Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
đưa ra trong bài viết là chính xác, trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập.
Hà Nội, tháng 05/2013
Sinh viên thực hiện
Sitthisone siphanith
Lớp: NHE- k12
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠITRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại trong nền kinh tế thị trường 11
1.1.1. Ngân hàng thương mại 11
1.1.1.1 Định nghĩa 11
1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại với sự phát triển của nền kinh
tế 11
1.1.2. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường. .12
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 12
1.1.2.2 Các hình thức tín dụng 13
1.1.2.3 Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàn thương mại nói chung 14
1.2. Tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại 17
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn 17
1.2.2. Đặc điểm 17
2.2.3.Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 36
2.2.4.Kết quả kinh doanh 38
2.3.Thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng liên
doanh Lào- Việt, chi nhánh Hà Nội 39
2.3.1.Cơ cấu cho vay 39
2.3.1.1.Cơ cấu cho vay theo thời gian 39
2.3.1.2.Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo ngành kinh tế 40
2.3.1.3.Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế 41
2.3.2. Tình hình thu nợ 41
2.3.3.Công tác mở rộng hoạt động tại Chi nhánh 43
2.3.3.1 Công tác khách hàng 43
2.3.3.2.Công tác sản phẩm, dịch vụ mới 47
2.3.3.3.Thông tin tuyên truyền quảng cáo 47
2.3.4. Những vấn đề rút ra qua công tác nghiên cứu tình hình tín
dụng ngắn hạn 48
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO VIỆT – CHI NHÁNH HÀ NỘI
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng của LVB trong những năm tới.
52
3.2.Các giải pháp mở rộng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng liên
doanh Lào – Việt chi nhánh Hà Nội 53
3.2.1.Thực hiện tốt công tác Marketing ngân hàng 53
3.2.2.Công tác tổ chức, đào tạo cán bộ 60
3.2.3.Tăng cường công tác thu nhập và xử lý thông tin 61
3.2.4.Linh hoạt sang tạo trong xử lý nghiệp vụ 62
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
3
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. NHTM : Ngân hàng thương mại
2. LVB : Ngân hàng liên doanh Lào – Việt
3. BIDV: Ngân hàng đầu tư phát triển
4. BCEL : Ngân hàng thương mại Lào
5. CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân
6. NHNN: Ngân hàng nhà nước
7. TCTD: Tổ chức tín dụng
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1
TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠITRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại trong nền kinh tế thị trường 11
1.1.1. Ngân hàng thương mại 11
1.1.1.1 Định nghĩa 11
1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại với sự phát triển của nền kinh
tế 11
1.1.2. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường. .12
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 12
1.1.2.2 Các hình thức tín dụng 13
1.1.2.3 Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàn thương mại nói chung 14
1.2. Tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại 17
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn 17
1.2.2. Đặc điểm 17
2.2.3.Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 36
2.2.4.Kết quả kinh doanh 38
2.3.Thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng liên
doanh Lào- Việt, chi nhánh Hà Nội 39
2.3.1.Cơ cấu cho vay 39
2.3.1.1.Cơ cấu cho vay theo thời gian 39
2.3.1.2.Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo ngành kinh tế 40
2.3.1.3.Cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế 41
2.3.2. Tình hình thu nợ 41
2.3.3.Công tác mở rộng hoạt động tại Chi nhánh 43
2.3.3.1 Công tác khách hàng 43
2.3.3.2.Công tác sản phẩm, dịch vụ mới 47
2.3.3.3.Thông tin tuyên truyền quảng cáo 47
2.3.4. Những vấn đề rút ra qua công tác nghiên cứu tình hình tín
dụng ngắn hạn 48
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO VIỆT – CHI NHÁNH HÀ NỘI
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng của LVB trong những năm tới.
52
3.2.Các giải pháp mở rộng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng liên
doanh Lào – Việt chi nhánh Hà Nội 53
3.2.1.Thực hiện tốt công tác Marketing ngân hàng 53
3.2.2.Công tác tổ chức, đào tạo cán bộ 60
3.2.3.Tăng cường công tác thu nhập và xử lý thông tin 61
3.2.4.Linh hoạt sang tạo trong xử lý nghiệp vụ 62
3.2.5.Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ 63
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
7
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, để từng bước phát
triển, hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trải
qua nhiều khó khăn, thử thách nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ. Để đạt được điều đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân
hàng với vai trò là "đòn bảy kinh tế" thông qua hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc
đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng của
Nhà nước. Tín dụng ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta chưa phát triển, các
doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ - dễ gặp phải khó khăn về vốn
ngắn hạn mà không có khả năng giải quyết - do đó nhu cầu vay vốn ngắn hạn,
đặc biệt là nguồn vay từ ngân hàng là rất cao.
Chính vì sự quan trọng của tín dụng ngắn hạn đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp như vậy, đồng thời với chủ trương của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay, nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ mở
rộng sản xuất, kích thích tính năng động sáng tạo của chúng, các NHTM đặc
biệt là các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đã có những biện pháp mở rộng hoạt
động tín dụng ngắn hạn nhằm giúp các doanh nghiệp này.
Là một chi nhánh còn khá non trẻ nhưng Ngân hàng liên doanh Lào –
Việt (LVB) chi nhánh Hà Nội đã đạt được khá nhiều thành tích đáng ghi nhận.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho Chi nhánh trước tình hình hiện nay là tỷ trọng cho
vay ngắn hạn tại Chi nhánh rất nhỏ và có xu hướng giảm. Trong khi đó, địa bàn
Hà Nội là nơi đông dân cư và tập trung nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ với nhu
cầu vốn ngắn hạn cao. Do đó, bức xúc hiện nay của Chi nhánh là làm thế nào để
mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn, từng bước giúp các doanh nghiệp mở
rộng sản xuất, từ đó góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
SV: Sitthisone SIPHANITH
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Định nghĩa
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh mà hoạt động thường xuyên
và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền gửi đó để cho vay đầu tư, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm các
phương tiện thanh toán.
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức môi giới trên
thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng, quy mô, hoạt động đa
dạng, phong phú và đan xen lẫn nhau. Người ta phân biệt ngân hàng thương mại
với các tổ chức môi giới tài chính khác là ngân hàng thương mại là ngân hàng
kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn, chính từ điều kiện đó đã
tạo cơ hội cho ngân hàng thương mại có thể làm tăng bội số tiền gửi của khách
hàng trong hệ thống Ngân hàng của mình. Đó cũng là đặc trưng cơ bản để phân
biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại với sự phát triển của nền kinh
tế
Thứ nhất: Với chức năng chung gian tài chính, ngân hàng là nơi cấp vốn
cho nền kinh tế.
Thứ hai: Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị
trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
11
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
luật kinh tế khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh.
Thứ ba: Ngân hàng thương mại là một chủ thể tạo sự tác động trực tiếp
* Theo thời gian tín dụng thì tín dụng được chia làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm 12 tháng trở
xuống, thường được cho vay bổ xung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các
doanh nghiệp, cá nhân và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá
nhân, hộ gia đình.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải
tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và sử dụng các công trình nhỏ có thời gian thu
hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, loại tín dụng
này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có
quy mô lớn, tín dụng dài hạn có giá trị lớn có thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
* Theo đối tượng đầu tư thì tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cấp nhằm hình thành vốn
lưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt
tạm thời, loại tín dụng này thường được chia thành các loại cho vay dự trữ hàng
hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thành toán các khoản nợ dưới hình
thức khấu trừ chứng từ có giá.
- Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được cấp nhằm hình thành nên vốn
cố định của doanh nghiệp. Loại tín dụng này thường ược sử dụng cho nhu cầu
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất
xây dựng các công trình mới, thời hạn cho vay đối với loạitín dụng này là trung
hạn và dài hạn.
Ngoài ra để phân loại tín dụng người ta còn căn cứ vào:
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
13
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
- Vào mục đích sử dụng vốn tín dụng là cho vay bất động sản, cho vay
Học viện Ngân hàng
• Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần
kinh tế nào phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề
hay khu vực đó. Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ
dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó
phát triển.
Để thực hiện được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định,
các nhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù hợp
để có thể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này đang là
một vấn đề hết sức quan trọng ở nước ta, trong tình trạng cơ cấu kinh tế hiện nay
còn nhiều bất hợp lý. Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển
từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta cần
phải có những biện pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp,
dịch vụ, thương mại, du lịch…bởi ở nước ta tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm
quá lớn trong khi tỷ trọng các ngành khác còn quá thấp so với các nước trên thế
giới. Để làm được điều này chính sách tín dụng đóng một vai trò hết sức quan
trọng, chú trọng vào công tác tín dụng như vậy sẽ là một biện pháp để thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
• Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp
Trong thời đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên
tục và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn luôn đứng
trước yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại. Để thực hiện
được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc,
kỹ thuật thay nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là
nơi cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp. Qua đó, ngân
hàng sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để đổi mới kích thích tính năng động
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
16
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
1.2. Tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
được phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn
ngắn- dưới 1 năm do đó khoản vay này thường được dùng để đáp ứng nhu cầu
thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ xung vốn
lưu động hay thanh toán ngoại thương và phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
1.2.2. Đặc điểm.
- Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua
nguyên vật liệu, trả lương, bổ xung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ,
nguồn vốn được quay vòng nhiều. Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồn
trung và dài hạn thường là những tài sản cố định có thời gian sử dung lâu dài vì
vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không được quay vòng nhiều.
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử
dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ,
giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn
Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa
vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái
tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao. Do khoản
vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động
không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn.
Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo
hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh
đồng thời khoản vay thường đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn
xuất kinh doanh và khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Nhưng
dù nhu cầu cao hay thấp, doanh nghiệp luôn sử dụng tín dụng vốn lưu động với
tư cách là các khoản vay ít hay nhiều thường xuyên theo cơ cấu tài chính của
doanh nghiệp.
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
18
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
Dưới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay
ngắn hạn theo các loại hình phổ biến sau đây:
1.2.3.1 Tín dụng ứng trước.
Các tín dụng ứng trước được gọi bằng các từ ngữ khác nhau. Các tên gọi
của chúng thường thể hiện những thực tế rất gần gũi như: Mở tín dụng khoản,
thấu chi, tín dụng vãng lai(hay còn gọi là cho vay luân chuyển) Nhìn chung,
các khoản tín dụng ứng trước chủ yếu theo nhu cầu toàn bộ tài sản lưu động,
nghĩa là không thực hiện một tài sản xác định nào. Nói chung không có một
đảm bảo riêng.
Tín dụng ứng trước bao gồm các loại sau đây:
• Tín dụng thế chấp hoặc nghiệp vụ mở tín dụng khoản.
Loại tín dụng này là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một
thời hạn nhất định.
Trong hình thức này, ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho
họ một tín dụng khoản. Khi mở tài khoản như vậy khách hàng không phải bỏ
tiền vào đấy, mà trái lại có thể lấy tiền ra, tiền đó là tiền ứng trước của ngân
hàng vì vậy nghiệp vụ này còn gọi là nghiệp vụ ứng trước. Khách hàng có thể
sử dụng tài khoản này để phát hành séc chi trả hoặc có thể sử dụng cho nhiều
mục đích khác.
• Thấu chi.
khách hàng .
• Tín dụng thời vụ.
Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất được thực hiện ở một thời điểm
nào đó trong năm trong khi việc tiêu thụ lại được thực hiện tại một thời điểm
khác hoặc ngược lại việc sản xuất được rải đêù trong cả năm để tránh chi phí
đột biến và dàn đều tổng chi phí trong khi việc tiêu thụ lại được tiến hành trong
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
20
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
một thời gian rất ngắn. Trong các trường hợp này doanh doanh nghiệp có nhu
cầu thời vụ về tài trợ vốn lưu động và nó được thoả mản bằng tín dụng thời vụ.
Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ tài chính ở các thời
vụ. Dựa vào điều tra nghiên cứu của mình, ngân hàng sẽ có kế hoạch tài trợ thời
vụ cụ thể của tong tháng, các nhu cầu và nguồn vốn dự kiến. Nói cách khác,
khi có nhu cầu vượt quá nguồn vốn trong một thời kỳ nào đó người ta đưa ra
nhu cầu đặc biệt về thời vụ mà nếu như mọi việc diễn ra tốt đẹp, sẽ được san
bằng ở thời kỳ bán hàng. Vốn lưu động phải bù đắp một phần nhu cầu này.
Một doanh nghiệp có khả năng suốt năm đương đầu với thời kỳ mùa vụ mà
không cần tới tín dụng bên ngoài, thì chắc chắn là một doanh nghiệp quản lý
chưa tốt nguồn vốn, bởi vì nó chứng tỏ việc không tận dụng số tư bản thường
có trong một thời kỳ của năm và mức sinh lợi của vốn này do đó cũng phải
gánh chịu những hậu quả.
1.2.3.2 Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền.
Chiết khấu thương phiếu.
Thương phiếu hay kỳ phiếu thương mại là một giấy nợ phát sinh trong
quan hệ thương mại và người hưởng thụ một trái quyền đối với người thụ trái
khi giấy nợ đến hạn. Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại.
Từ thời Trung cổ các thương phiếu đã trở thành phương tiện quan trong
Ngoài ra tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền còn gồm các
loại: Nghiệp vụ huy động các trái quyền thương mại, bao thanh toán hay mua
uỷ nhiệm thu
1.2.3.3 Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng.
Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ do ngân hàng đưa ra
bằng việc phát hành các chứng thư bảo lãnh hoặc bảo chứng, cam kết trả thay
cho người đi vay nếu người đi vay không trả được nợ. Có trường hợp đó là sự
xác nhận khoản tín dụng đã cấp cho một thời hạn nhất định. Khi thực hiện cho
vay qua cam kết bằng chữ ký, ngân hàng không phải xuất quỹ đễ cho khách
hàng sử dụng một khoản tiền nhất định, mà chỉ đưa ra một cam kết bảo lãnh cho
con nợ đối với chủ nợ. Như vậy, chỉ khi nào con nợ không trả được nợ thì ngân
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
22
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
hàng mới trả nợ hộ. Thông thường để thực hiện nghiệp vụ này thì ngân hàng
phải lập một quỹ bảo lãnh theo một tỷ lệ so với vốn pháp định. Hiện nay ở Việt
Nam số tiền bảo lãnh tín theo tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị bảo lãnh.
1.2.4. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi
chúng ta. Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh
tế, các tổ chức và mỗi cá nhân. Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn
hạn có vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước
trong giai đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng.
Nó thể hiện:
1.2.4.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ. Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển
vốn từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong
động có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của
doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có
thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ
đứng trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần
lớn vốn lưu động đều vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng
trước để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do
tính chất của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần dư
nợ vay chưa sử dụng đến. Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn
nhanh và tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả
doanh nghiệp và cả cho ngân hàng.
Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được
nguồn bổ sung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển
doanh nghiệp.
SV: Sitthisone SIPHANITH
Lớp: NHTME - K12
24
Báo cáo tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
1.2.4.3 Đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo
nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ
để tạo nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình
hoạt động của các ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến
các vấn đề : Phải tạo được nguồn thu bù đắp được các chi phí( chi phí huy
động vốn, chi phí trả lương, chi phí quản lý Mặt khác phải đảm bảo khả
năng thanh khoản của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản
trị giải quyết vấn đề này.