Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Chuyên đề 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý
Có nhiều cách giải thích khác nhau cho thuật ngữ "hành chính" và "luật hành chính".
Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất ở một điểm chung: Luật Hành chính là ngành luật về quản
lý nhà nước. Do vậy, thuật ngữ "hành chính" luôn luôn đi kèm và được giải thích thông qua
khái niệm "quản lý" và "quản lý nhà nước".
1.1. Quản lý
1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những
quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo
đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước. Là một yếu tố
thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát
triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp. Từ đó, quản lý thể hiện
các đặc điểm
1.1.2. Ðặc điểm của quản lý
- Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản
lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý. "Ðúng ý chí của người quản lý" cũng đồng nghĩa
với việc trả lời câu hỏi tai sao phải quản lý và quản lý để làm gì.
- Quản lý là sự đòi hỏi tất yếu khiùù có hoạt động chung của con người. C.Mác coi
quản lý xã hội là chức năng đặc biệt sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động.
- Quản lý trong thời kỳ nào, xã hội nào thì phản ánh bản chất của thời kỳ đó, xã hội
đó. Ví dụ: ở thời kỳ công xã nguyên thủy thì hoạt động quản lý còn mang tính chất thuần
túy, đơn giản vì lúc này con người lao động chung, hưởng thụ chung, hoạt động lao động
chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm, người quản lý bấy giờ là các trưởng làng, tù trưởng.
Thời kỳ này chưa có nhà nước nên hoạt động quản lý dựa vào các phong tục, tập quán chứ
chưa có pháp luật để điều chỉnh.
1
chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền
2
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý,
điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước
(nói tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực
hiện bởi ít nhất một bên có thẩm quyền hành chính nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều
hành.
Quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ
quan hành chính nhà nước: Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các cấp,
không kể một số tổ chức thuộc nhà nước mà không nằm trong cơ cấu quyền lực như các
doanh nghiệp.
3.2. Ðặc điểm của quản lý hành chính nhà nước
3.2.1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang
tính điều hành.
- Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền lập
pháp và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào qui trình lập pháp và tư pháp. Tính chấp
hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế
các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp- cơ quan dân cử.
- Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chổ là để đảm
bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ
thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực
tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.
- Ðể đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu. Trong đó,
quản lý hành chính nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn bản của cơ quan
dân cử đaị diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà thực hiện quản lý điều
hành. Mọi hoạt động chấp hành và điều hành đều phải xuất phát từ mục đích nhằm phục vụ
cho nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội cho nhân dân về mọi mặt, tương ứng với các lĩnh
vực trong quản lý hành chính nhà nước.
3.2.2. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động và
pháp lý cho hoạt động đặt dưới sự quản lý ấy.
3.3.5. Quản lý hành chính nhà nước XHCN không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã
hội giữa chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý). Cán bộ quản lý
nhà nước phải là "công bộc" của nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân,
4
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội.
Chống quan liêu, cửa quyền, hách dịch, ức hiếp quần chúng.
3.3.6. Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao. Ðó chính là nghiệp vụ của một nền
hành chính văn minh, hiện đại. Khi nói đến một "nền kinh tế tri thức"- nền kinh tế mà ở đó
giá trị của tri thức, của sự hiểu biết được đặt lên hàng đầu-thì đội ngũ quản lý nền kinh tế tri
thức ấy phải có một tầm vóc tương xứng. Quản lý nhà nước khác với hoạt động chính trị ở
chổ: trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng đầu.
3.3.7. Tính không vụ lợi: Quản lý hành chính nhà nước lấy việc phục vụ lợi ích công
làm động cơ và mục đích của hoạt động. Quản lý hành chính nhà nước không phải vì lợi ích
thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi nhuận. Cán bộ hành chính vì vậy
phải bảo đảm "cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư".
II. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC
Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động có mục đích. Những mục đích, mục
tiêu cơ bản định ra trước cho hoạt động quản lý và kết quả của việc đạt được mục đích, mục
tiêu đó phản ánh hiệu quả của việc quản lý. Hiệu quả của quản lý vì vậy phải được tiến hành
trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Ðặc biệt, khi Luật hành chính thực định vẫn còn
chưa được tập trung- chỉ là tập hợp các văn bản về quản lý nhà nước, tồn tại dưới nhiều hình
thức văn bản pháp lý không cao, thì nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là một đòi hỏi
bức thiết và sự tuân thủ hệ thống các nguyên tắc càng đòi hỏi chặt chẽ.
1. Khái niệm
1.1. Thế nào là nguyên tắc?
Nguyên tắc trước hết được hiểu là "Ðiều cơ bản định ra, nhất thiết phái tuân theo trong
một loạt việc làm". Trong quản lý hành chính nhà nước, các nguyên tắc cơ bản là những tư
cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ
tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác. Vì thế nên các nguyên tắc quản
lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và đây là một thuộc tính
vốn có của chúng.
6
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước
Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước có nội dung đa dạng, có tính thống
nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì thế cần phải xác định được chúng gồm những nguyên
tắc cơ bản nào, cần phải phân loại chúng một cách khoa học để xác định được vị trí, vai trò
của từng nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước, từ đó xây dựng và áp dụng hệ thống
các nguyên tắc một cách có hiệu quả vào thực tiễn quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ
chức, nó bao gồm hai mặt: tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật. Dựa trên những cơ sở khoa
học về quản lý nhà nước ta chia các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thành
hai nhóm là nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ
thuật. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố tổ chức kỹ
thuật và chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ nhau. Việc thực
hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng đắn các nguyên tắc
chính trị-xã hội và việc thực các nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các
nguyên tắc tổ chức kỹ thuật.
Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm:
Nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội
- Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước;
- Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước;
- Nguyên tắc tập trung dân chủ;
- Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
Nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật
dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mà trọng tâm là cải cách
một bước nền hành chính quốc gia là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý hành chính nhà
nước.
- Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức
cán bộ.
Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng
lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc
8
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà
nước. Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và
đưa ra quyết định cuối cùng.
- Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước.
Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách
mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác
lãnh đạo.
- Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông
qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên. Ðây là cơ sở
nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước.
- Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân.
Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ
chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước
ở tất cả các cấp quản lý.
Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một
cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong
quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng
cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà
nước. Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật hành chính,
nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào
cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương. Ðây là hình thức tham gia rộng
rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
+ Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tích cực vào hoạt động
của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân lao động trong
việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Thông qua các hoạt động
của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy. Ðây
10
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ
ở nước ta.
- Tham gia trực tiếp
+ Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở
Ðây là hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện, các hoạt động này gần gủi
và thiết thực đối với cuộc sống của người dân như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh
môi trường, Những hoạt động này xảy ra ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang tính
chất tự quản của nhân dân.
Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản này người lao động là những chủ
thể tham gia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của họ được tôn
trọng và bảo đảm thực hiện.
+ Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính
nhà nước
Ðiều 53-Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực hiện.
Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước.
Tham gia trực tiếp với tư cách là thanh viên không chuyên trách trong hoạt động cơ
quan quản lý, các cơ quan xã hội.
Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết những
cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương;
đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải
quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở. Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt
chẽ, đồng bộ. Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển
trong quản lý hành chính nhà nước.
¨ Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ
quan quản lý trước cơ quan dân chủ ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ quan quản
lý các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên của trung ương và quyền chủ động
của cấp dưới. Ngoài ra, đó là hệ thống "song trùng trực thuộc" của nhiều cơ quan quản lý,
12
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
bảo đảm sự kết hợp tốt nhất sự lãnh đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể của
địa phương.
¨ Có sự phân cấp rành mạch. Quyền lực nhà nước không phải được ban phát từ cấp
trên xuống cấp dưới. Sự phân quyền cho từng cấp là cần thiết nhưng phải đồng thời được kết
hợp với việc xác định vai trò của từng cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã. Từ khi ra
đời, mỗi cấp đã có "sứ mệnh lịch sử" và vai trò quản lý hành chính nhà nước riêng, đặc thù.
Có những chức năng được thực hiện ở cấp dưới lại có hiệu quả hơn cấp trên, hoặc có những
chức năng tất yếu phải được thực hiện ở cấp cơ sở. Hương ước làng xã là một ví dụ. Hương
ước không thể được "lập ra" ở cấp huyện, cấp mà có thể có rất nhiều làng xã với những tập
quán và lối sống khác nhau. Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện cụ thể như
sau:
- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước
cùng cấp.
Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua
Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân
sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra
để thay mặt mình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó. Ðể thực hiện chức năng quản lý
phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt,
những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã
hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc.
+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ
động sáng tạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và
phục vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó.
+ Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật. Hạn chế tình
trạng cấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp dưới.
Phân cấp quản lý phải xác định chức năng cơ quan. Mỗi loại việc chỉ được thực hiện bởi một
14
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan. Cấp trên không phải lúc nào cũng thực hiện được
một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp dưới.
- Sự hướng về cơ sở
Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở
quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội
trực thuộc. Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật chất
trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân. Vì thế nhà nước cần có các chính sách quản lý thống
nhất và chặt chẽ, cung cấp và giúp đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ sở hoạt
động có hiệu quả. Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một cách mạnh
mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðây cũng chính là việc thực hiện "dân là gốc"
trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc song trùng trực thuộc. Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ
thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên.
Ví dụ: UBND Tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang,
một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc.
mới, tổ chức phân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít
người nâng cao về mọi mặt.
- Những ưu tiên cho các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù
đắp phần nào cho việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều
kiên để vươn lên trong xã hội. Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng nếu vượt
khỏi phạm vi khuyến khích, động viên. Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn sẽ dẫn đến việc
cùng một vị trí giống nhau, nhưng hai khả năng không tương đồng nhau. Ðiều này sẽ dẫn
đến những khó khăn nhất định trong công việc chung cũng như cho chính bản thân người
được ưu tiên đó.
2.1.5 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
a. Cơ sở pháp lý
16
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
Ðây là nguyên tắc thể hiện một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là
phải tuân theo pháp luật. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp để
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không
ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)
b. Nội dung nguyên tắc
Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước
như sau:
- Trong lĩnh vực lập quy
Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan
hành chính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất
của hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp
và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm
quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
- Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật
Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa,
tức là phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết
làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp
ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội. Hoạt động quản lý theo ngành được thực hiện với
hình thức, qui mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa hay một vùng lãnh
thổ.
Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự
phân vạch địa giới hành chính của nhà nước. Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta
được thực hiện ở bốn cấp:
- Cấp Trung ương (cấp nhà nước)
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Xã, phường, thị trấn.
18
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương,
chính sách, có quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh
thổ. Bắt đầu từ qui hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư
sống và làm việc trên lãnh thổ. Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, quản lý
thống nhất về khoa học công nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội
trên lãnh thổ
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp
chặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính. Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo
chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự
phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp. Sự kết hợp này là một
nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan. Nội
dung của quản lý theo điạ giới hành chính:
- Xây dựng qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên lãnh thổ, nhằm xây
dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả từ trung ương tới địa phương.
- Qui hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất và đời sống dân cư sống và làm
việc trên một địa giới hành chính. Ðầu tư kinh tế luôn được khuyến khích và chù ý trong quá
trình lập dự án hạ tầng. Tuy nhiên, phải có kế hoạch và định hướng, tránh tình trạng "đầu tư
trên. Nguyên tắc này thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng
trong việc thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể:
- Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy phạm pháp luật, các
mệnh lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật, có
tính chất bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành.
- Các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ
trương do mình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các
chính sách, chủ trương đó theo quy định của pháp luật.
Có thể nói nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một
nguyên tắc có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó giúp
cho hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau. Nếu
thiếu sự liên kết này, hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
20
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
2.2.3. Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh
doanh
Theo Hiến pháp 1992 nước CHXHCN Việt nam, nền kinh tế nước ta là "nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định
hướng XHCN" (Ðiều 15). Liên quan đến chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, có các vấn
đề sau:
- Tuy nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nhà nước không phải là người
trực tiếp kinh doanh. Các cơ quan nhà nước định ra chiến lược, qui hoạch và định hướng kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý ổn định vững chắc. Các
tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ chấp hành và cụ thể hoá chiến lược và kế hoạch kinh tế- xã
hội của nhà nước, thực hiện cơ chế kinh doanh, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước, chịu sự
kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Nhà nước có chức năng tổ chức và điều chỉnh nền kinh tế quốc dân bằng những biện
pháp vĩ mô: thông qua các biện pháp kinh tế, hành chính, tạo khung cho cạnh tranh lành
mạnh trong sản xuất kinh doanh. Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện kinh doanh như:
bầu hoặc kết hợp giữa bầu và phê chuẩn; không ký thay mặt trên một số văn bản quản lý
hành chính nhà nước.
Cán bộ công chức được nhà nước trao quyền:
- Lãnh đạo quản lý: được bầu, được ủy nhiệm.
- Chuyên môn: thi tuyển, xét tuyển.
1.2 Đặc điểm
. - Chủ thể QLHCNN có tính quyền lực nhà nước, phải gắn liền thẩm quyền, tách rời
thẩm quyền thì không có chủ thể.
- Lĩnh vực hoạt động quản lý rất rộng, bao gồm tất cả lĩnh vực KT-CT-XH.
- Quản lý chủ yếu thông qua các quyết định quản lý và hành vi hành chính.
2. Khách thể quản lý hành chính nhà nước
2.1. Khái niệm
Khách thể quản lý hành chính nhà nước là cái mà hoạt động quản lý tác động tới – đó
là quá trình xã hội và hành vi của con người hoặc tổ chức của con người. bao gồm:
22
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
- Trật tự QL trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT-XH.
- Là hành vi hoạt động của con người.
2.2. Đặc điểm
- Được phân thành nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm riêng. Phân loại khách thể để có
phương pháp QL riêng cho từng loại.
- Khách thể luôn luôn vận động, có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi với hoàn
cảnh và môi trường của điều kiện hoạt động.
- Hiểu được các mặt của khách thể, công tác quản lý hành chính nhà nước tạo được sự
vững chắc và ổn định xã hội, tạo điều kiện cho khách thể luôn luôn vận động và phát triển.
VD. Là nhu cầu con người của XH…
Con người và các tổ chức của con người thực hiện rất nhiều hành vi nhưng không phải
hành vi nào cũng hợp pháp và phù hợp với lợi ích xã hội. Do vậy, các quan hệ xã hội nói
chung và quan hệ hành chính nói riêng cần phải có sự quản lý của nhà nước.
Chủ thể và khách thể của quản lý hành chính nhà nước được tách biệt tương đối bởi vì
thể.
- Quy luật về sự phù hợp của hình thức quản lý với mục đích cụ thể của tác động quản lý.
1.1.3. Các hình thức quản lý hành chính nhà nước
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật
- Thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý
- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp
- Thực hiện những tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật.
2. Các hình thức quản lý hành chính nhà nước
2.1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2.1.1 Khái niệm văn bản QPPL
Theo mục 1 điều 1 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm
pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc
24
Chương I: Lí luận chung về quản lý hành chính nhà nước
xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh
các quan hệ xã hội.
2.1.2. Mục đích của hoạt động
-Thông qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính, các chủ thể
của quản lý hành chính nhà nước:
- Ấn định những quy tắc xử sự trong quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể là ban hành
những quy định có tính chất chung hoặc ngành, liên ngành liên quan đến hành vi xử sự của
các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
cũng như các công dân, người nước ngoài…trong quản lý hành chính nhà nước.
- Quy định những nhiệm vụ cụ thể, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên
tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước.
- Xác định những mối liên hệ chủ yếu giữa các bộ phận của hệ thống quản lý hành
chính nhà nước.