ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊ PHAM
VI SINH GIỮ ẨM LIPOMYCIN M LÊN
KHẢ NẢNG GIỮ NƯỚC DẺ TIÊU CỦA ĐÂT
MÃ SỐ: QT 07-54
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: THS. NGUYEN k i ề u b ả n g t â m
HÀ NỘI, 2007
ĐA I H O C Q U Ố C G IA HÀ NỎI !
~pụr jG ĩ~ í■/ TH 3 J G TIM THƯ VIÊN I
■DI / m
BÁO CÁO TÓM TẮT
Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hường của chế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M lên khá
năng giữ nước dễ tiêu của đất
Mã số: QT 07-54
Chủ trì: Thạc sỹ Nguyễn Kiều Băng Tâm
Nghiên cứu khả năng giữ nước dễ tiêu cho đất của chê phẩm vi sinh giữ ẩm
Lipomycin M
II. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp xác định áp suất thẩm thấu của các mẫu đất bằng máy đo áp suất nước
trong đất dựa trên nguyên lý nén khí ép nước ra khỏi đất với các mức áp suất khác
2. Xác định khả năng giữ nước dễ tiêu của chế phẩm thông qua việc theo dõi sự sinh
trưởng và phát triển của cây trồng
III. Kết quả đạt được
- Kết quả nghiên cứu: lượng nước dễ tiêu được chiết ra trong khoảng áp suất pF từ 2,5-
4,2 ở các công thức thí nghiệm là cao hơn so với đối chứng, đặc biệt là ở công thức có phối
trộn với phân vi sinh và NPK. Kết quả theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng cho
thấy, ở những công thức thí nghiệm có bón chế phẩm Lipomycin M, sô' lá và chiều cao cây
duy trì tốt hơn so với đối chứng sau khi đã ngừng tưới. Điều đó chứng tỏ chế phẩm Lipomycin
M đã giữ nước dễ tiêu cho cây trồng, đảm bảo cho cày vẫn phát triển tốt khi không được cung
cấp nước. Có thể nói chế phẩm Lipomycin M có khả năng giữ ẩm cho đất và lượng nước giữ
of plants, it can be seen that, in experimental formulas, number of leaves and the height of
plants keep higher than that in control one after stop watering. It is clear that, bioproduct
Lipomycin M has the ability of keeping soil moisture in effective form for growth of plants.
+ 01 article published on scientific journal
+ 01 graduation thesis
M Ụ C L Ụ C
Chương 1 Tổng quan tài liệu 2
1.1 Vai trò và các dạng nước trong đ ấ t
2
1.1.1 Vai trò của nước đối với thực v ậ t 2
1.1.2 Các dạng nước trong đất 2
1.1.3 Khả năng giữ nước của đ ấ t 5
1.1.4 Độ trữ ẩm (sức chứa nước)
5
1.1.5 Nước hữu hiệu trong đ ất 6
1.2 Giới thiệu về chế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M
7
1.2.1 Khái niệm về vi sinh vật sinh màng n h ầ y
7
1.2.2 Chức năng sinh màng nhầy của vi sinh vật 7
1.2.3 Tác dụng của việc cải tạo đất bằng phương pháp sinh h ọ c
7
1.2.4 Ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh giữ ẩm đất Lipomycin M lên đ ấ t 8
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
9
2.1 Đối tượng nghiên cứ u 9
2.1.1 Đ ất 9
2.1.2 Cây trồn g 9
2.1.3 Chế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M 9
để cung cấp cho cây trồng, đặc biệt ở những vùng khô hạn, bán khô hạn nơi mà đất rất
khô cằn, cấu trúc bị phá hủy, không có khả năng giữ nước. Trên thế giới, từ những năm
1980 đã đưa ra thị trường nhiều chất hoá học giữ ẩm cho đất. Các chất giữ ẩm hóa học
này đã được dùng để cải tạo vùng sa mạc ở Mỹ, còn ở Đức người ta trộn chất giữ ẩm
này vào phân để bón cho những cánh đồng trồng cây củ cải đường, nơi độ ẩm của đất
chỉ nhờ vào lượng tuyết tan [8]. 0 Việt Nam, phòng vật liệu Polime - Viện Công nghệ
Hóa học đã sản xuất thành công chất giữ ẩm từ tinh bột sắn AMS -1 [7], có khả năng
giữ ẩm cho đất tốt. Tuy nhiên, nếu sử dụng lâu dài và với liều lượng cao sẽ làm cho đất
bị thoái hoá, chai cứng và mất cân bằng sinh thái [8]. Để khắc phục những hạn chế trên
của chế phẩm hoá học, phòng “Các chất có Hoạt tính Sinh học từ vi sinh vật”(HCSH)
thuộc Viện Công nghệ Sinh học đã nghiên cứu, sản xuất ra chế phẩm sinh học
Lipomycin M dưới dạng phân bón từ vi sinh vật sinh màng nhầy polysacarit có khả
năng giữ ẩm cho đất. Qua quá trình nghiên cứu khảo nghiệm chế phẩm trên thực tế cho
thấy chế phẩm Lipomycin M có khả năng cải tạo một số tính chất lý, hoá học và sinh
học của đất, đặc biệt chế phẩm có khả năng giữ nước cho đất [15]. Bón chế phẩm
Lipomycin M làm tăng độ ẩm của đất lên 10 - 16%, khả năng giữ nước của đất tăng, cải
thiện một số tính chất hoá học và sinh học của đất [9]. Tuy nhiên, lượng nước mà chế
phẩm giữ lại trong đất có thể ở nhiều dạng khác nhau, việc xác định khả năng giữ nước
dễ tiêu cho thực vật của chế phẩm vi sinh là việc làm hết sức cần thiết, mang ý nghĩa
khoa học và thực tiễn cao. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh
hưởng của ch ế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M đến lượng nước dễ tiêu trong đất.
Mục đích của đề tài là:
Nghiên cứu, đánh giá khả năng giữ nước dễ tiêu của chế phẩm vi sinh giữ ẩm
Lipomycin M trong đất.
Để đạt được mục đích trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Đánh giá khả năng giữ nưóc dễ tiêu của chế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M
thông qua lượng nước chiết ra ở các áp suất khác nhau (pF khác nhau).
- Nghiên cứu khả năng cung cấp nước dễ tiêu của chế phẩm vi sinh giữ ẩm
Lipomycin M thông qua sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
tố nối liền cây với mồi trường bên ngoài, có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ của
cây [17].
1.1.2 Các dạng nước trong đất
Nước có nhiều dạng, được chia thành nước trên mặt; nước trong đất; nước
thượng tầng (trong những chiếc “võng” nằm cách mặt đất chừng 3-4 cm); nước 11 cám;
nước kastơ (theo hình thái kastơ như phễu, giếng, khe nứt, kênh, rãnh, mương, hanu
ngầm); nước phóng xạ (chứa các nguyên tố phóng xạ); nước khoáng v ề phươns diện
thổ nhưỡng học, có các dạng nước sau [11]:
* Nước liên kết hóa học (nước cấu tạo):
Dạng nước này chứa trong các phân tử chất bằng nhóm hydroxyl (OH ).
Ví dụ: Fe20 3 + 3H 20 * 2Fe(OH)3
Tỉ số giữa nước liên kết hóa học với phần khoáng của đất là cố định. Nước này
chỉ tách ra ở nhiệt độ cao 400°c - 800°c. Khoáng sẽ bị phá hủy khi nước bị tách ra,
phần lớn nước này chứa trong khoáng sét. Theo % hàm lượng nước liên kết hóa học có
thể kết luận về mức độ sét của đất.
* Nước kết tinh:
Nước này chứa bằng toàn bộ phân tử nước của chất. Ví dụ: CaS04.2H20 hoặc
Na2SO4.10H2O Tách loại nước này ra khỏi đất bằng cách nung ở nhiệt độ từ 100°c -
200°c, nhưng không phải cùng một lúc mà có thể tách ra hết được mà phải từng bước.
Ví dụ khi đun thạch cao, một phân tử nước bay hơi khi ở 107°c, phàn tử thứ 2 ở 170°c.
Lúc này chất không bị phá hủy nhưng tính chất lý học của chúng bị thay đổi. Cả hai
loại nước đã trình bày ở trên cây không sử dụng được.
* Nước hấp phụ:
Nước hấp phụ được chia ra làm nước hấp phụ chặt và nước hấp phụ hờ tùy thuộc
vào lực hấp phụ trên bề mặt những phần tử đất.
- Nước hấp phụ chặt: Nước hấp phụ chặt bao gồm nước hút ẩm không khí và
nước hút ẩm không khí cực đại.
+ Nước hút ẩm không khí (Hydrocospic - Why):
Dạng nước này được hấp phụ từ khí quyển nhờ năng lượng bề mặt của đất trong
điều kiện độ ẩm tương đối không khí nhỏ hơn 100% hoặc còn giữ lại được trong đất
Nước mao quản được chia thành mao quản đế (mao quản leo) và mao quản treo.
Mao quản đế xuất hiện ở khu vực tiếp giáp với nước ngầm. Nước mao quản treo xuất
hiện do lực mặt cong, tác động cân bằng từ các phía. Điển hình của nước mao quản
treo xuất hiện khi tưới hoặc sau khi mưa, trong trường hợp mạch nước ngầm ở sâu.
Katrinski còn chia thêm nước mao quản tựa. Dạng nước này được hình thành
khi thâm nhập vào đất gặp thành phần cơ giới thay đổi đột ngột. V í dụ lớp đất thịt có
thành phần cơ giới nặng phân bố trên một lớp đất cát có thành phần cơ giới nhẹ.
* Nước trọng lực (nước tự do hay nước thừa):
Dạng nước này chuyển động trong đất dưới ảnh hưởng của trọng lực, chúng
được chứa và phân bổ trong các khoảng hổng lớn phi mao quản. Chảy xuống dưới,
nước trọng lực làm bão hòa những tầng dưới và là nguồn cung cấp cho nước ngầm.
* Nước cứng (nước đóng băng):
Nước đóng băng rất cứng, phải dùng xà beng thép, thuốc nổ hoặc dùng củi đốt
cho đất tan băng rồi mới đào được, ở những vùng băng giá, nước cứng chiếm vai trò
quan trọng trong quá trình hình thành đất. Nước có thể bị đóng băng theo mùa. Nếu
đóng băng quanh năm, từ đời này sang đời khác gọi là đóng băng vĩnh cửu.
Quá trình đóng băng của nước trong đất tuần tự từ dạng tự do sang dạng liên
kết. Nước tự do ở đất không mặn đóng băng ở nhiệt độ âm, gần bằng ooc.
* Hơi nước:
4
ơ trạng thái độ ẩm đất có trị số lớn hơn nước hút ẩm không khí cực đại, nghĩa là
ở trạng thái độ ẩm tương đối không khí gần bằng 100% thì hơi nước xuất hiện và
chuyển động ở trong đất theo quy luật từ nơi có nhiệt độ cao đến nơi có nhiệt độ thấp
hơn. Dựa theo quy luật này cho phép chúng ta phán đoán được mức độ và hướng của
những quá trình ngưng tụ xảy ra ở trong đất. Những hiểu biết này rất bổ ích khi nghiên
cứu chế độ nhiệt và chế độ nước ở trong đất nhằm đảm bảo việc cung cấp nước cho đất
và cho cây trồng, đặc biệt là về mùa khô.
* Nước bên trong tế bào:
Nước bên trong tế bào có ý nghĩa là nước chứa bên trong những tàn tích thực vật
đã chết và chưa bị phân hủy ở trong đất. Lượng nước này phần lớn chứa trong đất đầm
nó chỉ là một biến số.
- Độ trữ ẩm cực đạ i: còn gọi là “Độ trữ ẩm bé nhất” (Rôđe, 1952, 1963, 1969),
“Độ trữ ẩm đồng ruộng” (Bleney, Taylor, 1932), “Độ trữ ẩm chung” (Katrinski, 1970),
“Độ trữ ẩm giới hạn đồng ruộng” (Ulaxêvic). Tuy bằng nhiều tên gọi khác nhau nhưng
bản chất của chúng chỉ là một. Đó là lượng nước lớn nhất m à đất giữ lại được (trong
trường hợp đất được bão hòa nước) sau khi nước trọng lực đã rút chảy, không có hiện
tượng bốc hơi và không có hiện tượng dâng mao quản từ dưới mạch nước ngầm lên.
- Độ trữ ẩm toàn ph ầ n : là lượng nước lớn nhất mà đất giữ được khi tất cả các lỗ
hổng trong đất đều bão hòa nước. Lúc này trong đất chứa tất cả các dạng nước: nước
tinh thể, nước hấp phụ, nước liên kết chặt, nước liên kết hờ, nước m ao quản, nước trọng
1.1.5 Nước hữu hiệu trong đất
Nước trong đất trên giới hạn độ ẩm cây héo sẽ đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi
của cây trồng, tuy nhiên đồng thời hàm lượng không khí ở trong đất tối thiểu phải đạt
10% so với thể tích đất. Hàm lượng nước trong đất từ độ ẩm cây héo đến độ trữ ẩm cực
đại đồng ruộng gọi là phạm vi hữu hiệu. Theo Rôde A.A. phạm trù hữu hiệu của nước
trong đất được chia thành các dạng sau đây [11]:
- Không tiêu (thực vật không sử dụng
được
- Độ trữ ẩm từ không đến sức chứa ẩm
phân tử cực đại
- Rất khó sử dụng
- Từ sức chứa ẩm phân tử cực đại đến độ
ẩm cây héo
- Khó sử dụng
- Từ độ ẩm cây héo đến độ ẩm đứt mao
mạch dẫn
- Sử dựng trung bình
- Từ độ ẩm đứt mao mạch dẫn đến sức
chứa ẩm cực đại
- Dễ sử dụng chuyển sang trang thái thừa
có hiệu quả và thân thiện với môi trường hơn cả.
Vi sinh vật tham gia vào hầu hết các quá trình và có tác dụng không nhỏ tới chất
lượng đất. Vi sinh vật đất là một công cụ rất đắc lực trong công tác cải tạo đất, vừa đảm
bảo được mục đích chính là cải tạo đất, vừa đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Một trong những vai trò quan trọng của vi sinh vật đất là việc gắn kết các hạt
đất với nhau, tạo nên cấu trúc đất. Hoạt động của vi sinh vật, nhất là nhóm háo khí đã
hình thành nên một thành phần của mùn là axit humic. Các muối của axit humic tác
7
dụng với ion canxi tạo thành một chất dẻo gán kết nhưng hạt đất với nhau. Ngoài ra lớp
dịch nhầy bao quanh các vi khuẩn có vỏ nhầy cũng có khả năng kết dính các hạt đất.
Thêm vào đó, sự hình thành và phân giải mùn đều do vi sinh vật đóng vai trò
quan trọng. Do vậy, để cải thiện chất lượng đất, tăng hàm lượng mùn và các chất dinh
dưỡng khác trong đất cho cây trồng cần tăng tập đoàn vi sinh vật trong đất, tạo điều
kiện thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động mạnh [16].
1.2.4 Ảnh hưởng của c h ế phẩm vi sinh giữ ẩm đất Lipomycin M lên đất
Chế phẩm giữ ẩm đất Lipomycin M được cấu thành từ hai thành phần chủ yếu
đó là: Vi sinh vật - Nấm men Lipomyces và chất mang tinh bột sắn. Đối với chế phẩm
vi sinh giữ ẩm đất khi đưa vào đất cần đảm bảo các yêu cầu:
- Không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các nhóm sinh vật khác
- Bản thân nhóm vi sinh trong chế phẩm vi sinh giữ ẩm phải có khả năng tồn tại
và cạnh tranh sinh trưởng được với khu hệ vi sinh vật trong môi trường đất tự nhiên.
Theo các nghiên cứu của PGS.TS. Tống Kim Thuần và cộng sự thì các nhóm vi
sinh vật đất trước và sau khi bón Lipomycin M riêng lẻ và phối trộn với phân vi sinh
và phân NPK trên các thí nghiệm đồng ruộng cho thấy sau 15 ngày bón chế phẩm số
lượng nấm men Lipom yces ở tất cả các công thức thí nghiệm trên đều tăng 100 lần so
với đối chứng. Điều đó chứng tỏ nấm men Lipomyces trong chế phẩm có khả năng tồn
tại và phát triển tốt trong đất. Còn số lượng các nhóm vi sinh vật khác trong đất như vi
khuẩn, xạ khuẩn, nấm mốc, nấm men trong lô thí nghiệm đều được duy trì như ở lô đối
chứng hoặc có xu hướng tăng nhẹ. Kết quả đó đã khẳng định được chế phẩm
Lipomycin M không gây ảnh hưởng xấu tới khu hệ vi sinh vật đất mà còn kích thích sự
Chế phẩm giữ ẩm đất “Lipomycin M " Phòng HCSH từ vsv, Viện CNSH
Phân bón vi sinh (VS) đa chức năng Phòng vi sinh vật đất, Viện CNSH
Phân bón NPK, phân chuồng
Thương phẩm bán trên thị trường
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipom ycin M đến
lượng nước dễ tiêu trong đất đề tài sử dụng 2 phương pháp sau:
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của ch ế phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M đến lượng
nước d ễ tiêu trong đất thông qua phương pháp đo pF
Được thực hiện tại phòng thí nghiệm phân tích của trung tâm kỹ thuật tài
nguyên đất và môi trường thuộc khoa Đất và Môi trường, trường ĐH Nông nghiệp 1
Hà Nội.
- Nguyên lý: Cho các mẫu đối chứng và thí nghiệm bão hòa nước, rồi lần lượt
xác định áp suất thẩm thấu của các mẫu đất bằng máy đo áp suất nước trong đất dựa
trên nguyên lý nén khí ép nước ra khỏi đất với các mức áp suất khác nhau. Lấy khối
lượng đất trước khi đo trừ đi lượng đất sau khi đo ta tính ra lượng nước bị mất. Khoảng
X
-
-
áp suất nước của nước dễ tiêu (nước hữu hiệu) với cây trồng là từ pF 2,5 đến 4,2. Nhỏ
hơn 2,5 là nước trọng lực dễ mất khỏi đất, lớn hơn 4,2 là nước khó tiêu, cây trồng
không sử dụng được [22, 23]. Sử dụng máy đo áp suất: Hệ thống điều chỉnh áp suất
Dik-9220 (Automatic Pressure).
Nuoc <lẽ lieii Nnoc l:lio lien
b iê n (to K l iì 11.1112 Ịí1,1 U1IOC C1'.< Ơ.1 ( VJ (tiio11-/ cou^í 1>F IL«- liM-ii m oi 411.111
Le gIÍI',1 Idc lml ÌU IO q m u ra li.ìiii lnọug 111IOC. tto tiii .liu ítouv m o u ạ . <to liu
c;iv lieo
Bón cơ chất tinh bột sắn
30
TN
CT1: Chế phẩm Lipomycin M
(Nấm men Lipomyces + cơ chất tinh bột sắn )
Lipomycin M : 30
CT4: Chế phẩm Lipomycin M + Phân vi sinh đa
chức năng + Phân NPK
Lipomycin M : 30
Phân VS: 15
NPK: 30
- Lấy mẫu đất trên thí nghiệm đồng ruộng:
Mẫu đất được lấy theo tầng canh tác 0-20 cm bằng ống xác định dung trọng.
- Quy trình tiến hành:
Mẫu đất được đậy kín phần đáy bằng giấy thấm, vải xô rồi buộc chặt bằng dây
chun.
Bão hòa đĩa lọc bằng cách cho đĩa lọc vào buồng mẫu, đổ ngập nước 3cm trên
mặt đĩa.
Ngâm mẫu đất ngập nước trong buồng mẫu, chờ đến khi bão hòa.
Đặt mức áp suất lên buồng mẫu là 0,5 (0,31 kPa), đậy kín buồng mẫu, vặn chật
ốc để đảm bảo buồng kín. Chờ tới khi nước không thoát ra khỏi ống tiêu nước. Mở ốc,
lấy mẫu ra cân khối lượng.
Tiếp tục tăng áp suất lên các mức pF cao hon và lặp lại tương tự quá trình trên.
2.2.2 Nghiên cứu khả năng cung cấp nước d ễ tiêu của ch ế phẩm vi sinh giữ ẩm
Lipomycin M cho cây trồng thông qua sự sinh trưởng và phát triển của cây
- Nguyên lý: Trồng cây trong chậu vại với các mẫu đất không bón chế phẩm vi
sinh giữ ẩm và các chậu có bón chế phẩm với các liều lượng khác nhau, dựa vào các
kết quả theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây để đánh giá tác động của
chế phẩm lên cây, từ đó đánh giá khả năng cung cấp nước dễ tiêu của đất cho cây
trồng.
kg đất phù sa sông H ồng - Hà Nội với công thức bón như sau:
12
Bảng 4. Các công thức và liều lượng bón cho mỗi chậu thí nghiệm trén đát
phù sa sông H ồng - Hà N ội
Công thức
Liều lương (g/gốc
cây)
ĐC
Nền (Bón cơ chất tinh bột sắn và phân NPK)
(Không bón Lipomycin M)
Cơ chất: 20
Vôi bột: 0,02
Phân N: 0,04
Phân K: 0,04
Phân P: 0,2
Phân chuồng: 1000
TN
Nền + Lipomycin M
Lipomycin M: 20
Nền: ĐC
Mỗi công thức được lặp lại 3 lần với 3 chậu khác nhau.
- Quy trình tiến hành: Trộn đều phân chuồng và phân NPK với nhau (ngày
25/3), sau đó trộn chế phẩm lên lớp đất trên cùng sát bề mặt đất. Gieo hạt, mỗi ngày
cung cấp 60ml nước cho mỗi chậu. Cách 10 đến 20 ngày đo sinh trưởng của cây.
Ngừng tưới nước sau 15 ngày (ngày 10/4). Tiếp tục theo dõi sinh trưởng và phát triển
của cây đỗ thông qua việc đo thân và đếm số lá cây.
13
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chê phẩm vi sinh giữ ẩm đến lượng nước dễ tiêu
trong đất thông qua phương pháp đo pF
Áp kế được chế tạo tại Liên Xô (cũ) chia thành 10 vạch, từ 0 đến (-10) atm. ẩm
kế Tensinomet họat động trong phạm vi độ ẩm mao quản, ở phạm vi độ ẩm này thích
hợp với sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Khi áp kế có trị số (-3) atm chứng tó
trong đất còn đủ ẩm. Đất càng khô, kim trên áp kế càng lệch về phía áp lực ám, ớ trị sỏ
(-5) (-6) atm cho thấy mức độ báo động cây trồng thiếu nước nghiêm trọng và héo,
nếu không cung cấp nước kịp thời cây trồng sẽ chết hoặc năng suất thu hoạch sẽ giảm
sút do thiếu nước.
Có nơi lấy pF làm đơn vị (như kiểu Tensinom et sản xuất tại Nhật Bản); có nơi
lấy kP/cm2 (kiloPascal) làm đơn vị. Mặc dù sự biểu thị có khác nhau nhưng nguyên lý
và nguyên tắc cấu tạo đều như nhau; khi đất đang ở trạng thái bão hòa ẩm, kim áp kê ở
trị số 0, đất càng khô - kim trên áp kế càng di chuyển cho đến khi đạt trị số ổn định,
nghĩa là lúc giữa áp lực ẩm trong đất và áp lực trong ẩm kế đạt trạng thái cân bằng
[11].
3.1.1 Hàm lượng nước d ễ tiêu trên mẫu đất lô 3 thí nghiệm trổng cây thuốc nam
dưới tác động của ch ế phẩm vi sinh giữ ẩm Lỉpomycin M
Phân vô cơ ngoài tác dụng cung cấp thêm các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây
trồng, cũng có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật đất vì nó
có các nguyên tố N, p, K, Ca, vi lượng rất cần thiết cho vi sinh vật. Do vậy khi bố trí
thí nghiệm, chúng tôi có đưa ra các công thức bón chế phẩm vi sinh giữ ẩm kết hợp
bón cùng phân vi sinh và phân NPK để kiểm nghiệm ảnh hưởng của chế phẩm khi bón
riêng và khi bón kết hợp với phân vi sinh và phân NPK.
Do vậy, thí nghiệm ở lô 3 trồng cây thuốc nam được thiết kế với cách bố trí và
công thức như sau:
L3ĐC: Không có chế phẩm (cơ chất bột sắn - 10/gốc)
L3C1: Công thức 1: lOg chế phẩm/gốc
L3C2: Công thức 2: (lOg chế phẩm + 5g phân vi sinh)/gốc
L3C3: Công thức 3: (lOg phân NPK + lOg chế phẩm)/gốc
Kết quả nhận được thể hiện ở các bảng 5.
Bảng 5. K hối lượng nước mất đi dưới các áp suất khác nhau ở các mẫu đất lô 3 thí
nghiệm trồng cây thuốc nam (gam)
17,91
19,75
23,54
24,24
25,55 36,56 39,86
15
I
c
s
L3ĐC
L3C1
L3C2
L3C3
Biểu đồ 1. Khôi lượng nước mất đi ở các áp suất khác nhau ở mẫu đất lô 3 thí
nghiệm trồng cây thuốc nam
Qua các kết quả nhận được ở bảng 5 và biểu đồ 1 cho thấy, tổng lượng nước
được chiết ra đến mức áp suất (pF 4,2) của các mẫu đất đối chứng và công thức 1 là
tương đương nhau, tương ứng là 35,54g và 35,74g. Điều này có thể nói lên được rằng
nước mà chếphẩm giữ lại trong đất có sự liên kết với đất không khác so với nước liên
kết khi không có chế phẩm. Còn lượng nước ở các mẫu đất của công thức 2 và cône
thức 3 cao hơn (38,54g và 39,86g tương ứng), có nghĩa là bón chế phẩm vi sinh
Lipomycin M cho hiệu quả cao hơn khi có sự kết hợp với phân vi sinh đa chức năng và
phân khoáng tổng hợp NPK.
Bão hoà đất đến độ ẩm 100% sau đó dùng áp suất khác nhau để chiết rút nước
ra từ các mẫu đất đã bão hoà có thể cho ta thấy được tỷ lệ các dạng nước tồn tại trong
đất, bao gồm các dạng sau: nước trọng lực (đến áp suất pF - 2,5), nước hữu hiệu (áp
suất từ 2,5 đến 4,2) và nước khó tiêu (áp suất trên 4,2). Xem xét, so sánh tỷ Ịệ phần
trăm nước được giữ lại trong các mẫu đất thí nghiệm ở các dạng khác nhau cho thấy
vai trò của chế phẩm vi sinh Lipomyciìĩ M trong việc giữ nước cho đất và khả năng
cung cấp nước cho cây trồng (bảng 6).
(%)
0,5
2,5
18,44 24,80
17,59
23,50 18,97
24,00
19,75
24,60
2,5
4,2
17,10 23,10 18,15
24,40
19,57 24,80 20,11
25,10
4,2-
khô
kiệt
38,63
52,10
39,04 52,10 40,46
51,20 40,39
50,30
Tổng
74,17 100
74,78 100
79,00
100
80,25 100
100% -I
suất pF 2,5 ở các mẫu thí nghiệm đều thấp hơn mẫu đối chứng. Ớ mẫu chỉ bón chế
phẩm Lipomycìn M lượng nước được đẩy ra chiếm 23,5%; ở công thức L3C2 chiếm
24 0%' công thức L3C4 là 24,6% đều thấp hơn mẫu-ttói-ehứng - .24 ,8%. Đ ióii nay tiếp
I H O C Q U C C GIA HA NO ỉ Ị
I PUNG tam rHONQ Tịfvj T^I
r
\/.Ệr J ' ^
- DT/ 1 S ‘J
__
tục khăng đing răng, chê phẩm vi sinh Lipomycin M có tác dụng làm tãng khả năng giữ
nước trong đất lên, chính vì thế mà phần trăm nước trọng lực trong đất giảm xuống ờ
các công thức bón chế phẩm. Tuy nhiên, để xác định lượng nước mà chế phẩm
Lipomycin M giữ lại trong đất có dễ tiêu cho cây trồng hay không? Tỷ lệ nước dễ tiêu ớ
các công thức thí nghiệm là bao nhiêu? Chúng ta xét tỷ lệ phần trăm nước được đẩy ra
ở khoảng áp suất (pF từ 2,5 đến 4,2). Kết quả bảng 6 cho thấy, tỷ lệ phần trăm nước dễ
tiêu (lượng nước đẩy ra ở pF = 2,5 - 4,2) ở các mẫu thí nghiệm có bón chê phẩm đều
cao hơn mẫu đối chứng. Các mẫu bón chế phẩm có sự kết hợp với phân vi sinh đa chức
năng và phân NPK tổng hợp có tỷ lệ nước dễ tiêu cao hơn mẫu chỉ bón chế phẩm vi
sinh, đó là do cung cấp thêm năng lượng và thành phần vi sinh vật (VSV) thêm vào đất,
tăng hoạt tính tập đoàn v s v đất. Tỷ lệ nước dễ tiêu cụ thể ở các công thức thí nghiệm
lô 3 cây thuốc nam như sau: cao nhất ở L3C3 chiếm 25,1%; kế đến ở L3C2 - 24,8%;
tiếp đến ở L3C1 - 24,4% và nhỏ nhất ở công thức đối chứng chỉ chiếm 23,1% tổng
lượng nước có trong đất được bão hoà đến độ trữ ẩm 100%. Lượng nước khó tiêu ở
công thức đối chứng và L3C1 là ngang nhau. Điều này cho thấy, bón chế phẩm vi sinh
Lipomycin M không làm cho nước trong đất có liên kết chặt hơn. Bón chế phẩm vi sinh
Lipomycin M kết họp với phân vi sinh đa chức năng và phân NPK làm giảm tỷ lệ nước
khó tiêu trong đất, do tăng tỷ lệ nước dễ tiêu trong đất nhiều ở các công thức này.
Bảng 7. Ả nh hưởng của ch ế phẩm Lipomycin M đến lượng nước hữu hiệu
trong đất thí nghiệm lô 3 trồng cây thuốc nam
Mẫu đất
145
140
135
130
125
120
□ g/kg
L3DC L3C1
L3C2
L3C3
TN
Biểu đồ 3. Lượng nước hữu hiệu trong lk g đất của các mẫu đất th í nghiệm lô 3
trổng cây thuốc nam
Qua các kết quả nhận được từ bảng 7 cho thấy, ở các mẫu đất có bón chế phẩm
Lipomycin M, lượng nước hữu hiệu (nước dễ tiêu, chiết ra dưới áp suất pF 2,5 - 4,2)
đều lớn hơn mẫu đất đối chứng (không bón chế phẩm vi sinh). Lượng nước được chiết
ra cao nhất ở L3C3 - 20,1 lg; ở L3C2 - 19,57g; L3C1 - 18,15g so với L3ĐC chỉ có
17,lOg. Trong các công thức có bón chế phẩm vi sinh Lipomycin M, lượng nước hữu
hiệu trong lkg đất lớn nhất ở công thức L3C3 (bón chế phẩm kết hợp với NPK)
154,21 g nước/kg đất; ở công thức L3C2 (bón chế phẩm kết hợp với phân vi sinh đa
chức nãng) là 148,22g/kg đất và thấp nhất ở công thức C1 (chỉ bón chế phẩm) 136,89
g/kg đất. Đều này chứng tỏ rằng, chế phẩm vi sinh Lipomycin M có khả năng giữ được
nước cho đất dưới dạng dễ tiêu cho cây trồng và nếu kết hợp bón chúng với phân NPK
và phân vi sinh đa chức năng sẽ làm tăng đáng kể lượng nước dễ tiêu trong đất .
3.1.2 Ảnh hưởng của chê phẩm vi sinh giữ ẩm Lipomycin M đến hàm lượng nước
dễ tiêu trên mẫu đất lô 4 th í nghiệm trồng cây thuốc nam
Trên thí nghiệm lô 4 trồng cây thuốc nam được thiết kế với 3 công thức như sau:
L4ĐC: Không bón chế phẩm (cơ chất bột sắn -10 g/gốc)
L4C1: 30g chế phẩm /gốc
L4C4: (30g chế phẩm + 15g phân vi sinh + 30g phân NPK)/gốc
0,13
1,12
8,52
11,11
13,51
16,94
17,91
19,64
29,95
30,77
40
35
30
25
20
15
10
5
0
Biểu đồ 4. Khối lượng nước mất đi dưới các áp suất khác nhau ở các mẫu đất thí
nghiệm lô 4 trồng cây thuốc nam
Qua kết quả nhận được từ bảng 8 và biểu đồ 4 có thể thấy rằng, lượng nước
được đẩy ra từ các mẫu đất đến áp suất pF = 4,2 ở công thức đối chứng và công thức
L4C1 gần bằng nhau, tương ứng là 34,42g và 34,29g, và lượng nước được đẩy ra nhỏ
nhất ở công thức L4C4 - 30,77g. Tuy tổng lượng nước được đẩy ra ở các công thức thí
nghiệm nhỏ hơn đối chứng nhưng ở mức áp suất pF < 2,5 thì lượng nước chiết ra ở mẫu
đất của công thức L4C4 lại nhỏ nhất, chỉ có 13,51 g so với mẫu đối chứng và L4C1 là
17 84g. Có nghĩa bón chế phẩm kết hợp với bón vi sinh và NPK làm tăng vai trò giữ
nước của chế phẩm Lipom ycin M.
20
39,17
56,0
Tổng
73,06
100
73,08
ỉ 00 69,94
100
□
4.2-KK
□
2.5-4.2
□
0.5-2.5
Biểu đồ 5. Tỷ lệ phần trăm các dạng nước trong các mẫu đất của lô 4 thí nghiệm
trồng cây thuốc nam
Mặt khác, vai trò của chế phẩm được thể hiện rất rõ ở tỷ lệ phần trăm nước dễ
tiêu được giữ lại trong đất (bảng 9 và biểu đồ 5). Tỷ lệ nước dễ tiêu trong các công thức
thí nghiệm L4C1 và L4C4 lại cao hơn, đặc biệt ở công thức L4C4 (30g chế phẩm + 15g
phân vi sinh + 30g phân NPK) tỷ lệ nước dễ tiêu trong đất chiếm 24,7% và là kết quả
cao nhất. Lượng nước trong lực ở L4C4 nhỏ nhất (19,3%), trong khi đó ở công thức đối
chứng và L4C1 (chỉ bón chế phẩm) có lượng nước trọng lực bằng với đối chứng. Điều
này tiếp tục khẳng định ưu thế về khả năng giữ nước của chế phẩm Lipomycin M khi có
sự kết hợp với các loại phân bón khác (vi sinh và NPK).
Để thấy rõ hơn vai trò của chế phẩm trong việc giữ nước ở dạng dẻ tiêu cho cáy
trồng ở trong đất, chúng ta có thể tính toán để đưa ra lượng nước dễ tiêu trên một đơn
vị khối lượng đất. Kết quả tính toán được trình bày ở bảng 10.