Vốn lưu động và các giải pháp tài chính chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần vật tư vận tải xi măng - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPBH : Chi phí bán hàng
CPQLDN : Chi phí quản lý doanh nghiệp
DN : Doanh nghiệp
DTT : Doanh thu thuần
ĐTDH : Đầu tư dài hạn
GVHB : Giá vốn hàng bán
SXKD : Sản xuất kinh doanh
HTK : Hàng tồn kho
TSLĐ : Tài sản lưu động
NV
TX
: Nguồn vốn thường xuyên
VLĐ : Vốn lưu động
VKD : Vốn kinh doanh
VTV : Công ty CP Vật tư Vận tải Xi măng
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
LỜI NÓI ĐẦU
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, là nơi tổ chức kết hợp
các yếu tố của quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo
nguồn tích lũy cho xã hội phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, để có một hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt
thì ngay từ đầu quá trình sản xuất doanh nghiệp cần phải có vốn để đầu tư và

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - Th.S
Nguyễn Thị Hạnh, các thầy cô giáo trong Khoa Tài chính - Ngân hàng, cùng
các cô chú, anh chị trong phòng Tài chính - Kế toán Công ty Cổ phần Vật tư
Vận tải Xi măng đã tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này.
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Gấm
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
2
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG,
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, thành phần vốn lưu động.
1.1.1.1 Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bên cạnh các tài sản cố định, doanh
nghiệp cần phải có các tài sản lưu động. Tài sản lưu động của doanh nghiệp
được chia thành hai loại:
Tài sản lưu động sản xuất: bao gồm những vật tư dự trữ để đảm bảo quá
trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất: sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm.
Tài sản lưu động lưu thông: tài sản lưu động nằm trong quá tình lưu
thông của doanh nghiệp: thành phẩm trong kho, vốn bằng tiền….
Xét về mặt kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh ( SXKD ) của doanh
nghiẹp là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào tạo thành yếu tố đầu ra là hàng
hoá, dịch vụ đó để thu về doanh thu bán hàng và lợi nhuận. Để đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên liên tục đòi hỏi

Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá
mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, bên cạnh đó
thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện pháp phát huy chức năng các
thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện để
định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu qủa. Mặt khác còn giúp nhà quản lý biết
được tác dụng của từng bộ phận vốn. Giúp đảm bảo vật tư cho quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp tiến hành liên tục, góp phần sản xuất tiêt kiệm đảm
bảo hiệu quả kinh doanh.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
4
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
* Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh
doanh, có thể chia vốn lưu động thành các loại chủ yếu sau:
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất ( Vốn lưu động dự trữ ): đây
là bộ phận vốn lưu động cần thiết nhằm thiết lập nên các khoản dự trữ về vật
tư hàng hoá đảm bỏ cho quá trình sản xuất kinh doanh doanh của doanh
nghiệp tiến hành một cách thường xuyên, liên tục bao gồm: giá trị các khoản
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ dụng cụ…
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là số vốn kể từ khi xuất vật tư dùng
vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, bao gồm: vốn sản phẩm
đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: là số vốn chiếm dụng kể từ khi
sản phẩm nhập kho tới khi tiêu thụ được sản phẩm và thu được tiền bán hàng
về, bao gồm vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản
đầu tư ngắn hạn, cho vay ngắn hạn……
Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được vai trò và sự phân
bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó
có biện pháp thích hợp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý, đạt được hiệu
quả sử dụng vốn lưu động cao nhất. Và là cơ sở để xác định nhu cầu vón lưu

đúng đắn và hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp:
+ Là cơ sở, căn cứ để tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng đầy đủ và
kịp thời nhu cầu Vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Là cơ sở cho doanh nghiệp sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm tránh tình
trạng ứ đọng, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.
+ Là nhân tố quan trọng để qúa trình sản xuất diễn ra liên tục, tránh tình
trạng căng thẳng giả tạo về vốn.
* Phương pháp xác định nhu cầu Vốn lưu động của doanh nghiệp
Để xác định nhu cầu Vốn lưu động thường xuyên, cần thiết cho doanh
nghiệp, tuỳ từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà người ta có thể sử
dụng phương pháp trực tiếp hay gián tiếp.
- Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu Vốn lưu động:
Nội dung của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến nhu cầu vốn lưu động trong từng khâu như: khâu dự trữ, hâu lưu thông
để xác định được Vốn lưu động cần thiết trong mỗi khâu của quá trình chu
chuyển Vốn lưu động. Trên cơ sở đó xác định tổng nhu cầu Vốn lưu động của
doanh nghiệp bằng cách tập hợp toàn bộ nhu cầu Vốn lưu động trong các khâu.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
+ Nhu cầu Vốn lưu động trong khâu dự trữ hàng tồn kho cần thiết: xác
định nhu cầu Vốn dự trữ của từng loại nguyên vật liệu. Sau đó tổng hợp lại để
tính mức dự trữ nguyên vật liệu hoặc hàng hoá.
+ Dự kiến khoản phải thu: Dựa trên độ dài thời gian cho khách hàng nợ
để dự kiến khoản nợ phải thu trung bình từ khách hàng.
Nợ phải thu
dự kiến kỳ
kế hoạch
=
Thời hạn trung

+ Phương pháp 2: Tỷ lệ phần trăm trên daonh thu. Đây là phương pháp
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
dự báo nhu cầu tài chính ngắn hạn. Khi áp dụng phương pháp này đòi hỏi
người thực hiện phải hiểu đặc thù sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ( quy
trình sản xuất, tính chất của sản phẩm, tính thời vụ….) và phải hiểu tính quy
luật của mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng với tài sản, tiền vốn, phân phối
lợi nhuận của doanh nghiệp.
Phương pháp này được tiến hành qua 4 bước:
Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bảng kế cân đối
kế toán thực hiện.
Bước 2: Chọn các khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệ
chặt chẽ với doanh thu và tỷ lệ phần trăm của các khoản đó so với doanh thu
thực hiện trong kỳ báo cáo.
Bước 3: Dùng tỷ lệ phần trăm đó để ước tính nhu cầu Vốn lưu động cho
năm kế hoạch trên cơ sở dự kiên donh thu thuần năm kế hoạch.
Bước 4: Định hướng nguồn trang trải nhu cầu tăng vốn lưu động trên cơ
sở kết quả kinh doanh kỳ kế hoạch.
1.1.2.2 Nguồn tài trợ đảm bảo nhu cầu Vốn lưu động.
Để đáp ứng cho nhu cầu Vốn lưu động thường xuyên cần thiết, và nhu
cầu Vốn lưu động tạm thời, tương ứng có hai nguồn tài trợ đảm bảo cho hai
nhu cầu trên:
- Nguồn Vốn lưu động thường xuyên: là nguồn có tính chất ổn định nhằm
đảm bảo cho nhu cầu Vốn lưu động thường xuyên cần thiết, hình thành nên
tài sản lưu động thường xuyên cần thiết, bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu và
nguồn vốn huy động dài hạn. Trong đó:
Cách xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên.
C1: NV
TXLD

Vốn bằng tiền trong doanh nghiệp bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
và tiền đang chuyển . Trong doanh nghiệp, sự tồn tại của vốn bằng tiền là rất
cần thiết. Thứ nhất là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm
hang hoá vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết, ngoài ra còn để ứng
phó với các nhu cầu vốn bất thường, chớp các cơ hội kinh doanh, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp hưởng chiết khấu thanh toán từ người bán và làm tăng
khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vốn bằng tiền là loại
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
tài sản linh hoạt, gọn nhẹ nên dễ bị tham ô chiếm dụng. Do vậy cần phải quản
lý chặt chẽ vốn bằng tiền.
Nội dung chủ yếu của quản lý vốn bằng tiền bao gồm các vấn đề sau:
- Xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý.
Mức dự trữ tiền mặt tối ưu của doanh nghiệp được xác định theo công thức:
Q
E
=
1
)2
)(*2
C
XCQ
n
Trong đó:
Q
E
: Là số tiền mặt dự trữ tối ưu
Q
n

không đòi được, gây ra những tổn thất về vốn cho doanh nghiệp.
Nội dung chủ yếu của quản lý nợ phải thu là phải xác định một chính
sách bán chịu hợp lý. Đối với chính sách bán chịu doanh nghiệp cần phải
đánh giá kỹ theo các thông số chủ yếu sau:
- Số lượng sản phẩm, hàng hoá đơn vị dự kiến tiêu thụ được
- Giá bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ
- Các chi phí phát sinh thêm do việc tăng các khoản nợ
- Các khoản chiết khấu chấp nhận
- Thời gian thu hồi nợ bình quân đối với các khoản nợ
Dự đoán số nợ phải thu của khách hàng theo công thức:
N
pt
=
h
t
K
D
360
=
360
*
ht
KD
hay N
pt
= D
n
* K
h
Trong đó:

kiện cho doanh nghiệp tăng tốc độ luân chuyển VLĐ.
Nội dung chủ yếu của quản lý vốn về hàng tồn kho là xác định lượng đặt
hàng kinh tế ( còn gọi là lượng đặt hàng tối ưu ) bằng công thức sau:
Q
E
=
1
**2
C
QC
nd
Trong đó:
Q
E
: Là lượng đặt hàng kinh tế ( Lượng đặt hàng tối ưu )
C
1
: Là chi phí lưu kho đơn vị tồn kho dự trữ
C
d
: Là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng
Q
n
: Là khối lượng vật tư hang hoá cung cấp hàng năm
Số lần đặt hàng trong năm: L
c
=
E
n
Q

rất nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp quan trọng nhất là phương
pháp so sánh một cách có hệ thống các chỉ tiêu tài chính qua các giai đoạn
phát triển của doanh nghiệp, để thấy được năm nay doanh nghiệp đã sử dụng
vốn lưu động tốt bằng năm ngoái chưa, có tiết kiệm được vốn lưu động
không.
•Tốc độ luân chuyển VLĐ
Tốc độ luân chuyển VLĐ được đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển
và kỳ luân chuyển VLĐ.
Số lần luân chuyển Vốn lưu động phản ánh số vòng quay của VLĐ thực
hiện được trong 1 thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm theo Ngân sách
( năm dương lịch ). Công thức tính toán như sau:
L =
VLD
M
Trong đó:
L : Số lần luân chuyển ( Số vòng quay của VLĐ trong năm )
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong năm
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
VLD
: Vốn lưu động bình quân trong năm
Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện 1 vòng quay VLĐ.
Công thức xác định như sau:
K =
L
360
Hay K =
M
VLD

Trong đó:
VLD
: Vốn lưu động bình quân trong năm
1q
V
,
2q
V
,
3q
V
,
4q
V
: Vốn lưu động bình quân các quý 1,2,3,4
V
1dq
: Vốn lưu động đầu quý 1
V
1cq
, V
2cq
, V
3cq
, V
4cq
: Vốn lưu động cuối quý 1,2,3,4
•Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển
Đây là chỉ tiêu bỏ sung cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ. Nó
phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ

ốc độ luân chuyển VLĐ k ỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.
M
1
: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ kế hoạch
K
1
, K
0
: Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ kế hoạch, kỳ báo cáo
L
1
, L
0
: Vòng quay VLĐ kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo
•Hàm lượng VLĐ
Hàm lượng VLĐ là chỉ tiêu thể hiện số VLĐ cần có để tạo ra một đồng
doanh thu thuần. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
VLĐ.
Công thức tính:
Hàm lượng vốn lưu động =
VLĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
Mức dùng Vốn lưu động càng ít, hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao và
ngược lại.
1.1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.
* Tỷ suất lợi nhuận Vốn lưu động
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế với số VLĐ bình quân sử dụng trong
kỳ của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
15

Doanh thu bán hàng bình quân ngày
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
16
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
+ Số vòng quay hàng tồn kho:
Là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Số
vòng hàng tồn kho càng cao việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ
doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh
số cao. Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
+ Thời gian một vòng quay hàng tồn kho:

Thời gian một vòng quay
hàng tồn kho
=
360
Số vòng quay hàng tồn kho
1.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động trong các
doanh nghiệp hiện nay.
1.2.1 Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào
cũng cần phải có một lượng vốn tiền tệ tối thiểu nhất định và không nằm
ngoài mục đích sử dụng số vốn đó nhằm thu lợi nhuận tối đa thông qua quá
trình sản xuất, trao đổi lưu thông hàng hoá. Vì vậy vấn đề đặt ra là doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói
chung, vốn lưu động nói riêng, đó chính là con đường ngắn nhất đạt mục tiêu
và làm tăng giá trị doanh nghiệp.
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn

doanh.
* Vốn lưu động có vai trò rất quan trọng, là bộ phận không thể thiếu
được trong vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của Vốn lưu
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
18
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
động là đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên liên tục, do vậy nếu thiếu vốn, vốn lưu động không luân chuyển
được thì qua trình sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn và có thể bị gián đoạn gây
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
* Vốn lưu động còn là căn cứ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của
vật tư, hàng hoá trong doanh nghiệp. Vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số
lượng vật tư hàng hoá ở các khâu nhiều hay ít. Vốn lưu động luân chuyển
nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí.
* Sử dụng Vốn lưu động hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm
việc của các TSCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn
và phát triển kinh doanh. Vì vậy, việc quản lý, bảo toàn và nâng hiệu quả sử
dụng Vốn lưu động là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
+ Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu
động trong các doanh nghiệp.
* Thứ nhất: đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục thường xuyên.
Vốn lưu động trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn, luân
chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái
sản xuất được thực hiện liên tục, doanh nghiệp phải có đủ Vốn lưu động đầu
tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái đó có được mức
tồn trữ hợp lý, tối ưu, đồng bộ với nhau làm cho việc chuyển hoá hình thái
vốn trong quá trình luan chuyển được thuận lợi.
* Thứ hai: Góp phần giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản
phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình chuyển hoá các hình
thái của Vốn lưu động diễn ra càng nhịp nhàng ăn khớp đồng bộ với nhau thì

tiêu cực. Vì vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung và hiệu quả sử dụng Vốn lưu động nói riêng, nhà quản lý tài chính
phải xác định và xem xét những nhân tố tác động tới quá trình sản xuất kinh
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
20
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Công đoàn
doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể.
- Nhân tố khách quan:
+ Lam phát: Khi nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng tiền bị giảm
sút dẫn đến tăng giá các loại hàng hoá vật tư…. Vì vậy nếu DN không điều
chỉnh kịp thời giá trị các loại tài sản sẽ làm cho Vốn lưu động mất dần theo
tốc độ trượt giá của tiền tệ.
+ Rủi ro: Trong cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia,
sức cạnh tranh lớn, nếu thị trường không ổn định, sức mua có hạn thì làm tăng
thêm rủi ro cho DN. Ngoài ra DN còn gặp nhiều rủi ro do thiên tai như bão
lụt, hoả hoạn… Bên cạnh đó là những thay đổi về chính sách, chế độ, hệ
thống pháp luật, thuế… Trong khi đó, vốn lưu động là yếu tố bị chi phối
nhiều nhất của các rủi ro trên. Do đó, với nhữngbiến động thất thường hiện
nay của kinh tế, các doanh nghiệp nếu không chủ động lường trước những rủi
ro sẽ làm giảm hiệu quả và hiệu suất sử dụng vốn lưu động.
+ Tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật: làm cho chất lượng,
mẫu mã sản phẩm liên tục thay đổi với giá cả ngày càng rẻ hơn. Tình trạng
giảm giá vật tư hàng hoá gây nên tình trạng mất vốn lưu động tại DN. Hiện
nay trên thương trường, sự cạnh tranh ngày càng găy gắt chính vì vậy doanh
nghiệp phải liên tục có ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất
đưa vào SXKD nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng ứ đọng
vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng.
- Nhân tố chủ quan
+ Do xác định nhu cầu vốn lưu động: Trong thời kinh tế đầy biến động
như hiện nay, việc huy động vốn để tài trợ vốn lưu động là một việc không dễ

đầu tư, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ thị trường tiêu thụ, tình hình cung
ứng nguyên vật liệu, quy trình công nghệ, áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp
để rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: T1A
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status