Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
HÀ NỘI – NĂM 2009
Phạm Thị Hiếu
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ 1
MỤC LỤC
Trang
27
1.3.2. Điều kiện đối với bên nhƣợng quyền
30
CHƢƠNG II: KINH NGHIỆM ÁP DỤNG PHƢƠNG THỨC FRANCHISE
TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
34
2.1.KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN FRANCHISE Ở MỘT SỐ NƢỚC
34
2.1.1. Franchise ở Mỹ
34
2.1.2. Franchise ở Trung Quốc
41
2.1.3. Franchise ở Singapore
47
2.2. THỰC TẾ ÁP DỤNG PHƢƠNG THỨC FRANCHISE CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
51
2.2.1. Tổng quan về sự phát triển franchise ở Việt Nam từ giữa những
năm 90 đến năm 2008
51
2
2.2.2. Luật liên quan đến franchise ở Việt Nam hiện nay
54
2.2.3. Một số trƣờng hợp franchise điển hình của Việt Nam
58
2.2.4. Một số nhận xét, đánh giá chung
66
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
3
Trên thế giới, ngƣời ta đã từng nói nhiều đến franchise - nhƣợng quyền
thƣơng mại - với tƣ cách là một phƣơng thức kinh doanh hiệu quả và sinh lợi
cao. Khởi nguồn của nó đƣợc coi là từ Trung Quốc khi những mầm mống sơ
khai của franchise đƣợc hình thành. Song, với tính chất của một phƣơng thức
kinh doanh hiện đại thì phải đến giữa thế kỷ 19, đặc biệt là sau Chiến tranh
thế giới lần II , franchise mới phát triển và lan rộng mạnh mẽ, nhất là ở nƣớc
Mỹ.
Đây là một phƣơng thức kinh doanh liên quan tới cả thƣơng hiệu, biểu
tƣợng, sản phẩm và dịch vụ có chất lƣợng. Những doanh nghiệp có thƣơng
hiệu nổi tiếng muốn bán quyền thƣơng mại là nhằm thúc đẩy kinh doanh tăng
trƣởng với lợi nhuận hợp lý, tổ chức điều hành gọn nhẹ để giảm thiểu rủi ro
đầu tƣ nhân lực, tăng khả năng khai thác thị trƣờng mới. Đối với ngƣời mua
quyền thƣơng mại, đó là hệ thống kinh doanh đã đƣợc thử và kiểm nghiệm,
bị điều kiện vƣơn ra thị trƣờng quốc tế và đứng vững trƣớc sự xâm nhập của
hàng loạt tập đoàn bán lẻ, siêu thị nƣớc ngoài.
Vậy thực chất, franchise là gì? Nó mang lại lợi ích gì cho các bên tham
gia? đã tiến triển nhƣ thế nào ở các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát
triển? Những yếu tố gì quyết định việc áp dụng phƣơng thức franchise? Thực
trạng phát triển của franchise ở Việt Nam ra sao? Pháp luật Việt Nam đã làm
gì để tạo điều kiện cho franchise phát triển? Triển vọng phát triển franchise
trong thời gian tới sẽ nhƣ thế nào? Và các doanh nghiệp cần phải làm gì để
tận dụng đƣợc những lợi thế của phƣơng thức này? Đó là những vấn đề đƣợc
đặt ra để giải quyết trong luận văn “Nhượng quyền thương mại (Franchise)
- Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”
2. Tình hình nghiên cứu
Nhƣợng quyền thƣơng mại không còn mới trên thế giới mà thực tế đã có
rất nhiều nghiên cứu, sách, tạp chí và nhiều trang web dành riêng cho việc
5
nghiên cứu vấn đề này. Ở Việt Nam, nhƣợng quyền thƣơng mại là hình thức
kinh doanh tƣơng đối mới mẻ song cũng đã có rất nhiều bài viết về franchise
trên các báo, tạp chí và các trang web nhƣng mới chỉ giới thiệu sơ lƣợc về
franchise. Nghiên cứu sâu và tổng quát về vấn đề này có các tác giả sau:
TS Lý Quý Trung [38] đã khái quát lý luận chung về franchise, tổng
quan franchise trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần II và giới thiệu
hệ thống franchise ở Việt Nam đến năm 2004, đồng thời cũng giới thiệu một
số hệ thống franchise điển hình của thế giới và Việt Nam. Tài liệu còn cung
cấp một số thông tin giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình
ký kết các hợp đồng nhƣợng quyền và những bƣớc của quy trình bán
franchise.
TS Lý Quý Trung [39] giới thiệu khái lƣợc về lịch sử của franchise và
trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống là chủ yếu. Kinh nghiệm phát triển franchise
trên thế giới cũng chỉ đƣợc khái quát sơ lƣợc trong phạm vi tổng thể của châu
lục, chứ chƣa đi sâu phân tích thực tế ở những quốc gia riêng lẻ, đặc biệt là
những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nhƣ Việt Nam để rút ra kinh
nghiệm phát triển phƣơng thức franchise cho phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh thực tế ở nƣớc ta. Luận văn sẽ kế thừa những lý luận chung về franchise
cũng nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài này và bổ sung phân tích sự phát
triển của phƣơng thức franchise ở một số nƣớc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu tình hình áp dụng franchise ở một số nƣớc trên thế giới, thực
tiễn franchise ở Việt Nam, từ đó rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm cho
sự phát triển franchise ở Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
7
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về franchise;
- Phân tích kinh nghiệm áp dụng phƣơng thức franchise ở một số nƣớc
và đƣa dẫn chứng các case study điển hình của một vài doanh nghiệp có tiếng
trên thế giới đã thành công với franchise;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng phƣơng thức franchise của các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn từ giữa những năm 90 đến năm 2008, qua đó
đối chiếu với kinh nghiệm của các nƣớc để đƣa ra nhận xét về những ƣu và
nhƣợc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng phƣơng thức này,
cũng nhƣ nguyên nhân của nó;
- Phân tích những thuận lợi, thách thức đối với các doanh nghiệp Việt
Nam khi áp dụng phƣơng thức franchise trong thời gian sau hội nhập WTO.
Dự báo triển vọng phát triển phƣơng thức franchise và đƣa ra một số gợi ý
kinh nghiệm cũng nhƣ quá trình áp dụng phƣơng thức franchise của một số
nƣớc (trong đó có cả các nƣớc đang phát triển nhƣ Trung Quốc); giới thiệu
một số hệ thống franchise điển hình trên thế giới. Từ kinh nghiệm franchise
quốc tế, luận văn phân tích hoạt động kinh doanh nhƣợng quyền của một số
doanh nghiệp Việt Nam đã thành công với phƣơng thức franchise;
- Đƣa ra một số ý kiến về chính sách cho các nhà lập pháp, các doanh
nghiệp đang có mục tiêu áp dụng phƣơng thức franchise.
Trong quá trình phân tích, luận văn có khái quát bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam để làm rõ vai trò của phƣơng thức franchise đối với
sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, đặc
biệt là sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO .
7. Bố cục của luận văn
9
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về franchise
Chƣơng 2: Kinh nghiệm áp dụng phƣơng thức franchise trên thế giới và
thực tế ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 3: Một số gợi ý về giải pháp nhằm phát triển franchise ở Việt
nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của franchise, đã có nhiều
khái niệm của nhiều quốc gia đƣợc nêu ra nhằm giải thích, hƣớng dẫn các
doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhƣợng quyền đạt hiệu quả.
Tuy vậy, do sự khác biệt về quan điểm và môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội
giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thƣờng khác nhau.
Hiệp hội franchise Quốc tế (The International Franchise Association -
IFA), hiệp hội lớn nhất nƣớc Mỹ và thế giới đã định nghĩa về franchise nhƣ
sau:
11
"Franchise là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận
quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới
doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh nhƣ: bí quyết kinh doanh
(know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dƣới nhãn hiệu hàng
hóa, phƣơng thức, phƣơng pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm
soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tƣ đáng kể vốn vào doanh
nghiệp bằng các nguồn lực của mình" [26].
Theo định nghĩa này, vai trò của Bên nhận quyền kinh doanh trong việc
đầu tƣ vốn và điều hành doanh nghiệp đƣợc đặc biệt nhấn mạnh hơn so với
trách nhiệm của bên nhƣợng quyền.
Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) thì định nghĩa nhƣ sau:
“Franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận ít nhất là hai ngƣời hay hai đối
tác, trong đó ngƣời mua franchise đƣợc cấp quyền bán hay phân phối sản
phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch, chƣơng trình của chủ thƣơng hiệu.
Hoạt động kinh doanh của ngƣời mua franchise phải triệt để tuân theo kế
hoạch tiếp thị, gắn liền mới mục tiêu của chủ thƣơng hiệu. Bên nhận quyền
phải trả cho chủ thƣơng hiệu một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí
franchise” [38]. Hợp đồng franchise này có thời hạn xác định, thông thƣờng
đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyết
kinh doanh từ nƣớc ngoài.
Không đi vào cụ thể những khía cạnh của franchise, Tổ chức sở hữu trí
tuệ quốc tế (WIPO) lại đƣa ra khái niệm đƣợc đánh giá là tƣơng đối chính xác
nhƣ sau: Franchise là khi bên nhƣợng quyền muốn phát triển hệ thống kinh
doanh một mặt hàng/dịch vụ cụ thể của mình bằng cách cho phép một chủ thể
khác (bên nhận quyền) đƣợc sử dụng hệ thống kinh doanh của bên nhƣợng
13
quyền đúng quy định, chuẩn mực theo thoả thuận, chịu giám sát cùng với sự
hỗ trợ của bên nhƣợng. Mối quan hệ này diễn tiến liên tục suốt hoạt động
kinh doanh của bên nhận quyền.
Ngoài ra, trong Báo cáo đầu tư thế giới (WIR) năm 2008, franchise còn
đƣợc coi là một hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) mà chủ đầu tƣ
không nắm vốn.
Tất cả các định nghĩa về franchise trên đây đều dựa trên quan điểm cụ
thể của các nhà làm luật tại mỗi nƣớc. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các điểm
chung trong tất cả những định nghĩa này là việc một Bên độc lập (Bên nhận)
phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dƣới nhãn hiệu hàng hóa, các
đối tƣợng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ
do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để đƣợc phép làm việc này,
Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao giám
sát chặt chẽ.
Ở Việt Nam, Luật thương mại của Quốc hội nước Việt Nam số
36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 định nghĩa: “Nhƣợng quyền thƣơng mại là
hoạt động thƣơng mại theo đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên
nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo
các điều kiện dƣới đây:
vào khoảng những năm 400 trƣớc công nguyên). Vào thời đó, ngƣời có quyền
lực tối cao ở địa phƣơng hay chúa đất đƣợc trao quyền nắm giữ, quản lý các
khu chợ hay hội chợ, điều hành hệ thống phà tại địa phƣơng hay săn bắn trên
lãnh thổ của mình, đƣa ra các mức thuế. Nhờ hình thức này, nhà vua cấp
quyền cho mọi hình thức hoạt động kinh doanh nhƣ xây dựng đƣờng xá, sản
xuất rƣợu, bia Thực chất là nhà vua trao quyền cho một ngƣời nào đó độc
15
quyền một loại hình hoạt động kinh doanh nhất định nào đó. Những ngƣời
đƣợc cấp quyền đƣợc phép giữ lại một tỷ lệ trên số tiền mà họ thu đƣợc, và số
còn lại thì giao lại cho nhà vua. Nhƣ vậy, mối quan hệ rất sớm, sơ khai đầu
tiên về franchise đã đƣợc ghi nhận trong lịch sử mà sau này nó đƣợc mở rộng,
phát triển thành kinh doanh nhƣợng quyền thƣơng mại.
Trải qua nhiều thế kỷ, franchise đã phát triển giống nhƣ một hệ thống
kinh tế quốc gia ở các nƣớc phát triển. Vào đầu thế kỷ 19 ở Anh cũng đã thấy
xuất hiện phƣơng thức franchise khi chủ các quán rƣợu do những khó khăn về
tài chính đã phải nhờ đến sự trợ giúp của các nhà máy sản xuất rƣợu. Và để
đổi lại, họ đƣợc yêu cầu phải mua tất cả số rƣợu mà nhà máy đó sản xuất ra.
Đây chính là sự khởi đầu của một hệ thống franchise mặc dù khi đó các nhà
máy sản xuất rƣợu không có bất kỳ sự ràng buộc nào đối với các chủ quán
rƣợu. Họ chỉ muốn tìm đầu ra cho sản phẩm của họ và cho phép chủ các quán
rƣợu đƣợc tự do kinh doanh theo ý muốn. Nói khác đi, họ đã bán hàng thông
qua hình thức cấp quyền cho chủ các quán rƣợu đƣợc phép bán rƣợu của họ.
Tuy nhiên hoạt động franchise đƣợc thừa nhận phát triển một cách chính
thức và hoàn chỉnh là tại Mỹ vào giữa thế kỷ 19 (năm 1851) khi mà Nhà máy
Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng franchise đầu tiên với đối tác của
mình. Singer đã trải qua giai đoạn khó khăn trong việc tiếp thị sản phẩm cũng
nhƣ hƣớng dẫn cách sử dụng tới khách hàng. Vào thời đó, do còn non trẻ nên
là chủ cửa hiệu trên ký hợp đồng ủy quyền cho mình nhƣ một đại lý độc
quyền dƣới tên công ty McDonald‟s System mà sau này đổi tên thành
McDonald‟s Corporation.
Từ những năm 50-60 trở đi, khi franchise không chỉ dừng lại ở nhƣợng
quyền phân phối sản phẩm mà đã phát triển thành nhƣợng quyền công thức
kinh doanh, phƣơng thức franchise hiện đại ngày nay, thì nó thực sự phát triển
mạnh. Sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống
kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng,
17
thƣơng hiệu, sự phục vụ là đặc trƣng cơ bản để nhận dạng những hệ thống
kinh doanh theo phƣơng thức này.
Từ những năm 60, franchise trở thành phƣơng thức kinh doanh thịnh
hành, thành công không chỉ tại Mỹ mà còn ở những nƣớc phát triển khác nhƣ
Anh, Pháp Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Mỹ và một
số nƣớc Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn-nhà
hàng đã góp phần “truyền bá” và phát triển franchise trên khắp thế giới.
Ngày nay, franchise đã có mặt tại hơn 150 nƣớc trên thế giới, riêng tại
Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phƣơng thức nhƣợng
quyền. Các tổ chức, hiệp hội franchise quốc tế cũng nhƣ quốc gia đã lần lƣợt
ra đời nhằm bảo vệ lợi ích cho các bên tham gia và đáp ứng nhu cầu phát triển
ngày càng cao của phƣơng thức kinh doanh này.
1.1.2. Hình thức franchise
Trong thực tiễn, franchise là một phƣơng thức kinh doanh có rất nhiều
hình thức. Căn cứ vào mối quan hệ giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận
quyền, ngƣời ta thƣờng phân chia franchise theo bản chất và hình thức hoạt
động (hình thức bán franchise) của nó.
Theo bản chất hoạt động, có hai hình thức franchise sau:
kinh doanh phải tuyệt đối đƣợc giữ đúng.
Mối liên hệ và hợp tác giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền phải
rất chặt chẽ và liên tục. Bên nhƣợng quyền có thể hỗ trợ cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh nhƣ: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị quảng
cáo, phân phối và các dịch vụ hậu mãi. Bên nhận quyền phải trả một khoản
phí cho bên nhƣợng quyền, có thể là một khoản phí trọn gói một lần (initial
19
fee), có thể là một khoản phí hàng tháng (Royalty fee) dựa trên doanh số và
cũng có thể tổng hợp luôn cả hai khoản phí kể trên. Khoản phí này tùy vào uy
tín thƣơng hiệu, sự thƣơng lƣợng và chủ trƣơng của chủ thƣơng hiệu. Chẳng
hạn, nếu muốn đƣợc nhƣợng quyền thƣơng mại một cửa hàng thức ăn nhanh
McDonald‟s nổi tiếng thế giới của Mỹ vào thời điểm năm 2005, khoản phí
nhƣợng quyền ban đầu phải trả cho chủ thƣơng hiệu là 45.000USD và phí
franchise hàng tháng là 1,9% trên doanh số [30].
Hình thức nhƣợng quyền công thức kinh doanh đƣợc xem là hình thức
nhƣợng quyền phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay. Suy cho cùng, bản chất
của hình thức này chính là bên nhận quyền kinh doanh bằng hiệu quả của hệ
thống hay còn gọi là kinh doanh một tập hợp các yếu tố vô hình mà không tập
trung vào hiệu quả của một sản phẩm cụ thể nào đó do bên nhƣợng quyền
cung cấp. Tất nhiên, sản phẩm chủ lực đó vẫn luôn là một thành phần không
thể thiếu của hệ thống mà bên nhƣợng quyền triển khai. Vì vậy, hình thức
nhƣợng quyền công thức kinh doanh thƣờng đƣợc áp dụng trong các lĩnh vực
kinh doanh thức ăn nhanh, nhà hàng, khách sạn…
Theo hình thức hoạt động, có ba hình thức franchise sau:
- Đại lý franchise độc quyền (Master franchise):
Đây là hình thức bán franchise mang tính quốc tế. Nghĩa là bên nhƣợng
quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. Bên mua (do bên bán
tiên độc quyền.
- Bán franchise cho từng cá nhân riêng lẻ (single unit franchise)
Bán franchise cho từng cá nhân riêng lẻ là hình thức phổ biến nhất và
đƣợc áp dụng đối với các quốc gia nằm cùng một khu vực và chủ thƣơng hiệu
không có nhu cầu phải bán nhiều franchise. Đây là hình thức thực hiện
21
nhƣợng quyền riêng lẻ, về tốc độ phát triển nó sẽ không bằng hai hình thức
đại lý franchise độc quyền và bán franchise phát triển khu vực, nhƣng ngƣời
chủ thƣơng hiệu lại có thể dễ dàng kiểm soát tính đồng bộ và chất lƣợng của
các cửa hàng nhƣợng quyền. Ngƣợc lại, nó đòi hỏi ngƣời chủ thƣơng hiệu
phải có một bộ máy quản lý cực kỳ chuyên nghiệp và khá là đồ sộ, từ khâu
nhân sự, quản trị đến đội ngũ hậu cần.
Mỗi hình thức bán franchise đều có những lợi thế và bất lợi riêng, tùy
thuộc vào thực tế hoạt động, mỗi chủ thƣơng hiệu có thể lựa chọn một hình
thức kết hợp, phù hợp với khả năng của mình và hoàn cảnh kinh tế cũng nhƣ
yêu cầu về mặt pháp lý của mỗi quốc gia.
1.1.3. Những nhân tố cơ bản khi triển khai phƣơng thức franchise
Việc triển khai phƣơng thức franchise có thể nói là khá phức tạp và chịu
ảnh hƣởng của nhiều yếu tố hơn so với các mô hình kinh doanh khác. Bất kỳ
một doanh nghiệp nào khi lựa chọn con đƣờng phát triển theo phƣơng thức
kinh doanh này sẽ không thể không tính đến những nhân tố đƣợc xem là chìa
khóa cho sự thành công của họ. Vậy những nhân tố đó là gì?
Một là Bản sắc thương hiệu
Bản sắc thƣơng hiệu là dấu ấn tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách
sâu đậm nhất và tạo nên sự khác biệt so với các thƣơng hiệu khác. Xây dựng
thƣơng hiệu sẽ xoay quanh phần hồn là những giá trị cốt lõi đó để tạo dựng
hình ảnh và những cam kết đối với khách hàng một cách nhất quán. Có thể
đó, và ngƣời nhƣợng quyền nên tận dụng lợi thế đó để củng cố thƣơng hiệu
của mình. Điều khó khăn nhất của mối quan hệ nhƣợng quyền là làm sao kết
hợp đƣợc bản sắc của thƣơng hiệu với kế hoạch tiếp thị của từng địa phƣơng.
Bốn là Chiến lược dài hạn
23
Thông thƣờng, nhƣợng quyền thƣơng mại sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn
đƣợc thời gian chuẩn bị những cơ sở ban đầu, nhƣng không có nghĩa là doanh
nghiệp đó không phải xây dựng một chiến lƣợc dài hạn. Một đại lý nhƣợng
quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trƣớc khi thấy đƣợc lợi nhuận, và nếu
không có kế hoạch đầy đủ thì bản thân doanh nghiệp đó sẽ bị nuốt chửng
trƣớc khi có cơ hội thành công.
Thƣơng hiệu là tài sản quí giá nhất mà ngƣời nhƣợng quyền cho phép
các đại lý của mình sử dụng, giúp họ kinh doanh và phát triển mà không phải
trải qua giai đoạn xây dựng lợi thế cạnh tranh. Nhƣng vấn đề chỉ mới mang
tính một chiều, phần lớn các đại lý chƣa quan tâm nhiều đến việc cùng hợp
tác phát triển thƣơng hiệu nhƣợng quyền, và ngƣời nhƣợng quyền cũng chỉ
tập trung vào việc mở rộng qui mô cho mình. Kinh doanh luôn đòi hỏi có
chiến lƣợc, và chiến lƣợc dài hạn trong nhƣợng quyền đòi hỏi có sự cam kết
tham gia của cả hai bên vì những mục tiêu lâu dài.
Năm là Quản lý con người
Khả năng quản lý con ngƣời rất cần thiết trong kinh doanh, và càng quan
trọng hơn trong lĩnh vực kinh doanh nhƣợng quyền thƣơng mại bởi nó đòi hỏi
sự hợp tác và tin cậy lẫn nhau của các thành viên tham gia. Vấn đề quản lý
con ngƣời sẽ đem lại nội lực cho thƣơng hiệu của doanh nghiệp trƣớc khi
doanh nghiệp bắt đầu phát triển nó thành một hệ thống. Việc kí kết hợp đồng
nhƣợng quyền chỉ mới là bƣớc đầu, không phải là kết thúc của mối quan hệ
nhƣợng quyền.
vào nghề có cơ hội học hỏi kinh nghiệm điều hành từ một hệ thống bài bản và
đã đƣợc chứng minh thành công của chủ thƣơng hiệu. Sau khi đƣợc trang bị
kiến thức và kinh nghiệm thực tế, ngƣời mua franchise sẽ tự tin hơn nếu
muốn bắt đầu xây dựng riêng cho mình một mô hình kinh doanh mới. Nhờ