ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
* NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG MUA
BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
Hà Nội-2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Hoàng Oanh MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
LDN : Luật doanh nghiệp năm 2005
LĐT : Luật đầu tư năm 2005
FIE : Doanh nghiệp có vốn đấu tư nước ngoài
P/E : Hệ số giá và thu nhập( Giá trị thị trường / Lợi nhuận ròng trên
một cổ phần của một công ty)
EV/Sales : Enterprise-Value-To-Sales( (Mức vốn hóa thị trường + Nợ +
Cổ phiếu ưu đãi)/ Doanh thu hàng năm)
TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU THAM CHIẾU
Bảng 1
Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý
18
Bảng 2
Động cơ các bên khi thực hiện M&A
19
Sơ đồ 1
Các bước xây dựng mô hình M&A
31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Trí Hùng(2009), Khía cạnh pháp lý và cấu trúc của giao dịch
sáp nhập mua lại doanh nghiệp, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Ngọc Khuyên(2009), Định giá trong hoạt động mua lại
và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam,tr12-21, Luận văn thạc sĩ
kinh tế - tài chính – ngân hàng, Đại học Kinh tế, Hồ Chí Minh.
3. Ngân hàng Nhà nước(2009), Dự thảo thông tư hướng dẫn việc sáp
nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại, Hà Nội.
4. Quốc hội(2004), Luật cạnh tranh,Hà Nội.
5. Quốc hội(2006), Luật chứng khoán, Hà Nội.
6. Quốc hội(2005), Luật doanh nghiệp, Hà Nội.
7. Quốc hội(2005). Luật đầu tư, Hà Nội.
8. Chủ biên PGS.Ts. Lê Văn Tâm, Ts. Ngô Kim Thanh, Giáo trình
quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản lao động – xã hội, tr 295
9. Nguyễn Trí Thanh(2009), Nhận định xu hướng và triển vọng M&A
2009-2010 tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo M&A 2009, Hà Nội.
10. Vụ pháp chế bộ kế hoạch đầu tư(2009), M&A 2009 Việt Nam kinh
nghiệm và cơ hội, Hà Nội
11. http://www.att.com/gen/press-
room?pid=4800&cdvn=news&newsarticleid=21810
12. Trang 272.US.554,564;
http://cte.rockhurst.edu/FileUploads/indthatcher.doc
13. http://en.wikipedia.org/wiki/Hart-Scott-
Rodino_Antitrust_Improvements_Act
14. http://en.wikipedia.org/wiki/Northern_Securities_Co._v._United_States
15. http://en.wikipedia.org/wiki/Standard_Oil_Co._of_New_Jersey_v._
United_States
16. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=7019
doanh nghiệp của một nước cũng là thước đo mức độ hội nhập của nước đó
với nền tài chính thế giới trong bối cảnh khi mà nền tài chính thế giới càng
ngày càng trở nên liên hệ mật thiết với nhau hơn.
Tại Việt Nam, những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng
và thậm chí cả một số văn bản pháp luật của Việt Nam cũng đã sử dụng thuật
ngữ “mua bán và sáp nhập” để chỉ khái niệm M&A(Merger and Acquisition).
Thêm vào đó, cơ hội thu hút vốn đầy tiềm năng từ thị trường chứng khoán
cùng sự kiện Luật Doanh nghiệp (LDN) và Luật Đầu tư (LĐT) 2005 thực sự
là một cú huých mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
(DN) nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân, tạo nguồn
cung và cầu “hàng hóa - công ty” dồi dào cho các hoạt động tài chính, đầu tư.
Trên một sân chơi phổ biến hơn và khuôn khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi
hơn, các DN Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm quen
và sử dụng M&A như một công cụ chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại DN
của mình, đối phó với sức nóng cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường 2
Song hành với nền kinh tế thị trường, thị trường mua bán sáp nhập
doanh nghiệp(M&A) là loại thị trường bậc cao và có tầm ảnh hưởng đến nền
kinh tế quốc gia và không ngừng tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh
tế toàn cầu. Tại các nước có nền công nghiệp phát triển, thị trường M&A đều
có quy mô rất lớn và ở trình độ phát triển cao, tạo thành một kênh huy động
vốn, tái cấu trúc DN tiếp máu cho sự phát triển của nền kinh tế.
Qua thực tiễn hoạt động, thị trường M&A Việt Nam đã chứng minh
được sự cần thiết và vai trò tích cực của nó đối với quá trình tạo lập, cung ứng
vốn cho nền kinh tế. Nếu đem so sánh với kinh nghiệm của những nước có thị
trường M&A phát triển lâu đời, sự biến động không ngừng của thị trường
M&A là một dấu hiệu tích cực nhưng cũng chứa đựng không ít các rủi ro tiềm
tàng đối với sự phát triển chung của nền kinh tế. Tuổi đời quá non trẻ của thị
nhập doanh nghiệp:Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam” làm đề
tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào
công tác nghiên cứu, hoàn thiện hơn nữa hệ thống luật pháp nước nhà.
2. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài
Mục đích của luận văn là hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản về
M&A , các bài học kinh nghiệm từ thế giới và đánh giá đúng thực trạng tình hình
M&A tại Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh và hoàn
thiện khung pháp lý, thị trường cho hoạt động M&A tại Việt Nam.
- Phân tích những khái niệm cơ bản về mua bán sáp nhập và thị trường
M&A được quy định trong các văn bản pháp luật, giúp người đọc hiểu rõ bản chất
của loại hàng hóa đặc biệt này cũng như phương thức lưu thông của chúng.
- Kinh nghiệm về kiểm soát M&A của một số nước trên thế giới, rút ra bài
học kinh nghiệm cho thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam. 4
- Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung, gíới
thiệu và đánh giá một cách tổng quan về sự hình thành, phát triển của thị
trưòng M&A, vốn vẫn còn rất non trẻ ở Việt Nam, nhằm đem lại cho người
đọc một cái nhìn toàn diện hơn, sâu hơn và vững chắc hơn.
- Phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam, và đưa ra một số
kiến nghị cho thị trường M&A Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Thị trường M&A là một khái niệm còn khá mới mẻ đặc biệt khi đã
tham gia vào sân chơi chung của nhiều nền kinh tế trên thế giới. Trong khi đó
cơ sở pháp lý nhằm đáp ứng cho sự vận hành của hoạt động này hiện nay còn
rất nhiều khoảng trống, vì thế làm cho thị trường M&A tại Việt Nam chưa
phát triển đúng với tiềm năng của nó. Đồng thời cũng gây ra khó khăn rất lớn
đối với các chủ thể khi tham gia thực hiện hoạt động đó. Chính vì thế mà đề
Đây là một đề tài tổng quát, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, nhiều tài liệu
tham khảo cũng như thời gian nghiên cứu dài. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng
nhưng do những hạn chế nhất định về lý luận, kiến thức cũng như kinh
nghiệm thực tiễn nên luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những
thiếu sót, khiếm khuyết. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo cùng các bạn học viên, những ai quan tâm tới vấn đề này để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Đạt được kết quả như hôm nay, không thể thiếu sự giúp đỡ nhiệt tình
của thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Trung Tín. Tác giả xin chân thành cảm ơn sâu
sắc tới thầy, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả
hoàn thành luận văn này. 6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP
DOANH NGHIỆP (M&A)
M&A (viết tắt của cụm từ tiếng anh “Mergers and Acquisitions” có
nghĩa là Mua bán và Sáp nhập) được sử dụng để chỉ hoạt động của một DN
tìm cách thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ số lượng cổ phần hoặc tài sản của
DN khác đủ để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của DN đó.
Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định cụ thể trong Luật Doanh
nghiệp của từng nước. Ví dụ ở Việt Nam tỷ lệ này là 75%, trong trường
hợp Điều lệ công ty mục tiêu quy định mức thấp hơn (tối thiểu là 65%)
thì áp dụng mức đó[6]. Sau khi kết thúc thương vụ, DN mục tiêu sẽ
chấm dứt hoạt động (bị sáp nhập) hoặc trở thành một công ty con của
công ty thâu tóm.
Thương hiệu của công ty mục tiêu nếu được đánh giá là vẫn còn giá
trị để duy trì thị phần sản phẩm thì có thể được giữ lại như một thương
chút thông tin nào về vụ mua lại này.
Mua bán công ty thường là do một công ty lớn mua lại công ty nhỏ
hơn. Nhưng đôi khi vẫn có trường hợp công ty nhỏ hơn giành được sự điều
khiển, quản lý đối với một công ty lớn hơn hoặc một công ty có tiếng lâu đời
và giữ lại danh tiếng đó cho công ty. Đó được gọi là nắm quyền kiểm soát
ngược.
1.1.2. Các hình thức của hoạt động mua bán doanh nghiệp
Mua bán doanh nghiệp, về bản chất nó không là một hoạt động đưa đến
việc thành lâp doanh nghiệp mới để dẫn đến sự hình thành một doanh nghiệp
mới thay thế cho doanh nghiệp cũ. Mua bán doanh nghiệp là việc một công ty
mua lại công ty khác và cổ phiếu của công ty đi mua vẫn tồn tại trên thị 8
trường, đối với công ty bị mua lại có thể vẫn còn hoặc biến mất tùy theo mục
tiêu và ý muốn của hai bên tham gia vào cuộc mua lại.
Thứ nhất nếu xét về tính chất của giao dịch M&A thì ta có thế
phân hoạt động M&A thành 2 loại:
Mua bán doanh nghiệp mang tính chất thân thiện: đây là hình
thức mua bán được diễn ra trong sự đồng thuận của hai bên vì cả 2 đều cảm
thấy thỏa mãn với thương vụ đó[2].
Mua bán doanh nghiệp mang tính chất thù địch : đây là vụ mua
bán không được sự đồng ý và hợp tác của các người quản lý cấp cao của công
ty bị mua lại. Trong trường hợp này công ty đi mua sẽ dùng tiềm lực tài chính
của mình để mua lại công ty khác, có thể hiểu rõ hơn đó là tiến hành thâu tóm
công ty mục tiêu[2]. Mục tiêu của giao dịch này là công ty đi mua muốn triệt
tiêu sự cạnh tranh của công ty mục tiêu.
Thứ hai nếu xét về hình thức thực hiện trong các giao dịch mua
bán thì hoạt động M&A cũng có 2 hình thức:
Công ty đi mua mua cổ phiếu của công ty mục tiêu. Việc mua bán này
hơn so với hình thức đi mua cổ phiếu của công ty mục tiêu.
Thứ ba sự nổi lên của vấn đề toàn cầu hóa đã làm cho các vụ
mua bán doanh nghiệp đƣợc thực hiện bởi các công ty nƣớc ngoài ngày
càng gia tăng nhanh chóng.
Những thương vụ giao dịch đó được gọi là mua bán doanh nghiệp
xuyên quốc gia hoặc mua lại doanh nghiệp chéo. Các vụ giao dịch này được
thúc đẩy bởi việc quan tâm đến sự đa dạng của chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, các vụ mua bán doanh nghiệp chéo diễn ra khá là
phức tạp hơn so với các vụ mua lại giữa các doanh nghiệp trong nước. Sự
phức tạp đó là do sự khác nhau về môi trường chính trị, kinh tế, cách thức tổ
chức doanh nghiệp, văn hóa, phong tục truyền thống, nguyên tắc thuế, kế toán 10
giữa các nước của công ty đi mua và công ty mục tiêu. Các công ty đi mua lại
các công ty khác cần phải quan tâm đến những sự khác biệt đó bởi vì nó
thường là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại cho công ty đi mua sau khi hoạt
động mua bán đã được tiến hành. Chính do bởi sự phức tạp đó mà các nhà
môi giới tìm đến các Tập đoàn tài chính quốc tế và các tổ chức tương tự để
được tư vấn như là một vấn đề thiết yếu trong việc thực hiện hoạt động M&A
ngày nay.
1.2. Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm
Sáp nhập doanh nghiệp là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một
công ty mới có giá trị lớn hơn hai công ty đang hoạt động riêng lẻ.
Theo khoản 1- điều 153, LDN năm 2005, hiệu lực ngày 1/7/2006 đã
định nghĩa về sáp nhập DN là : “Một hoặc một số công ty cùng loại (sau
đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác
(sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài
lý, công ty mục tiêu bị chấm dứt sự tồn tại và công ty mua sẽ “nốt chửng”
hoạt động kinh doanh của công ty mục tiêu, chứng khoán của công ty mua
vẫn tiếp tục được giao dịch. Như vậy khái niệm M&A thế giới sử dụng có sự
khác biệt với khái niệm M&A ở Việt Nam hiện nay: sáp nhập thâu
tóm(acquisition); hợp nhất sáp nhập(merger). Đây là một vấn đề cần xem
xét trong quá trình xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt
Nam[10]. 12
1.2.2. Các hình thức sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập được hiểu là việc kết hợp giữa hai hay nhiều công ty và cho
ra đời một công ty(pháp nhân) mới thay thế cho sự biến mất của các công ty
cũ, thường nhằm để thực hiện mục tiêu đầu tiên là làm cho giá trị của công ty
lớn hơn so với khi hoạt động riêng lẻ. Qua nghiên cứu lịch sử của hoạt động
sáp nhập doanh nghiệp của một số nước và khu vực có nền kinh tế phát triển
trên thế giới thì chúng ta nhận thấy rằng, hoạt động sáp nhập doanh
nghiệp có rất nhiều hình thức khác nhau. Tùy theo khía cạnh đang
nghiên cứu về hoạt động sáp nhập doanh nghiệp mà chúng sẽ được phân
thành nhiều loại khác nhau.
1.2.2.1. Phân loại theo mối quan hệ giữa các công ty tiến hành sáp
nhập:
Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều ngang còn được gọi là sáp nhập
cùng ngành, là hình thức sáp nhập giữa các công ty cùng cạnh tranh trực tiếp
và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường. Ví dụ: Hai công ty sản xuất ô tô
sáp nhập với nhau. Kết quả từ những vụ M&A theo hình thức này sẽ đem lại
cho bên sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm chi
phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần. Rõ ràng,
khi hai đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lại với nhau (dù sáp nhập
hay hợp nhất) họ không những giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên
1.2.2.2. Phân loại theo mục đích của thƣơng vụ sáp nhập:
Có rất nhiều lý do dẫn đến sự sáp nhập giữa các doanh nghiệp như
nhằm cắt giảm lượng nhân công để giảm chi phí sản xuất, nhằm để đạt được
hiệu quả nhờ vào qui mô, được trang bị công nghệ mới, tăng thị phần và danh
tiếng trong ngành,… Trong đó mục tiêu mở rộng thị trường và mở rộng sản
phẩm kinh doanh là 2 mục tiêu thường được đặt ra, chính vì thế trong cách
phân loại này có 2 hình thức sáp nhập. 14
Sáp nhập để mở rộng thị trường: Sáp nhập mở rộng thị trường là sáp
nhập giữa hai hay một số DN bán cùng loại sản phẩm nhưng ở thị trường
khác nhau. Ví dụ: Sáp nhập giữa một công ty bán máy tính tại thị trường Mỹ
với một công ty khác cũng bán máy tính nhưng ở thị trường Châu Âu.
Sáp nhập mở rộng thị trường đem lại cho DN nhận sáp nhập lợi thế về
mở rộng thị trường, giảm các chi phí về việc nghiên cứu tìm hiểu và trách các
rủi ro khi thâm nhập thị trường mới.
Sáp nhập để mở rộng sản phẩm: Sáp nhập mở rộng sản phẩm là sáp
nhập giữa hai hay một số DN bán những loại sản phẩm khác nhau nhưng có
liên quan tới nhau trong cùng một thị trường. Ví dụ: Công ty bán máy in sáp
nhập với công ty bán mực in và hai công ty này đều hoạt động trên cùng một
thị trường Mỹ.
Sáp nhập để mở rộng sản phẩm đem lại cho DN nhận sáp nhập lợi thế
đa dạng hóa sản phẩm, giảm chi phí nghiên cứu sản phẩm, đồng thời tận dụng
những lợi thế mà DN bị sáp nhập có sẵn trên thị trường đó như uy tín, thương
hiệu, danh tiếng
1.2.2.3. Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính
Sáp nhập mua: Sáp nhập mua là hình thức sáp nhập khi một DN mua
lại một DN khác. Việc mua lại được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua
một số công cụ tài chính như cổ phiếu, cổ phần
B = C, C là DN mới trên thị trường, A và B chấm dứt sự tồn tại kể từ khi hợp
nhất.
Hoạt động hợp nhất, mua bán và sáp nhập có điểm chung là đều
được thực hiện để nhằm mục đích đạt được lợi thế nhờ quy mô, tăng
hiệu quả và thị phần. Đây cũng là mục đích chung của tất cả các DN
tham gia vào họat động M&A. Tuy nhiên, giữa các hoạt động này cũng
có những khác điểm khác biệt nhất định: 16
1.3.2. Sự khác biệt giữa mua bán và sáp nhập
Mặc dù “mua bán” và “sáp nhập” thường được đề cập cùng nhau
thành một thuật ngữ “mua bán, sáp nhập doanh nghiệp” nhưng đây là hai
thuật ngữ khác biệt nhau về mặt bản chất.
Khi một công ty mua lại một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở
hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Về khía cạnh pháp lý, công ty
bị mua lại-công ty mục tiêu-không còn tồn tại. Bên mua đã thôn tính bên bán
và cổ phiếu của bên bán vẫn tiếp tục tồn tại.
Khi hai công ty đồng thuận gộp thành một công ty mới thay vì hoạt
động đơn lẻ thì gọi là sáp nhập. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao
dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành.
Tóm lại, trong một vụ sáp nhập, một công ty mới sẽ được hình thành
thay cho cả hai công ty đơn lẻ, ngược lại, trong một vụ mua lại thì công ty bị
mua trở thành một chi nhánh của công ty đi mua. Nhưng cả hai đều cùng
mong muốn đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả kinh doanh và thị phần.
Tuy nhiên có sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Bởi vì, trên thực tế
hình thức sáp nhập, đặc biệt là hình thức sáp nhập ngang-sự sáp nhập của hai
công ty trong cùng ngành nghề có cùng quy mô không thường xuyên xảy ra
do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là do việc truyền tải thông tin ra
công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập.
cơ cấu cổ đông, giá trị công ty, sự linh hoạt và quyền chủ động trong điều
hành, trong khi tránh được chi phí chuyển nhượng đắt đỏ.
Mặt khác, nếu căn cứ vào tính độc lập của ban điều hành hoặc thương
hiệu sau sáp nhập thì trong rất nhiều trường hợp, ban điều hành, cơ cấu tổ
chức và thương hiệu của công ty bị sáp nhập vẫn được giữ lại nguyên vẹn và
hoạt động một cách tương đối độc lập với công ty nhận sáp nhập(trừ báo cáo
tài chính được gộp vào báo cáo hợp nhất của công ty nhận sáp nhập như một