LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giáo dục đào tạo của nhà trường cũng như sự
giảng dạy tận tình của các thầy cô đã dành chúng em trong suốt quá trình học tập và
rèn luyện tại trường Đại Học Thương Mại.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Nguyễn Minh Phương cùng các
thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế thương mại, khoa Kinh tế - Trường Đại Học
Thương Mại đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các cô chú, anh chị trong công
ty cổ phần Hoàng Gia Việt Nam đã giúp em hoàn thành luận văn này.
Vì thời gian thực tập không nhiều và điều kiện chưa cho phép, bài khóa luận
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em mong nhận được những ý kiến
đống góp của các thầy cô giáo, các anh chị, các bạn để đề tài của em thêm hoàn thiện
và thiết thực hơn.
Em xin chân thành cảm ơn‼!
Sinh viên
Vũ Thị Thanh Hà
11
MỤC LỤC
22
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
1 CP Cổ phần
2 USD Đơn vị tiền tệ của Mỹ (Đô
la)
3 WTO Tổ chức thương mại thế giới
33
44
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
thị trường đầy tiềm năng mà chúng ta chưa khai thác hết. Kim ngạch xuất khẩu
gỗ sang thị trường Trung Quốc càng ngày càng gia tăng, Trung Quốc từ là thị
trường xuất khẩu thứ 4 của Việt Nam, nhưng đến năm 2011 Trung Quốc đã
vươn lên là thị trường xuất khẩu gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam. Nhận thức được
điều này nên trong thời gian qua đã có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ
trong nước đã nỗ lực để đưa sản phẩm vào thị trường này. Công ty CP Hoàng
Gia Việt Nam là một doanh nghiệp như vậy, công ty đã bắt đầu xuất khẩu sản
phẩm gỗ sang thị trường Trung Quốc từ đầu năm 2008. Với sự cố gắng nỗ lực
của mình, công ty đã đạt được một số thành công như: kim ngạch xuất khẩu tăng
đều qua các năm, đã kí kết được một số hợp đồng mua bán lâu dài với bạn hàng
ở thị trường Trung Quốc…Tuy nhiên trong quá trình đi thực tập tại công ty, em
nhận thấy bên cạnh những thành công đã đạt được thì hoạt động xuất khẩu mặt
hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc của công ty còn gặp nhiều hạn chế, chưa
tương xứng với tiềm năng. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của
công ty qua các năm không ổn định, tốc độ tăng còn chậm, thị trường xuất khẩu
còn nhỏ hẹp chưa mở rộng được thêm nhiều, cơ cấu mặt hàng chưa được đổi
mới nhiều còn đơn điệu nghèo nàn, chưa tạo được dấu ấn riêng cho công ty. Do
đó trong thời gian tới, công ty cần phải nhanh chóng có những biện pháp để
khắc phục những vấn đề này nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị
trường Trung Quốc, tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Trong những năm qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan
đến xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của nước ta, mỗi công trình nghiên cứu đều đề
cập đến những khía cạnh khác nhau của xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ. Trong đó, tại
công ty CP Hoàng Gia Việt Nam thì chưa có công trình nghiên cứu nào, tại
trường Đại Học Thương Mại cũng đã có một số công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài. Đáng chú ý nhất là những công trình sau đây:
6
- Luận văn tốt nghiệp: “Giải pháp thị trường nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng
đồ gỗ sang thị trường Mỹ( lấy công ty cổ phần thương mại dịch vụ Linh Đàm
cứu đã đưa ra chỉ mang tính cục bộ phù hợp với thị trường mà đề tài đó đang
nghiên cứu.
Những đề tài ở trên đã nghiên cứu về những thị trường chiếm thị phần lớn
trong kim ngạch xuất nhập khẩu sản phẩm gỗ của nước ta như Mỹ và Nhật Bản,
đề tài này nghiên cứu về thị trường Trung Quốc - một thị trường đầy tiềm năng.
Chưa có công trình nghiên cứu nào giải quyết một cách toàn diện về phát triển
xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Hơn nữa hiện nay Trung Quốc là một thị trường xuất khẩu gỗ đầy tiềm
năng của nước ta, và thực tế xuất khẩu sang thị trường này chưa tương xứng với
tiềm năng đó. Các công trình nghiên cứu trên đi sâu nghiên cứu các công ty
thương mại, không trực tiếp sản xuất, chỉ làm trung gian cho xuất khẩu. Công ty
cổ phần Hoàng Gia Việt Nam là một công ty sản xuất theo đơn đặt hàng của
thương nhân Trung Quốc rồi thông qua trung gian xuất khẩu sang Trung Quốc,
và chưa có công trình nghiên cứu nào về công ty cổ phần Hoàng Gia Việt
Nam.Xuất phát từ thực tiễn đó đề tài đã tập trung vào nghiên cứu phát triển mặt
hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc của công ty cổ phần Hoàng Gia Việt
Nam.
Trên cơ sở hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề
nghiên cứu luận văn giải quyết vấn đề thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang
thị trường Trung Quốc theo hướng đi mới. Nếu như các đề tài trước tập trung
giải quyết bài toán xuất khẩu theo hướng tiếp cận nghiên cứu thực trạng, tìm ra
giải pháp thì luận văn tiếp cận theo hướng xậy dựng các hệ thống chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả phát triển xuất khẩu, đánh giá tác động các nhân tố môi trường tới
quá trình xuất khẩu sản phẩm, dựa vào các tài liệu mà công ty cung cấp, tài liệu
tham khảo thu thập được. Từ đó tổng hợp kết quả, rút ra kết luận đánh giá quá
trình phát triển xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc để đưa ra
những giải pháp, kiến nghị phù hợp. Đó là tính mới của đề tài.
8
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Qua kết quả thực tập và khảo sát điều tra, phỏng vấn tại công ty CP
đánh giá thực trạng xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc của
công ty thông qua:
kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu. Từ thực trạng đó rút
ra những thành công mà công ty đã đạt được, đồng thời phát hiện ra những vấn
đề còn tồn tại, nguyên nhân của tồn tại để đưa ra các giải pháp thị trường nhằm
thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc.
Về phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ
gỗ nội thất sang thị trường Trung Quốc, thúc đẩy bằng việc gia tăng quy mô
xuất khẩu và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu việc thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ
sang thị trường Trung Quốc của công ty CP Hoàng Gia Việt Nam.
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, lấy số liệu thống kê về tình hình xuất
khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2009 –
2012, đồng thời dự báo, tìm hiểu phương hướng xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang
thị trường Trung Quốc trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi xây dựng lí thuyết về thúc đẩy xuất khẩu, đề tài đi sâu vào khảo sát
thực tế vấn đề nghiên cứu bằng cách sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên
cứu tài liệu. Dữ liệu sơ cấp sẽ được thu thập và phân tích từ: các tài liệu, báo cáo
của đơn vị thực tập, từ sách báo, tạp chí và từ Internet). Ngoài ra còn sử dụng
các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh dữ liệu,
phương pháp chỉ số.
10
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích: Nhằm thu thập các số liệu liên quan đến vấn đề phát triển xuất
khẩu mặt hàng đồ gỗ, cũng như thu thập ý kiến các chuyên gia về vấn đề nghiên
cứu các nguồn từ đơn vị thực tập và từ các phương tiện thông tin đại chúng
Cách thức:
Thu thập tài liệu từ báo cáo kinh doanh của công ty CP Hoàng Gia Việt Nam.
5.3. Phương pháp chỉ số
Phương pháp chỉ số là phương pháp phân tích số liệu dựa trên các con số
tỷ lệ hoặc phần trăm của đối tượng nghiên cứu so với tổng thể… qua đó rút ra
các nhân xét đánh giá về tỷ lệ thu được so với tổng thể, tùy vào mục tiêu nghiên
cứu để đưa ra nhân xét đánh giá phù hợp.
Sử dụng phương pháp này chủ yếu trong phần 2.2 nhằm phân tích dữ
liệu thứ cấp để đánh giá sự gia tăng về kim ngạch, tỷ trọng, cơ cấu thị trường.
Qua đó để đánh giá sự nỗ lực gia tăng quy mô, nâng cao hiệu quả xuất khẩu của
công ty sang thị trường Trung Quốc.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, các danh mục, phụ lục và tài liệu tham
khảo. Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang
thị trường Trung Quốc.
Chương 2: Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường
Trung Quốc.
Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị cho vấn đề giải pháp thị trường nhằm thúc
đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Trung Quốc.
12
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
MẶT HÀNG ĐỒ GỖ SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu
Có rất nhiều khái niệm về xuất khẩu ta có thể đưa ra một số định nghĩa
như sau:
- Cách hiểu thứ nhất: Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nước
ngoài.
(Từ điển bách khoa toàn thư Wikepedia)
- Cách hiểu thứ hai: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh
thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được
dạng sản phẩm chế biến từ gỗ đều được phép nhập khẩu, trừ gỗ tròn, gỗ xe khai
thác từ rừng tự nhiên trong nước. Gỗ có nguồn gốc nhập khẩu được phép xuất
khẩu dưới mọi dạng sản phẩm, kể cả việc tái sản xuất gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ xẻ nhập
khẩu và sản phẩm làm từ gỗ nhập khẩu khi xuất khẩu không phải chịu thuế xuất
khẩu.
Đồ gỗ chế biến đó là những sản phẩm dễ cháy và chịu ảnh hưởng lớn của
thời tiết. Chúng có thể bị giãn nở, rạn nứt, cong vênh, có thể bị ẩm mốc hoặc
mối mọt làm hỏng, dẫn đến sản phẩm bị biến dạng và giảm giá trị. Do đó các
sản phẩm này đòi hỏi phải được sấy khô và có quy trình xử lý thích hợp để
chống mối mọt với chất xử lý không gây độc hại cho con người và môi trường.
Vì vậy tùy từng loại sản phẩm, khả năng nhu cầu thị hiếu trên thị trường mà giá
trị xuất khẩu của chúng là khác nhau.
1.1.2.2. Phân loại mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu
Đồ gỗ xuất khẩu là sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị tăng thêm
về công nghệ và lao động. Các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam có thể
phân chia làm 4 nhóm:
Nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời bao gồm: các loại bàn ghế vườn, ghế băng,
dù che nắng, ghế xích đu… làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu
khác như sắt, nhôm, nhựa…
Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn ghế, giường, tủ, giá kê
sách, đồ chơi, ván sàn… làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu khác
như sắt, nhôm, nhựa…
Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, ghế, tủ, tranh…
áp dụng các công nghệ trạm, khắc, khảm…
Sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanh như: gỗ keo, gỗ bạch
đàn
1.2. Một số lý thuyết của thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị
trường Trung Quốc
14
1.2.1. Đặc điểm của phát triển xuất khẩu
ngoài hay bị ràng buộc vào các yêu sách của các nước khác. Bởi vậy xuất khẩu
là hoạt động tạo nguồn vốn quan trọng nhất cho nhập khẩu.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
15
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và
đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc
gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Sự tác động này thể
hiện ở:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác cơ hội phát triển thuận lợi. Chắng
hạn, khi phát triển xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sẽ góp phần thúc đẩy ngành công
nghiệp khai thác gỗ, ngành công nghiệp chế biến gỗ và các ngành công nghiệp
sản xuất mặt hàng kèm theo khi sản xuất gỗ.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thu góp phần cho sản xuất
phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan
trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện
đại hóa nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cạnh tranh trên thị trường
thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ
chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường.
+ Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, hoàn thiện công tác quản
trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường.
- Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, cải thiện đời sống
nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt.
Trước hết sản xuất, chế biến dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thu hút
hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu
phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu
nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của
mình.
− Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh
nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị
trường nước ngoài.
− Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng
cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
− Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũng như
các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng
17
xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
− Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác
quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu
kỳ sống của một sản phẩm.
− Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị tham
gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân buộc
các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất
khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản
phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn
lực.
− Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được thu hút được nhiều lao
động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng
thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm lợi
nhuận.
− Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn
bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
1.2.3. Nội dung của thúc đẩy xuất khẩu – hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thúc
đẩy xuất khẩu.
t
= P
t
*Q
t
Trong đó :
Kim ngạch xuất khẩu t: Kim ngạch năm t.
P
t
: Giá của sản phẩm xuất khẩu năm t.
Q
t :
Sản lượng xuất khẩu của năm t.
1.2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng xuất khẩu
Ngoài các chỉ tiêu về số lượng, thúc đẩy xuất khẩu còn được phản ánh về
chỉ tiêu chất lượng. Từ các chỉ tiêu gia tăng về sản lượng, kim ngạch ta nhận
định được chất lượng của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu thông qua tốc độ tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu và sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu.
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu: Được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa kim
ngạch xuất khẩu kỳ hiện tại so với kim ngạch xuất khẩu kỳ trước chia cho quy
mô xuất khẩu kỳ trước. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu được tính bằng đơn vị
%.
Công thức tính:
Tốc độ KNXK = [(KNXK
t
– KNXK
t-1
).100%]/KNXH
t-1
Trong đó:
H
k
: Hiệu quả sử dụng lao động xuất khẩu
W: Lợi nhuận thu được từ việc sử dụng vốn xuất khẩu
K: Vốn sử dụng cho hoạt động xuất khẩu
- Hiệu quả sử dụng lao động
Công thức tính:
H
l
= W
l
/ L
Trong đó:
H
l
: Hiệu quả sử dụng lao động xuất khẩu
W
l
: Năng suất lao động của một người lao động
L : Số lao động sử dụng trong hoạt động sản xuất xuất
khẩu
1.2.3.4. Chỉ tiêu môi trường
Sự phát triển của thương mại xuất khẩu góp phần quan trọng vào tăng
trưởng và phát triển kinh tế, tuy nhiên nó cũng là nguy cơ gây ra hậu quả tiêu
cực đối với quá trình phát triển bền vững, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi
trường và mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng xấu đến đời sống con người. Hiệu
quả xuất khẩu đi kèm với việc sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Do vậy đi kèm với thúc đẩy phát triển
xuất khẩu phải chống nguy cơ ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên, hướng tới phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường là việc làm không chỉ
việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cho phục vụ xuất khẩu. Còn tính tối
ưu của xuất khẩu là sự phát triển xuất khẩu một cách bền vững hài hòa các mục
tiêu kinh tế xã hội và môi trường. Thể hiện ở việc tốc độ kim ngạch tăng cao và
ổn định ở hiện tại và trong tương lai, không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố
bên ngoài.
21
- Hướng tới tính bền vững của xuất khẩu: Thể hiện ở việc tốc độ kim ngạch tăng
cao và ổn định trong hiện tại và cả trong tương lai, không bị ảnh hưởng của
nhiều yếu tố bên ngoài. Có thể kim ngạch xuất khẩu khi tăng nhanh, nhưng chưa
vững chắc, rất dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài như biến động giá cả
trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của
nước ngoài…thì lúc đó tính bền vững của xuất khẩu chưa cao.
Ngoài thúc đẩy xuất khẩu phải đảm bảo hài hòa mối quan hệ lợi ích trong phát
triển giữa hiện tại và tương lai về tất cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi
trường như tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người
dân, bảo vệ môi trường.
Từ đó có thể thấy được bản chất của thúc đẩy xuất khẩu là phải giải quyết được
một cách tối ưu những hoạt động xuất khẩu nhằm không ngừng cải thiện và gia
tăng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng mặt hàng khi xuất khẩu sang thị
trường nước ngoài.
Nội hàm của phát triển xuất khẩu bao gồm nhiều vấn đề, nhưng trong phạm vi
bài khóa luận của mình em chỉ tập trung nghiên cứu 2 khía cạnh đó là:
- Sự gia tăng về quy mô xuất khẩu: quy mô xuất khẩu gỗ và mặt hàng đồ gỗ của
cả nước trong giai đoạn 2009 – 2012, quy mô xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của
công ty trong giai đoạn 2009 – 2012, quy mô xuất khẩu từng mặt hàng của công
ty qua các năm.
- Chất lượng của phát triển xuất khẩu: sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng theo
hướng tối ưu, đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường
xuất khẩu sang những thị trường khác.
22
năm 2013 này tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng tăng mạnh.
Như vậy về kim ngạch xuất khẩu trong vài năm gần đây ta có thể thấy
rằng: Trong những năm trước kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc có kết quả không mấy khả quan kim ngạch xuất khẩu có
23
tăng nhưng tăng với tốc độ chậm, nhưng đến năm 2013 thì kim ngạch xuất khẩu
có vẻ khả quan hơn trong 3 tháng đầu năm 2013 kim ngạch xuất khẩu gỗ sang
thị trường Trung Quốc đã đạt 185 triệu USD. Sự tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu gỗ và mặt hàng đồ gỗ tăng nhưng về chất lượng của xuất khẩu vẫn chưa
được bền vững, vẫn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố trên thị trường và nhất là
sức cạnh tranh còn kém so với hàng của Trung Quốc.
2.1.1.2. Mặt hàng
Chủng loại: Mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam rất đa dạng phong phú ngày
càng phát triển kết hợp với nhiều loại vật liệu khác nhau như kim loại, nhựa…
hay làm khung có bọc vải, da hoặc các vật liệu khác. Nhưng mặt hàng đồ gỗ
nước ta xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc thì chỉ tập trung vào gỗ qua sơ
chế và hàng mộc tức hàng nội thất được xử lý, chạm trổ như hàng thủ công mỹ
nghệ. Hàng nội thất được xử lý, chạm trổ như hàng thủ công mỹ nghệ là thế
mạnh của các làng nghề truyền thống tập trung ở các tỉnh phía Bắc, các sản
phẩm phù hợp với văn hóa của người Trung Quốc.
Mẫu mã: Mẫu mã sản phẩm của chúng ta ngày càng được nâng cao, cải
tiến, mang tính thực tế phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt của người dân
nước xuất khẩu. Tuy nhiên mẫu mã so với các nước khác vẫn còn nghèo nàn, bắt
còn bắt chước mẫu hàng hóa của Trung Quốc,chưa có được nét đặc trưng riêng
nên chưa có sức cạnh tranh cao trên thị trường Trung Quốc.
Chất lượng: Chất lượng hàng hóa ngày càng tăng cao nên mặt hàng đồ gỗ
của Việt Nam đã có mặt trên 120 thị trường trên thế giới, còn ở thị trường Trung
Quốc thì thị phần vẫn chiếm tương đối nhỏ. Các cơ sở chế biến được đầu tư
thêm nhiều máy móc, thiết bị hiện đại vào các công đoạn sấy gỗ, hoàn thiện bề
mặt sản phẩm…Điều này làm cho sản phẩm của chúng ta ngày càng được nâng
trổ như đồ gỗ mỹ nghệ của các tỉnh miền Bắc. Trung Quốc cũng là một trong
những nước có kim ngạch xuất khẩu gỗ lớn trên thế giới nên việc mặt hàng đồ
gỗ của nước ta khi thâm nhập vào thị trường Trung Quốc cũng sẽ gặp nhiều khó
khăn hơn. Hiện nay thị hiếu tiêu dùng ngày càng thay đổi nhanh chóng, vì vậy
các sản phẩm gỗ của Việt Nam nhiều lúc trở nên lỗi mốt, chưa đáp ứng được
yêu cầu của thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư hơn nữa cho
việc nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm mới, thay đổi mẫu mã, công nghệ
để làm mới sản phẩm, tăng sức mua, mở rộng thị trường.
- Các quy định của Trung Quốc
Ngày nay xu thế hội nhập diễn ra ngày một mạnh mẽ nên việc bảo hộ sản
phẩm trong nước là một xu thế tất yếu của mỗi quốc gia. Trung Quốc cũng đã áp
dụng công cụ này cho những hàng hóa khi xuất khẩu sang thị trường Trung
Quốc. Mặt hàng đồ gỗ cũng là một mặt hàng mà Trung Quốc có kim ngạch xuất
25