc ứng dụng rộng rãi trong
dạy học. Đó là một phƣơng pháp tƣơng đối khách quan, không phụ thuộc vào
ngƣời chấm bài, nó bao phủ đƣợc hầu hết nội dung môn học, hạn chế đƣợc
may rủi quay cóp bài, thích hợp với kì thi đại trà, ứng dụng đƣợc khoa học

Việc áp dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học đã đƣợc áp dụng trên thế
giới. Hiện đã có nhiều tác giả biên soạn câu hỏi TNKQ phần Di truyền và
biến dị nhƣ Trịnh Nguyên Giao từ những năm 1997, Vũ Đình Luận (2005)
nhƣng tập trung ở đối tƣợng sinh viên các trƣờng cao đẳng, và một số đề tài ở
Sinh học lớp 12 nhƣ Nguyễn Thị Kim Giang (1997), Cao Kim Thoa (2008),
Dƣơng Thu Hiền (2009). Bên cạnh đó đã có một số tác giả xây dựng câu hỏi
trắc nghiệm khách quan trong việc hình thành kiến thức mới trong dạy học
phần di truyền và biến dị 9 nhƣ Phan Thị Thu Hiền (2006), Hoàng Hải Phòng
(2010)… Một số tài liệu về KTĐG thƣờng xuyên và định kì đƣợc các tác giả
xây dựng nhƣ Ngô Văn Hƣng (2008)…song chƣa có công trình nào xây dựng

11
các câu hỏi TNKQ một cách hệ thống dùng cho việc dạy kiến thức mới và
KTĐG kết quả học tập phần Di truyền và biến dị môn Sinh học lớp 9.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung xây dựng câu hỏi TNKQ dạng MCQ trong nội dung
các chƣơng I, II, III, IV, V, VI trong SGK Sinh học 9 trung học cơ sở.
Áp dụng những câu hỏi TNKQ dạng MCQ để dạy kiến thức mới và
KTĐG kiến thức Di truyền và biến dị môn Sinh học lớp 9 THCS.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
- GV dạy Sinh học lớp 9 ở một số trƣờng THCS trên địa thành phố Hà
Nội và tỉnh Nam Định.
- HS lớp 9 ở một số trƣờng THCS trên địa thành phố Hà Nội và tỉnh
Nam Định.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đạt yêu cầu và sử dụng hợp
lí trong dạy kiến thức mới và KTĐG sẽ phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức Di truyền và biến dị Sinh học lớp
9 THCS.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu

8.2. Phương pháp điều tra
8.2.1. Điều tra học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra thái độ, nhận thức của các em HS đối với
việc học môn Sinh học. Phƣơng pháp điều tra đƣợc tiến hành nhiều đợt hƣớng
vào tâm lý của HS với môn Sinh học, vào những lỗi cơ bản của HS khi học
nội dung kiến thức phần Di truyền và biến dị trên đối tƣợng HS lớp 9.
Từ kết quả điều tra về thái độ học tập của HS đối với bộ môn Sinh học,
những sai sót về kiến thức của HS giúp ta xác định đƣợc nguyên nhân và đƣa
ra hƣớng khắc phục khi xây dựng các câu hỏi TNKQ.

13
8.2.2. Điều tra giáo viên
Cũng bằng các câu hỏi test, chúng tôi có thể điều tra GV trên diện rộng.
Dựa vào kết quả điều tra, chúng tôi tìm hiểu đƣợc tình hình giảng dạy phần Di
truyền và biến dị của GV thông qua điều tra tình hình sử dụng tài liệu tham
khảo, dự giờ thăm lớp, đồng thời còn trực tiếp tạo đàm với các GV trong điều
kiện có thể.
8.3. Phương pháp chuyên gia
Để tăng chất lƣợng của các câu hỏi TNKQ dạng MCQ, chúng tôi cần
tới không chỉ trình độ của ngƣời viết mà còn kinh nghiệm sử dụng ngôn từ trong
diễn đạt kiến thức, kiến thức về việc kiểm định chất lƣợng câu hỏi, Vì vậy,
chúng tôi cần sử dụng phƣơng pháp chuyên gia bằng việc tổ chức lấy ý kiến của
đồng nghiệp và ngƣời làm bài TNKQ về tất cả các khía cạnh của câu hỏi.
8.4. Thực nghiệm sư phạm
8.4.1. Thực nghiệm thăm dò
- Chúng tôi tiến hành thăm dò GV và HS lớp 9 trƣờng THCS Cầu Giấy
và trƣờng THCS Lê Qúy Đôn (Cầu Giấy – Hà Nội), trƣờng THCS Di Trạch
(Hoài Đức – Hà Nội), trƣờng THCS Yên Tân và THCS Lê Qúy Đôn (Ý Yên
– Nam Định) về những vấn đề còn tồn tại khi dạy học phần Di truyền và biến
dị môn Sinh học lớp 9 THCS bằng cách trao đổi với GV và HS.

định tính và định lƣợng để kiểm định tính đúng đắn và khả thi của nội dung
nghiên cứu.
8.5.1. Xác định giá trị của các câu hỏi trắc nghiệm MCQ: Độ khó, độ phân
biệt, độ giá trị [14], [18]
Độ khó của mỗi câu hỏi (FV) đƣợc tính bằng phần trăm tống số HS trả
lời dung câu hỏi ấy trên tổng số HS tham gia.
Câu hỏi càng dễ, số ngƣời trả lời đúng càng nhiều, độ khó càng thấp.
Công thức tính độ khó :

15
FV = (Công thức 1)
Độ khó của câu hỏi tỉ lệ nghịch với số ngƣời trả lời đúng. Câu hỏi càng
dễ, số ngƣời trả lời đúng càng nhiều, độ khó càng thấp.Thang phân loại độ
khó đƣợc qui ƣớc theo giá trị FV nhƣ sau:
+ Câu khó: FV có giá trị từ 0% đến 30%.
+ Câu trung bình: FV có giá trị từ 30% đến 70%.
+ Câu dễ: FV có giá trị từ 70% đến 100%.
Câu đạt yêu cầu sử dụng trong trắc nghiệm kiểm tra đánh giá có FV
nằm trong khoảng 25% => 75%, câu hỏi có độ khó nhỏ hơn 25% là quá khó, có
độ khó lớn hơn 75% là quá dễ. Nếu câu hỏi quá dễ điều đó chứng tỏ kiến thức
truyền tải trong câu hỏi đó đƣợc thiết kế không hấp dẫn với phần lớn HS. Nếu sử
dụng câu hỏi quá khó sẽ làm cho HS nản và khó dẫn dắt học sinh nghiên cứu tìm
tòi. Trong dạy kiến thức mới, ở khâu dạy kiến thức mới các câu hỏi trắc nghiệm
đƣợc sử dụng nên có độ khó trung bình , đƣợc tính théo ( 100% + 1/n ) / 2, trong
đó n là số phƣơng án lựa chọn câu hỏi. nhƣ vậy, nếu câu hỏi trắc nghiệm khách
quan có 4 phƣơng án chọn thì độ khó trung bình là 62,5%.
- Độ phân biệt (DI) của mỗi câu hỏi: Độ phân biệt của câu hỏi là để đo
khả năng của câu hỏi, phân biết khả năng trả lời câu hỏi của các nhóm học sinh
có năng lực khác nhau, tức là phân biệt năng lực HS giỏi vă năng lực HS kém.
Một câu hỏi gọi là phân biệt đƣợc nghĩa là nhóm HS khá giỏi sẽ có xu

- 75% thì độ DI khoảng 10% là tốt.
Câu hỏi trắc nghiệm sử dụng trong dạy kiến thức mới cũng đòi hỏi có
độ phân biệt dƣơng. Tuy nhiên khác với câu hỏi trắc nghiệm đƣợc dung trong
kiểm tra đánh giá, câu hỏi trắc nghiệm để dạy kiến thức mới có mục đích
chính là truyền tải nội dung kiến thức HS cần lĩnh hội và lƣu ý HS một số sai

17
lầm thƣờng mắc phải khi học một đơn vị kiến thức nào đó, mục đích của câu
hỏi không phải để phát hiện HS khá giỏi và đánh giá kết quả học tập của HS,
vì vậy không cần các câu hỏi có độ phân biệt cao, chỉ cần sử dụng các câu hỏi
có độ phân biệt lớn hơn 0,2 là đƣợc.
- Độ tin cậy của câu hỏi trắc nghiệm: Độ tin cậy cho biết kết quả đo của
một bài trắc nghiệm đáng tin cậy đến đâu, ổn định đến mức nào. Độ tin cậy
của đề trắc nghiệm chính là đại lƣợng biểu thị mức độ chính xác của phép đo
nhờ để trắc nghiệm.
Một bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao, khi dùng cho những nhóm đối
tƣợng giống nhau trong hoàn cảnh giống nhau sẽ cho kết quả nhƣ nhau hoặc
với sai số cho phép, hay nói cách khác kết quả điểm số phản ánh trung thực
trình độ hiểu biết của HS.
Có nhiều cách khác nhau để tính độ tin cậy, nếu bài trắc nghiệm các
câu hỏi MCQ có độ khác nhau thì độ tin cậy tính theo công thức Kuder -
Richardson 20 (KR20), nhƣng trong trƣờng hợp độ khó của các câu hỏi không
khác nhau nhiều, ta có thể biến đổi công thức Kuder – Richardson 20 thành
công thức Kuder – Richardson 21 dễ tính toán hơn:
Công thức Kuder – Richardson 20 nhƣ sau :
r = [ 1- ] (Công thức 3)
Công thức Kuder – Richardson 21 nhƣ sau :
r = [ 1- ] (Công thức 4)
Trong đó:
+ p : là tỷ lệ các câu trả lời đúng, q là tỷ lệ các câu trả lời sai


19
+ : Là số thí sinh dự thi bài trắc nghiệm con i
Để xác định phƣơng sai tổng thể từng bài trắc nghiệm con i ( ) đƣợc tính
theo công thức : (Công thức 8)
Trong đó :
+ n : tổng số học sinh tham gia khảo sát
+ : điểm số theo thang điểm 10
+ : Số bài kiểm tra có điểm số là
+ : Điểm trung bình của các bài trắc nghiệm
Khi chấm đểm các bài trắc nghiệm dạng MCQ chỉ có hai loại điểm: đúng (1
điểm) và sai (0 điểm), ứng với câu hỏi j sẽ là . Trong đó là tỉ số
thí sinh trả lời đúng câu hỏi j. Vì vậy :
(Công thức 9)
Từ kết quả điểm trung bình của các bài trắc nghiệm nhỏ, chúng tôi tính
đƣợc phƣơng sai của trắc nghiệm tổng thể.
8.5.2. Xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm:
- Điểm trung bình : (Công thức 10)
Trong đó : + : tần suất
+ n : số HS làm bài kiểm tra
+ : điểm của HS thứ i
- Phƣơng sai : (công thức 11)
Trong đó : + : phƣơng sai
+ n : Số HS làm bài kiểm tra
+ : điểm của HS thứ i
+ : điểm trung bình
+ : tần suất

20
- Độ lệch tiêu chuẩn biểu thị ở mức độ phân tán của các số liệu quanh giá trị

C = (Công thức 15)
Trong đó : + : độ lệch tiêu chuẩn của nhóm thứ nhất
+ : độ lệch tiêu chuẩn của nhóm thứ hai
+ : số HS nhóm thứ nhất
+ : số HS nhóm thứ hai
Khi đó ta có kết luận :
Nếu thì bác bỏ còn nếu thì chấp nhận giả
thuyết ( là giả thuyết sự khác nhau giữa và là không có ý nghĩa,
hay nói cách khác sự khác nhau giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là
không đáng tin cậy).
9. Cấu trúc luận văn.
Ngoài mở đầu, danh mục các kí hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, kết
luận khuyến nghị và phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chƣơng 2: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng
MCQ để dạy kiến thức mới và kiểm tra đánh giá
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 22
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới [16]
Khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc tiến hành vào
thế kỉ XVII – XVIII ở khoa học Vật lí, Tâm lí rồi tới ngành Động vật học.
Từ những nguyên tắc về sự khác nhau giữa các loài của Darwin trong
tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859), Francis Galton đã
vận dụng vào việc khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất sinh lý,

soạn toàn bộ (Mỹ,Nhật, Thái Lan) hoặc chủ yếu (Trung Quốc) bằng phƣơng
pháp TNKQ.
Trong lĩnh vực Sinh học cũng có các tác giả chủ biên về từng lĩnh vực.
Ví dụ nhƣ tác giả Doulags Sawyer chủ biên về Tế bào học, đề cập tới cấu trúc
hay chức năng của màng tế bào, sự vận chuyển các chất qua màng…. Trong
lĩnh vực Di truyền học đáng chú ý là các ông trình của Janice Finkelstein,
Golder Wilson về bài trắc nghiệm trƣớc khi vào học giáo trình (pre-test) dùng
cho sinh viên y khoa tự ôn tập, tự đánh giá khi học Di truyền ngƣời.
Trong nhiều năm qua, để đo mức độ hiểu biết của học sinh phần lí
thuyết và thực hành, ngƣời ta cũng áp dụng TNKQ trong các kì thi Olimlic
quốc tế về Sinh học (IBO). Với hình thức này đã thu hút đƣợc sự hƣởng ứng
của đông đảo các nƣớc tham gai và nó đã tỏ ra có nhiều ƣu điểm trong khi
chấm bài, làm bài.
Với nhiều ƣu điểm nổi bật của hình thức TNKQ, hình thức này đã
đƣợc phổ biến ở nhiều nƣớc, đặc biệt trong trƣờng học nó đã trở thành một
công cụ để kiểm tra trên lớp, để học sinh tự kiểm tra kiến thức, ngay cả ở
các chƣơng trình đào tạo từ xa khi mà ngƣời học nhận và gửi thông tin bài
làm qua vi tính.

24
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Dù TNKQ xuất hiện khá sớm trên thế giới nhƣng tại Việt Nam thì
TNKQ lại xuất hiện muộn hơn và chủ yếu tập trung trƣớc hết ở các thành phố,
các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, cao đẳng.
TNKQ đƣợc sử dụng lần đầu tiên tại miền Nam Việt Nam vào những
thập niên 50 của thể kỉ XX, sau đó phát triển mạnh ở những thập niên 70 của
thế kỉ này. Các trƣờng trung học bắt đầu sử dụng rộng rãi hình thức này vào
những năm 1956 – 1960, và đầu tiên ở môn Sinh học. Những năm tiếp theo,
các tác phẩm về TNKQ lần lƣợt đƣợc xuất bản nhƣ: “Trắc nghiệm vạn vật lớp
12” của Lê Quang Nghĩa năm 1963, “Phƣơng pháp học và thi vạn vật lớp 12”

có các nghiên cứu cho sự kiểm định các câu hỏi đó ví dụ nhƣ các đóng góp
của GS. Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH Sƣ phạm Huế). Vào những năm này,
T.S Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ
để kiểm tra hiệu quả của phƣơng pháp giảng dạy tích cực ở trƣờng phổ
thông bằng bài toán nhận thức” đã khẳng định đƣợc tác dụng lớn lao của
TNKQ trong đánh giá kết quả học tập. Gần đây, phƣơng pháp TNKQ đã
đƣợc áp dụng trong nhiều trƣờng đại học trong cả nƣớc nhƣ: ĐH Ngoại
ngữ, ĐH Sƣ phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Y Hà Nội…
Năm 1996, 1997 trong các tài liệu “ Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu
bồi dƣỡng dạy SGK lớp 12 cải cách giáo dục môn Sinh học”, ông đã nhiều
lần nhắc đền TNKQ, soạn các câu hỏi với 3 phƣơng án lựa chọn giúp GV có
ngân hang câu hỏi giúp HS ôn tập, củng cố kiên thức. Các tác giả Lê Đình
Trung, Trịnh Nguyên Giao (ĐH Sƣ phạm Hà Nội),Nguyễn Viết Nhân (ĐH Y
khoa TP Hồ Chí Minh), Trần Hồng Hải đã cho ra đời những bộ sách với
những câu hỏi soạn sẵn tạo nhiều thuận lợi cho GV và HS áp dụng trong
KTĐG. [12]
Một số luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Di truyền học và Giáo dục học
đã xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ cho việc KTĐG ở các trƣờng ĐH sƣ

26
phạm và Cao đẳng sƣ phạm nhƣ các đề tài của Nguyễn Thị Kim Giang
(1997), Đỗ Thị Lý (1998), Nguyễn Thị Thùy Loan (2000)… Đáng chú ý là
luận án tiến sĩ của Vũ Đình Luận (2005) “ Xây dựng và sử dụng câu hỏi
TNKQ dạng MCQ để nâng cao chất lƣợng dạy học môn Di truyền học ở các
trƣờng cao đăng sƣ phạm”. Trong luận án này tác giả đề xuất về quy trình xây
dựng câu hỏi TNKQ trong KTĐG kết quả học tập môn Di truyền học, xây
dựng đƣợc 830 câu hỏi phần di truyền nhƣng chỉ dành cho sinh viên cao đẳng
sƣ phạm. Sau đó đã có một số đề tài liên quan tới TNKQ áp dụng với đối
tƣợng học sinh phổ thông nhƣ luận văn Thạc sĩ đề cập đến xây dựng và sử
dụng câu hỏi TNKQ trong dạy kiến thức mới ở Sinh học lớp 12 nhƣ đề tài của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status