Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập chương Động lực học vật rắn thuộc chương trình vật lí lớp 12 nâng cao nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN HÙNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
CHƯƠNG "ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN"
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO
NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ HÀ NỘI – 2011

4

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giới hạn của đề tài 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Những đóng góp của luận văn 4
9. Cấu trúc luận văn 5
Chương 1. 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 6
NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 6
1.1. Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi 6
1.1.2. Bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở trường trung học phổ thông 9
1.1.3. Một số vấn đề lý luận về bài tập vật lí trong dạy học ở trường THPT 12
1.1.4. Một số vấn đề về phương pháp dạy học bài tập vật lí ở trường THPT17
1.2. Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1. Tìm hiểu nội dung kiến thức vật lí trong các kì thi học sinh giỏi

3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 94
3.1.3. Đối tượng thực nghiệm sư phạm 95
3.2. Tiến hành thực nghiệm sư phạm 96
3.2.1. Thời điểm thực nghiệm: 96
3.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 96

6
3.3. Kết quả và xử lí kết quả 96
3.3.1. Xây dựng tiêu chí để đánh giá 96
3.3.2. Phân tích các kết quả về mặt định tính 97
3.3.3. Phân tích các kết quả về mặt định lượng 98
3.4. Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 108
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 7 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. ĐC : Đối chứng
2. HS : Học sinh
3. HSG : Học sinh giỏi
4. GV : Giáo viên
5. GD : Giáo dục

năng thực hành giỏi ”. Để đạt được mục tiêu đề ra, Hội nghị cũng đã chỉ rõ
“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng
bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học…”.
Đặc trưng của con người là hoạt động có ý thức. Năng suất lao động của
mỗi người phụ thuộc rất nhiều vào tri thức của người đó. Nhà khoa học giỏi có
thể phát minh ra những máy móc, quy trình, phương pháp giúp cho năng suất
lao động tăng lên hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn lần. Nhà quản lý hay chính
trị gia giỏi có thể tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh của hàng trăm, hàng nghìn,
hàng triệu người. Vì vậy, Nhân tài có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc
xây dựng xã hội văn minh. Những nước văn minh đều là những nước bồi dưỡng
và sử dụng được nhiều nhân tài.
Các trường THPT coi công tác bồi dưỡng HSG là công tác mũi nhọn và
trọng tâm. Nó có tác dụng thiết thực và mạnh mẽ nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ các thầy cô giáo, nâng cao chất lượng GD khẳng định
thương hiệu của nhà trường, tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giành
những đỉnh cao trong HS. Lí luận dạy học xem bài toán là một phương pháp dạy
học cụ thể, nó được áp dụng phổ biến, thường xuyên ở các cấp học, ở các loại

2
hình dạy học khác nhau và được áp dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Đối với môn vật lý, bài tập đóng vai trò là nội dung, là phương tiện để
chuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách
hiệu quả nhất, là một trong những phương tiện cơ bản nhất để giảng dạy và học
tập môn vật lý ở nhà trường THPT.
Việc nghiên cứu các vấn đề về bài tập vật lí, đã có rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu. Các nghiên cứu đó đề cập tới nhiều mặt của bài tập vật lí
với những nội dung cơ bản như: lí luận dạy học về bài tập vật lí; phân loại và
phương pháp giải các bài tập vật lí, các nghiên cứu cụ thể về tiến trình dạy học
bài tập vật lí ở từng đơn vị kiến thức cụ thể…

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài tôi đã xác định được những nhiệm vụ
chính sau đây:
- Nghiên cứu lý luận về bài tập vật lý và phương pháp giải bài tập vật lý
nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức lý thuyết và bài tập chương “Động lực
học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT, tài liệu giáo khoa
chuyên vật lý THPT và một số tài liệu tham khảo vật lý khác.
- Phân tích vị trí, vai trò nội dung kiến thức chương “Động lực học vật
rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT. Dựa vào mục đích yêu
cầu theo phân phối chương trình thực hiện giảng dạy vật lý nâng cao lớp 12
THPT. Dựa vào cấu trúc, nội dung kiến thức cần đạt được trong các đề thi HSG
vật lý các cấp trong 4 năm trở lại đây của thành phố Hà Nội.
- Xây dựng hệ thống bài tập về nội dung kiến thức chương “Động lực học
vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao THPT, dùng cho công tác bồi
dưỡng HSG vật lý THPT.
- Đề xuất một số phương pháp giải bài tập nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả trong các kỳ thi HSG vật lý THPT các cấp.
- Điều tra khảo sát tính khả thi của những biện pháp được đề xuất. Xử lý
kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê. 4
6. Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hệ thống và phương pháp
giải bài tập vật lý chương “Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp
12 nâng cao THPT.
Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập. Nhằm bồi
dưỡng HSG phần động lực học vật rắn.
7. Phương pháp nghiên cứu

“Động lực học vật rắn” thuộc chương trình vật lý lớp 12 nâng cao nhằm bồi
dưỡng HSG.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 NÂNG CAO
NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi
1.1.1.1. Vài nét về lịch sử
* Trên thế giới

trong ba mục tiêu chiến lược của nền GD Quốc dân Việt Nam. Trong quan điểm
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, vấn đề nhân tài luôn được xác định là yếu tố
quan trọng trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Nhiều địa phương đã có những chính sách riêng khuyến học, khuyến tài,
tạo điều kiện thuận lợi để thu hút, trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn, thành phố Hà
Nội đã thông qua: “Quy định tạm thời về ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học
đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát
triển Thủ đô” và “Quy định tạm thời về thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài
năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao”. Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Bình
Dương đã ban hành quy định chính sách đào tạo, thu hút nguồn nhân lực trình
độ cao về công tác tại địa phương. Thành phố Hồ Chí Minh có chương trình đầu
tư lớn cho “Vườn ươm tài năng”…
* Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay, với sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ
thông tin và truyền thông; với sự phổ biến của Internet và sự tiến nhanh đến nền
kinh tế tri thức… thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là tài năng trẻ có
vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, ngành GD&ĐT nước ta đã có những
chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và đến nay
đã thu được những kết quả nhất định. Nhiều tài năng trẻ đã được bồi dưỡng và
phát triển nhanh chóng. Hằng năm số HS năm cuối của các trường THPT khối
năng khiếu thi đỗ đại học đạt tỷ lệ khoảng trên 80%. Khối trường, lớp chuyên đã

8
có những đóng góp rất lớn trong việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao cho đất nước, đồng thời góp phần tích cực nâng cao
chất lượng và thành tích của các kỳ thi HSG Quốc gia, các cuộc thi Olympic
Quốc tế về toán, tin học, lý, hoá, sinh và ngoại ngữ Số HS đoạt giải trong các
kỳ thi HSG Quốc gia, Quốc tế ngày càng tăng. Nhiều HS được tuyển thẳng đại

trị; giữa gia đình, nhà trường, xã hội tạo quy trình hợp lý để phát hiện, bồi dưỡng,
giúp đỡ và phát huy tài năng trẻ.
Tóm lại, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ ở nước
ta hiện nay đang là một đòi hỏi bức thiết, một trách nhiệm nặng nề và vinh dự
lớn lao đối với các trường đại học, trung học nói riêng và toàn ngành
GD&ĐT nói chung. Tất cả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao, phục vụ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
1.1.2. Bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí ở trường trung học phổ thông
1.1.2.1. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi
* Năng lực và phẩm chất của một học sinh giỏi nói chung
Theo các tài liệu về tâm lý học và phương pháp dạy học, một HSG được
thể hiện qua một số năng lực và phẩm chất quan trọng sau:
- Năng lực tiếp thu kiến thức
+ Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng.
+ Luôn hứng thú trong các tiết học, nhất là bài học mới.
+ Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ
dạng sơ khai.
- Năng lực suy luận logic
+ Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng.
+ Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật hiện tượng.
+ Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết.
+ Biết xét đủ các điều kiện cần thiết để đạt được kết luận mong muốn.
+ Biết xây dựng các ví dụ để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích.
+ Biết quay lại điểm vừa xuất phát để tìm đường đi mới.
- Năng lực đặc biệt
+ Biết diễn đạt chính xác điều mình muốn.

10
+ Sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, các qui ước để diễn tả vấn đề.

- Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu
khoa học vật lí. Biết nêu ra những lí luận cho những hiện tượng xảy ra trong
thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí luận và biết cách dùng
lí thuyết để giải thích những hiện tượng đã được kiểm chứng.
Như vậy đối với GV, khi đào tạo những HS có năng khiếu về môn vật lí, cần
hướng HS học tập để HS được trang bị những kiến thức, kỹ năng, giúp các em tự
học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình.
1.1.2.2. Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
Nhiều nước quan niệm: HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực
trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. Những học
sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông
thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên.
Mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG và HS tài năng nhìn
chung các nước đều khá giống nhau. Có thể nêu lên một số điểm chính sau đây:
- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí
tuệ của trẻ.
- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo.
- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời.
- Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm.
- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong
đóng góp xã hội.
- Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
Những lí luận trên đây đều có thể áp dụng đối với môn vật lí ở trường
THPT, việc phát hiện và bồi dưỡng HSG cần phải có phương pháp phù
hợp mới có thể đem lại hiệu quả cao. Về nguyên tắc chúng ta có thể áp dụng
những phương pháp chung về bồi dưỡng HSG nêu trên, kết hợp chú ý một số
vấn đề đặc trưng cho môn học. Cụ thể khi truyền thụ, hướng dẫn HSG vật lí cần
chú ý những yêu cầu sau:
- Truyền thụ và hướng dẫn HS tìm hiểu, tiếp thu chính xác những kiến
thức cơ bản từ tài liệu.

cỏch tng hp cỏc kin thc ó hc trong c mt chng, mt phn. Do ú HS
s hiu rừ hn v ghi nh vng chc kin thc ó hc.

13
Sử dụng bài tập trong dạy học vật lí có một số tác dụng sau:
- Giúp cho việc ôn tập củng cố và mở rộng kiến thức, kĩ năng cho HS.
- Bài tập là khởi đầu kiến thức mới.
- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, phát triển
thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát.
- Phát triển năng lực tự lực làm việc của HS.
- Phát triển tư duy sáng tạo của HS.
- Dùng để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của HS.
Vì vậy việc rèn luyện, hướng dẫn HS giải các bài tập vật lí là đặc biệt
quan trọng, có thể nói là biện pháp rất có hiệu quả để phát triển tư duy vật lí
cho HS.
1.1.3.3. Phân loại bài tập vật lí
Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung, về phương pháp giải, về mục
tiêu dạy học. Do vậy, việc phân loại bài tập vật lí cũng có nhiều phương án
khác nhau.
* Phân loại theo nội dung:

Các bài tập vật lí được phân thành: Bài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bài
tập điện học, bài tập quang học… Cách chia này cũng có tính quy ước, vì trong
nhiều trường hợp trong một bài toán có sử dụng kiến thức của nhiều phần khác
nhau của giáo trình vật lí.
Các bài tập cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung trừu
tượng và các bài tập có nội dung cụ thể.
- Các bài tập có nội dung trừu tượng: chứa đựng các dữ kiện dưới dạng
các kí hiệu, lời giải cũng được biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng
ẩn số và dữ kiện đã cho. Ưu điểm của các bài tập này là nhấn mạnh bản chất

Bài tập đồ thị là dạng bài tập phân tích đồ thị từ đó tìm các điều kiện giải
bài toán. Dạng bài tập này rèn kĩ năng đọc và vẽ đồ thị cho học sinh. Việc
áp dụng phương pháp đồ thị cho phép diễn đạt trực quan hiện tượng vật lí,
cho cách giải trực quan hơn, phát triển kĩ năng vẽ và sử dụng đồ thị là các kĩ
năng có tác dụng sâu sắc trong kĩ thuật.
- Bài tập thí nghiệm
Đây là dạng bài tập trong đó thí nghiệm là công cụ được sử dụng để tìm các
đại lượng cần cho giải bài toán, cho phép đưa ra lời giải hoặc là công cụ kiểm tra
các tính

15
toán phù hợp ở mức độ nào với điều kiện bài toán. Công cụ đó có thể là một
thí nghiệm biểu diễn hoặc một thí nghiệm thực tập của học sinh.
* Phân loại bài tập căn cứ theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy:

Qua việc xem xét hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếm
lời giải bài tập vật lí phân chia bài tập vật lí thành hai loại: Bài tập cơ bản và bài
tập phức hợp.
- Bài tập cơ bản: là loại bài tập vật lí mà để tìm được lời giải chỉ cần xác
lập mối quan hệ trực tiếp, tường minh giữa những cái đã cho và một cái phải
tìm chỉ dựa vào một kiến thức cơ bản vừa học mà học sinh chỉ cần tái hiện chứ
không thể tự
tạo ra.

- Bài tập tổng hợp: là các bài tập vật lí mà trong đó, việc tìm lời giải phải
thực hiện một chuỗi lập luận lôgic, biến đổi toán học qua nhiều mối liên hệ
giữa những cái đã cho, cái phải tìm với những cái trung gian không cho trong
đầu bài. Việc xác lập mối liên hệ trung gian đó là một bài tập cơ bản. Và do đó,
muốn giải được một bài tập phức hợp, buộc phải giải được thành thạo các
bài tập cơ bản, ngoài ra còn phải biết cách phân tích bài tập phức hợp để quy

tập, với từng đề tài, từng tiết học cụ thể. Muốn vậy:
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong tiết nghiên
cứu tài liệu mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy học sinh.
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm củng cố, bổ sung, hoàn thiện
những kiến thức lí thuyết cụ thể đã học, cung cấp cho người học những hiểu biết
về thực tế và kĩ thuật có liên quan với kiến thức lí thuyết.
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượng
kiến thức, kĩ năng về từng kiến thức cụ thể và từng phần của chương trình. Sắp
xếp các bài tập thành hệ thống, định kế hoạch và phương pháp sử dụng. Khi dạy
giải bài tập vật lí cần dạy cho học sinh biết vận dụng kiến thức để giải quyết các
vấn đề đặt ra, rèn cho người học các kĩ năng giải các bài tập cơ bản thuộc các
phần khác nhau trong chương trình vật lí.
Khi lựa chọn bài tập, cần xác định cho được mục tiêu dạy học của bài tập
đó. Mục tiêu nói chung, là kết quả dự kiến cần đạt được mô tả dưới hình thức

17
những hành vi quan sát được. Mục tiêu dạy học của bài tập thường có hình thức
như sau:
- Nhớ lại được định nghĩa, định luật.
- Giải thích được, mô tả được hiện tượng, so sánh được mức độ khác nhau
hay giống nhau của các sự kiện hoặc hiện tượng nào đó.
- Đánh giá được tầm quan trọng, ý nghĩa, giá trị, mức độ, … của quá trình
hay sự kiện, hiện tượng.
- Biết thực hiện (hay tiến hành, hoàn thành, …) hành động hay hành vi
nào đó ở trình độ nhất định và mức độ chính xác đến đâu.
- Biết thể hiện ý thức (hay thái độ, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, lí trí,…)
trước sự kiện theo định hướng giá trị nhất định.
- Biết hoàn thành công việc nào đó với những tiêu chí cụ thể như lập kế
hoạch, tổ chức, phát hiện, tra cứu, xử lí số liệu, đánh giá, phê phán, biện luận.
1.1.4. Một số vấn đề về phương pháp dạy học bài tập vật lí ở trường THPT

cho. Đó chính là con đường cần thực hiện khi giải các bài tập vật lí.
Khái quát ban đầu càng trừu tượng thì sự tiếp thu nó một cách đầy đủ
càng đòi hỏi phải cụ thể hoá nhiều hơn. Trong dạy học vật lí, việc cụ thể hoá
được thực hiện trong quá trình áp dụng khái niệm, định luật vật lí, khi giải các
bài tập đưa các sự kiện, hiện tượng vật lí đơn lẻ vào khái niệm.
Việc nắm vững tri thức trừu tượng thực sự diễn ra tuỳ theo mức độ phong
phú của nội dung cảm tính - cụ thể. Độ rộng và tính đa dạng của thông tin về
những biểu hiện cụ thể, cảm tính của cái chung được sử dụng làm cỉ số đo trình
độ nắm vững khái niệm, định luật.
Nắm vững khái niệm, định luật - có nghĩa là nắm vững được toàn bộ tập
hợp các tri thức về các sự vật mà khái niệm, định luật đó có liên quan. Càng tiến
gần tới mức độ đó, người học càng nắm vững khái niệm, định luật. Đó là sự phát
triển của các khái niệm, định luật, chúng không phải bất biến mà có sự thay đổi
về nội hàm tuỳ theo việc mở rộng tri thức. Như vậy, việc giải bài tập vật lí thực
chất là vận dụng các kiến thức khái quát đã có vào các tình huống vật lí cụ thể,
đó là quá trình đi từ cái chung đến cái riêng.
* Phân tích tư duy giải bài tập vật lí

19
Đối với học sinh ở các lớp khác nhau, việc giải bài tập vật lí thường có khó
khăn đặc biệt. Các bài tập vật lí thay đổi theo các đặc điểm bề ngoài của tình huống
và đặc điểm tiêng của mối liên hệ giữa các đại lượng cho trong bài tập.
Mục đích hoạt động của giáo viên là trong khi dạy giải một cách hệ thống
hàng loạt các bài tập thuộc một dạng nào đó nhằm cung cấp cho người học kỹ
năng phân tích hiện tượng vật lí dựa vào hàng loạt các dấu hiệu để nhận ra dạng
bài tập đó với mục đích áp dụng được các khái niệm, định luật để tìm ra lời giải
cuối cùng. Ở đây đã diễn ra sự phân loại các kiểu ra điều kiện và các cách giải
được áp dụng cho điều kiện đó.
Trong quá trình giải bài tập vật lí, giáo viên có thể thấy học sinh rơi vào
các trường hợp sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status