MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU 2
SƠ ĐỒ 2
BẢNG 2
BIỂU 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU 2
SƠ ĐỒ 2
SƠ ĐỒ 2
BẢNG 2
BẢNG 2
BIỂU 3
BIỂU 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU 2
SƠ ĐỒ 2
SƠ ĐỒ 2
BẢNG 2
7. Kiểm toán viên KTV
8. Khách hàng KH
9. Kinh doanh KD
10. Tài sản cố định TSCĐ
11. Trách nhiệm hữu hạn TNHH
12. Sản xuất kinh doanh SXKD
13. Tài khoản TK
14. Kiểm soát nội bộ KSNB
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đặc biệt là kiểm toán độc lập đã
và đang trở thành nhu cầu thiết yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng
quản lý của các doanh nghiệp.
Từ những năm đầu của thập kỷ 90, với sự ra đời của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài
chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) và Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) đã đánh
dấu sự ra đời của các công ty kiểm toán ở Việt Nam, cùng với sự tham gia trong một số
lĩnh vực của các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới, hoạt động kiểm toán Việt Nam đã
được hình thành và không ngừng phát triển sau gần 20 năm thành lập. Kiểm toán đã trở
thành một nghề nghiệp, một lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ.
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ công cụ quản lý kinh tế, kiểm toán
ngày càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lý
chức năng của nhà nước, mà còn đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
Những thông tin do kiểm toán cung cấp sẽ là những căn cứ đáng tin cậy giúp cho Nhà
Nước nhìn nhận, đánh giá, xử lý đúng đắn các vấn đề kinh tế nảy sinh, đồng thời làm cơ
sở cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý khi đưa ra quyết định kinh doanh mới. Thông qua
việc thực hiện các chức năng, nghiệp vụ của mình, kiểm toán viên còn giúp cho các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế biết được và khắc phục những sai sót, vi phạm trong
quản lý và trong việc chấp hành chính sách, luật lệ kinh tế của Nhà Nước.
Khoản mục phải thu khách hàng là một khoản mục trọng yếu và chiếm tỷ trọng
lớn trên báo cáo tài chính, đồng thời cũng khá nhạy cảm với những gian lận và có liên
quan mật thiết đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhận thức được vai trò quan
OPOP @#Q!R)Q-0#)%*3+#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %08S%##:'%(,%+!U&
-Q%9Q0Q- !0#<%#
OPOPOP S%0#V-+#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %
Khoản mục phải thu khách hàng là một trong những khoản mục quan trọng trên
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ
phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng
về tiền bán sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này
cũng được dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người
giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành Nó thể hiện phần tài sản của
doanh nghiệp đang bị chiếm dụng trong quá trình thanh toán. Chính vì vậy, khoản mục
nợ phải thu có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài chính thanh toán cũng như khả năng
quay vòng vốn của doanh nghiệp.
Khoản mục nợ phải thu khách hàng được phản ánh thông qua tài khoản 131. Tài
khoản này có số dư bên nợ và bên có. Số dư bên nợ thể hiện số tiền còn phải thu của
khách hàng. Số dư bên có thể hiện số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn số phải
thu của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể.
Khoản mục phải thu khách hàng là một khoản mục rất quan trọng và có mối liên
hệ với nhiều khoản mục khác trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh. Trong quá trình giao dịch với khách hàng phát sinh rất nhiều nghiệp vụ liên
quan đến quan hệ thanh toán, trong đó có khoản mục nợ phải thu. Khi doanh nghiệp chấp
nhận bán vật tư hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ của mình theo phương thức trả trước hay
phương thức bán chịu thì xuất hiện nợ phải thu khách hàng. Do đó dễ thấy, nêu số tiền
của khoản nợ phải thu tăng lên thì tiền mặt thu được từ bán hàng sẽ giảm xuống và ngược
lại. Bên cạnh đó, nếu nợ phải thu tăng lên cùng với sự gia tăng của hàng hóa, dịch vụ tiêu
thụ hay trao đổi là sự giảm xuống của hàng tồn kho, nguyên vật liệu…ngoài ra khoản
mục nợ phải thu cũng có quan hệ gián tiếp với một số tài khoản như thuế thu nhập doanh
nghiệp khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khó đòi, do đó ảnh hưởng đến chi phí tài
chính hoặc thuế giá trị gia tăng đầu ra…
Không chỉ ảnh hưởng tới một số khoản mục trên Bảng cân đối kế toán như trên
mà khoản nợ phải thu còn có mối liên hệ với một số khoản mục khác trên bảng kết quả
bên có của tài khoản 131 đơn vị có thể kiểm soát được quá trình trả nợ của khách hàng,
đó là cơ sở cho việc thu hồi nợ và xét duyệt bán chịu sau này. Công việc này giúp doanh
nghiệp giảm thiểu được phần nào rủi ro khi chấp nhận bán chịu cho khách hàng.
- '6:67>9=9 từ việc ghi nhận
và theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp phải thường xuyên cập
nhật thông tin của khách hàng qua nhiều kênh khách nhau. Việc thường xuyên cập nhật
tình hình biến động về mặt kinh doanh của khách hàng giúp doanh nghiệp đánh giá được
khả năng trả nợ của khách hàng.
- )?@1.
ABA Việc theo dõi quá trình thanh toán và đánh giá xem xét khả
năng thanh toán của từng khách hàng giúp kế toán có cơ sở để ghi nhận các khoản dự
phòng phải thu khó đòi. Công việc này nhằm đảm bảo tính thận trọng trong quá trình ghi
nhận các khoản phải thu và mức độ thu hồi các khoản phải thu này. Giá trị thuần của
khoản phải thu khách hàng bằng giá trị còn lại của khoản phải thu trừ đi khoản dự phòng
phải thu khó đòi.
- )?C 29/DE19
4:1<B'4F=@&GBH/9các chính
sách cơ bản ở đây là thời gian thanh toán, lãi trả chậm…
OPOP]P @,-Q%+#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %
I5I5J5I5 #!KL
Các khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp phải được hạch toán chi tiết
theo đối từng đối tượng khách hàng. Khi hạch toán không được phép bù trừ các khoản
phải thu và phải trả của các khách hàng khác nhau nếu không có sự thỏa thuận giữa các
bên với doanh nghiệp.
Hàng kỳ, kế toán phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu công nợ đối với từng khoản
phải thu, số đã thu, số còn phải thu để tránh nhầm lẫn cũng như kịp thời phát hiện các sai
sót để sửa chữa, đặc biệt là đối với các khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyeenm
số dư khoản phải thu lớn.
Với những khoản phải thu khách hàng có gộc ngoại tệ, kế toán phải theo dõi đồng
thời cả số dư ngoại tệ và việt nam đồng theo tỷ giá thích hợp. Cuối mỗi kỳ kế toán, doanh
- Số tiền phải thu của khách hàng về sản
phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư, TSCĐ đã
giao, dịch vụ đã cung cấp và được xác định
là đó bỏn trong kỳ;
- Số tiền thừa trả lại cho khách hàng.
- Số tiền khách hàng đã trả nợ;
- Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của
khách hàng;
- Khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng
sau khi đã giao hàng và khách hàng có
khiếu nại;
- Doanh thu của số hàng đó bỏn bị người
mua trả lại (Có thuế GTGT hoặc không có
thuế GTGT);
- Số tiền chiết khấu thanh toán và chiết
khấu thương mại cho người mua.
%BQS Số tiền còn phải thu của
khách hàng.
!"#$%&
'()#*!+,"-./(01
23$!4 5(-"&!36-./(0!+,
(,789:8;:9
)(IJT
!+#S%O]_\`"#Y%"#S!-#)+#8(Y!
2%^ 2%8
- Hoàn nhập dự phòng phải thu khú đũi;
- Xoá các khoản nợ phải thu khú đũi.
Số dự phòng phải thu khó đòi được lập tính
vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
%QS Số dự phòng các khoản
I5I5U5I5 )'R'(H
Kiểm toán nợ phải thu khách hàng nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng thích
hợp từ đó đưa ra mức độ tin cậy của các thông tin tài chính, đồng thời cung cấp thông tin,
tài liệu có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các tài khoản khác. Khoản muc
nợ phải thu khách hàng là tài sản của doanh nghiệp, do đó, thực hiện kiểm toán khoản
mục này sẽ giúp kiểm tra tính trung thực của các loại tài sản trong doanh nghiệp cũng
như khả năng hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp qua các tỷ suất phản ánh khả
năng thanh toán.
Khoản mục nợ phải thu khách hàng liên quan đến khoản mục doanh thu, do vậy
kiểm toán nợ phải thu khách hàng góp phần kiểm tra tính trung thực của các khoản doanh
thu và doanh thu bán chịu trong kỳ.
Kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng bao gồm cả đánh giá việc lập dự
phòng phải thu khó đòi và các chi phí phát sinh liên quan. Do vậy, qua kiểm toán nợ phải
thu khách hàng KTV sẽ thu thập được các bằng chứng về việc ghi tăng (hoặc giảm) chi
phí trong kỳ do phát sinh các khoản phải thu khó đòi hoặc không thể thu hồi được, từ đó
kiểm tra thêm về tính chính xác của lợi nhuận trong kỳ.
Nợ phải thu khách hàng phản ánh một giai đoạn trong chu trình bán hàng thu tiền
của doanh nghiệp, chu trình này khá phức tạp và thường xảy ra những sai phạm hoặc cố
tình hoặc vô ý. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp lớn tình hình bán hàng thu tiền phức
tạp, và có nhiều khoản phải thu khó đòi kéo dài trong nhiều năm, khả năng xảy ra việc
nhân viên đã thu tiền nhưng cố ý xóa sổ khoản nợ này để mang lại lợi ích cho cá nhân là
khá cao, Do đó, kiểm toán khoản mục này có thể phát hiện ra các sai phạm liên quan đến
HTKSNB và làm giảm rủi ro kiểm toán.
Như vậy, đối với vấn đề kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng được coi là
một trong những khoản mục trọng yếu vì nó liên quan rất lớn đến nhiều khoản mục khác
như đã trình bày ở trên. Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, KTV cần đặt
khoản mục này trong quan hệ với các khoản mục trọng yếu khác để kiểm tra được cả sự
hợp lý và tính chính xác của số liệu giữa các tài khoản.
I5I5U5M5 VC@Q@9WQ'R?
X
Hệ thống kế toán chứng từ đến sổ sách kế toán và bảng tổng hợp cần có tác dụng
kiểm soát tối đa các nghiệp vụ. Với khung pháp lý là như nhau và được quy định trước,
mỗi đơn vị lại có thể lựa chọn các hình thức kế toán, các phương thức kế toán khác nhau
dẫn tới trình tự kế toán cụ thể cũng khác nhau. Mỗi đơn vụ cần định sẵn trình tự cụ thể
tương ứng với hệ thống sổ sách tạo thành yếu tố kiểm soát có hiệu lực.
Ví dụ: Có công ty quy định khi nhận được đơn đặt hàng của người mua, công ty
lập hóa đơn bán hàng đánh số trước và lập biểu nhiều liên: Liên đầu giao cho người mua,
các liên sau dùng để ghi sổ theo dõi bán hàng và thu tiền, cũng có thể dùng để duyệt bán
chịu, cho phép vận chuyển…
?("@<"@/
Sử dụng chứng từ có đánh số thứ tự trước theo thứ tự liên tục có tác dụng vừa đề
phòng bỏ sót, dấu diếm, vừa tránh trùng lặp các khoản phải thu, các khoản ghi sổ bán
hàng. Tuy nhiên việc đánh số thứ tự trước phải có mục đích rõ rang kèm theo việc tổ
chức hợp lý theo hướng tích cực để đạt được mục đích đó.
Ví dụ: Khi bán hàng và vận chuyển diễn ra với tần suất lớn cần kiểm soát qua số
thứ tự liên tục của vận đơn tránh bỏ sót các nghiệp vụ thu tiền cần phân công nhân viên
làm hóa đơn lưu trữ với tất cả chứng từ vận chuyển đã đánh số liên tục sau mỗi lần vận
chuyển đã thu tiền và cùng một người khác định kỳ soát lại tất cả các số thứ tự và tìm
nguyên nhân của bất kỳ sự bỏ sót nào.
A$!5(,"#:BCD,
Tùy theo quy mô nghiệp vụ bán hàng và quy định của mỗi doanh nghiệp thì hàng
tháng, quý kế toán lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng nhằm đối chiếu những khoản
phải thu đã ghi nhận với số tiền đã thanh toán. Do các cân đối này thể hiện mối liên hệ
trực tiếp giữa doanh nghiệp với người mua nên được gửi đến cho người mua để xác nhận
quan hệ mua – bán đã phát sinh. Việc lập bảng cân đối cần được đảm bảo tính khách
quan do đó nên giao cho người không có liên quan đến thu tiền hàng, ghi sổ bán hàng và
thu tiền lập ra. Người lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gửi cho người mua có thể
là kế toán thanh toán dưới sự phê duyệt, kiểm tra của kế toán trưởng và Phó giám đốc…
cũng có thể là kế toán tổng hợp người chịu trách nhiệm thực hiện công việc này.
EF!:1"G
-L"$M4 (03$!*NOD<:-(=-"
'(06!$&5+!"!3$3P,:!"<&0!3K
",QR-,S98I1D"4 TJ!(*:G
(0D"6UV;Q&,(W!1MD5,630
+,(*:G9
Do tính chất và vai trò vô cùng quan trọng của mình, phải thu khách hàng luôn là
khoản mục được nhiều đối tượng quan tâm và kiểm toán khoản mục này là một phần rất
quan trọng trong kiểm toán BCTC. Với KTV tại AASC, việc xác minh không chỉ dừng
lại ở các mục tiêu chung mà còn phải cụ thể vào các mục tiêu đặc thù.
S%OPO=S%&T0-!2)+!U&-Q%+#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %
T0-!2) @#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %
Tính hợp lý chung Số dư các khoản phải thu khách hàng đều đảm bảo hợp lý chung
Tính đầy đủ Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản công nợ phải
thu khách hàng đều được phản ánh trên sổ sách kế toán một cách
đầy đủ và đỳng niờn độ
Tính hiệu lực Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu đảm
bảo tuân thủ nguyên tắc ghi nhận
Tính chính xác Các khoản phải thu phải được phản ánh vào sổ sách kế toán đúng
với giá trị thật của nó và phù hợp với các chứng từ gốc.
Số liệu trờn cỏc tài khoản phải thu phải được tính toán đúng đắn
và có sự phù hợp giữa sổ cái, sổ chi tiết và báo cáo tài chính
Tính đúng giá Việc đánh giá các khoản phải thu trên báo cáo tài chính là gần
đúng với giá trị có thể thu hồi được: tức là các khoản phải thu
phải được công bố theo giá trị có thể thu hồi được thông qua sự
phân tích về dự phòng nợ khó đòi và chi phí nợ khó đòi.
Đối với các khoản tiền là ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng tiền
hạch toán theo tỷ giá quy định
Tính phân loại và
trình bày
Các nghiệp vụ phát sinh phải được hạch toán đúng đối tượng,
+!U&-Q%
- THỰC HIỆN CÁC THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT
- THỰC HIỆN THỬ NGHIỆM CƠ BẢN (THỦ TỤC
PHÂN TÍCH, THỦ TỤC KIỂM TRA CHI TIẾT CÁC
NGHIỆP VỤ VÀ CÁC SỐ DƯ)
!5!(a%
-#`0#!e%
+!U&-Q%
!5!(a%
+,--#i0
+!U&-Q%
jBAA@A
jB>fkMDN
- XEM XÉT CÁC SỰ KIỆN PS SAU NGÀY LẬP BCTC
- TỔNG HỢP VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC BẰNG CHỨNG KT
Q((D=D"(0-D="P”, và “2-
,D"!(03$!DR=D"”.
Các công ty kiểm toán cần ý thức được tầm quan trọng của giai đoạn chuẩn bị
kiểm toán, xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với đơn vị mình và phù hợp với từng
nhóm khách hàng cụ thể. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán khoản phải thu khách hàng bao
gồm hai bước chính là lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình kiểm
toán gồm các bước việc như sau:
I5J5I5I5 Y0O2
Trong giai đoạn này, KTV và công ty kiểm toán phải thực hiện các bước công việc
chủ yếu sau:
;(7OP]=Q09:l00d%*!e00#<%#-X%!5!(a%0#)h%9Z+!U&-Q%
XRIZ&
Khi KTV và Công ty kiểm toán gửi thư chào hàng, thu nhận một khách hàng, quy
trình kiểm toán sẽ bắt đầu. Trên cơ sở xác định đối tượng khách hàng cần phục vụ, KTV
lượng bằng chứng cần phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến của KTV đưa ra
trong BCKT. Dựa trên tình hình hoạt động SXKD, khả năng của Công ty thông qua
phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng, hoặc dựa vào kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán
trước đó (đối với khách hàng cũ) để đưa ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng
kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp. Đồng thời, KTV phải thu thập
thêm thông tin trong suốt quá trình kiểm toán để hiểu thêm về lý do kiểm toán của khách
hàng. Thông qua bước công việc này, Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp
của cuộc kiểm toán, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chon đội ngũ nhân viên để
thực hiên cho cuộc kiểm toán ở các giai đoạn tiếp theo.
A<,R(=Z5:D"
Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho mỗi cuộc kiểm toán nói chung và
khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro như khoản mục phải thu khách hàng nói riêng có vai
trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: “ ["\D"!(0<
ND='#C()(0(Q(H(+QD=2?”. Do đó,
trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên, Công ty kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn
đề chính:
- Lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng,
- Tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm,
- Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát các nhân viên chưa có
kinh nghiệm trong nghề.
Mặt khác, trong nhiểu trường hợp, cần có chính sách luân chuyển KTV giữa các
khách hàng để tránh việc kiểm tra theo lối mòn hoặc theo ảnh hưởng tới tính khách quan,
độc lập. Đối với những khoản mục quan trọng như TK 131, sẽ do những KTV dày dặn
kinh nghiệm, thường xuyên đảm nhận khoản mục này thực hiện.
],$*=:%":K0!(;D"
Sau khi khách hàng và Công ty kiểm toán đã thống nhất lựa chọn, trao đổi và thoả
thuận sơ bộ về một số vấn đề như mục đích và phạm vi kiểm toán, việc cung cấp các tài
liệu cần thiết…. Trên cơ sở đó, hai bên sẽ xúc tiến việc ký hợp đồng kiểm toán. Đây là
- KTV cần nhận diện các bên liên quan với doanh nghiệp. Đây là bước thu thập
thông tin quan trọng, đó là thu thập các mối quan hệ giữa BGĐ, kế toán trưởng với khách
hàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, các đơn vị tín dụng,…Thông qua phỏng vấn và đánh
giá mối quan hệ có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra
đối với các số liệu kế toán khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp.
- Cuối cùng, KTV cần thu thập các tài liệu, số liệu kế toán do kế toán trưởng
khách hàng cung cấp về phải thu khách hàng như: BCĐKT, BCĐSPS, nhật ký bán hàng,
nhật ký thu tiền, sổ cái TK 131,…để tiến hành phân tích sơ bộ.
XRJ"0 'H[9'?\=9
Bên cạnh việc thu thập các thông tin cơ sở, KTV cần thu thập các thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng để nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh
hưởng tới hoạt động kinh doanh. Theo Hệ thống CMKTVN, chuẩn mực số 250 (VAS
250): “23$!-QD"&D":: D"H!JK
(-:5+!"!3$:"P(G3P,_(-,&
NR-(-4 :(3$!-QD"&2?: D"
!<->:#!"!3$:"P(G3P,(-Q(=:
#,+,(*:G(0D"`”. Các thông tin liên quan đến nghĩa
vụ pháp lý mà KTV cần thu thập bao gồm:
- Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đề
mang tính chất nội bộ của đơn vị (cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,…)
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và BGĐ: đây là tài liệu quan
trọng về xét duyệt mua bán, phê chuẩn giải thể,…
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng, hợp đồng mua bán hàng hóa,…
- Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra của năm hiện hành hay vài năm trước.
XRU".4=F
Theo CMKTVN số 520: “ +1!53P"\("""
(0<P,:@"DP,("$V,
"V3:V3!,D:"3>
:%"3%+,2?”. Thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi cuộc kiểm
toán và trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Qua đó, KTV có thể xác định được
Hệ số vòng quay khoản phải thu khách hàng thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu
thuần với các khoản phải thu khách hàng. Nó phản ánh tốc độ biến khoản phải thu khách
hàng thành tiền mặt. Vòng quay các khoản phải thu KH càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi
các khoản phải thu càng nhanh. Tuy nhiên, nếu vòng thu quá cao thì cũng đồng nghĩa với
kỳ thanh toán ngắn hạn và có thể ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ sản phẩm
Việc áp dụng thủ tục phân tích không chỉ giúp KTV nhận ra tình hình biến động
cũng như tính chất trọng yếu của khoản mục mà còn ước tính được khối lượng công việc
cần thực hiện sau đó.
XR_/D!'/=/
X""R-a
Là bước cơ bản và quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: “Trọng yếu
là khái niệm về tầm cỡ (hay độ lớn) và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của các
thông tin tài chính hoặc là đơn l•, hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa
vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận
sai lầm”.
Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuât kinh doanh của khách hàng, KTV sẽ lựa
chọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản) để ước lượng mức độ trọng yếu
ban đầu cho toàn bộ BCTC, hay chính là mức độ sai sót có thể chấp nhận được đối với
BCTC. Từ đó, đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC và xác định quy mô và bản
chất của cuộc kiểm toán. Sau khi ước lượng được mức trọng yếu, KTV sẽ tiến hành phân
bổ mức trọng yếu cho các khoản mục. Mức trọng yếu đối với khoản mục phải thu khách
hàng chính là sai số có thể chấp nhận được đối với khoản mục này. Việc phân bổ này là
hoàn toàn cần thiết vì đây là cơ sở để KTV quyết định quy mô bằng chứng cần thu thập.
Cơ sở này sẽ cho KTV những bằng chứng thích hợp ở mức chi phí thấp nhất để KTV đưa
ra kết luận đối với khoản mục phải thu khách hàng.
Cơ sở để KTV phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách hàng là bản
chất khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của KTV và
chi phí kiểm toán đối với khoản mục.
S%OPW=Q%#!Q&m0-Xn%1,)045+#S%&T0"#S!-#)+#Q0## %