ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN SONG TÙNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN
NÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HÌNH THỨC
XỬ LÝ RƠM RẠ ĐẾN MÔI TRƢỜNG ĐẤT LÚA Ở HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
1. PGS.TS. Nguyễn Xuân Cự
2. TS. Đinh Thị Hoàng Uyên
Hà Nội, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong Luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công
trình nghiên cứu nào trước đây. Các số liệu của các tác giả khác đã được trích dẫn rõ ràng
trong Luận án.
Tác giả luận án
Nguyễn Song Tùng LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận án này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Nguyễn Xuân Cự và TS. Đinh Thị Hoàng Uyên đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng
chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong
quá trình thực hiện Luận án.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến quý thầy cô trong Bộ môn Thổ nhưỡng-
1.1. Khái niệm và phân loại chất thải rắn nông nghiệp 12
1.1.1. Khái niệm về chất thải rắn nông nghiệp (CTRNN) 12
1.1.2. Phân loại chất thải rắn nông nghiệp 13
1.2. Tình hình sản xuất và phát sinh chất thải rắn nông nghiệp ở nước ta 14
1.2.1. Sơ lược về tình hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta 14
1.2.2. Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam 16
1.2.3. Các nguồn phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 19
1.2.4. Thành phần nguyên tố trong phụ phẩm nông nghiệp 22
1.3. Tình hình thu gom, sử dụng và xử lý chất thải rắn nông nghiệp trên thế giới
và ở Việt Nam 23
1.3.1. Thu gom, sử dụng và xử lý chất thải rắn nông nghiệp trên thế giới 23
1.3.2. Thu gom, sử dụng và xử lý chất thải rắn nông nghiệp ở Việt Nam 30
1.4. Tác động của quá trình canh tác đến môi trường đất lúa 41
1.4.1. Ảnh hưởng của trồng lúa đến một số tính chất môi trường đất 41
1.4.2. Ảnh hưởng của một số hình thức xử lý rơm rạ đến môi trường đất lúa 46
1.5. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của Hà Nội 52
1.5.1. Điều kiện tự nhiên của Hà Nội 52
1.5.2. Tình hình kinh tế - xã hội của Hà Nội 57
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 59
2.1. Đối tượng nghiên cứu 59
2.2. Nội dung nghiên cứu 59
2
2.3. Phương pháp nghiên cứu 61
2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 61
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa 61
2.3.3. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 62
2.3.4. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 66
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu 66
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 67
: Bảo vệ thực vật
CEC
: Dung tích trao đổi cation
CT
CTR
: Công thức
: Chất thải rắn
CTRNN
: Chất thải rắn nông nghiệp
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH
: Đồng bằng sông Hồng
F
: Axit fulvic
FAO
: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
H
: Axit humic
HCBVTV
: Hóa chất bảo vệ thực vật
OM
UBND
: Chất hữu cơ tổng số
: Ủy ban nhân dân
Bảng 3.8. Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2012 ở Hoài Đức 77
Bảng 3.9. Tỷ lệ rơm rạ và thóc xác định trên đồng ruộng 81
Bảng 3.10. Tỷ lệ phụ phẩm (thân, lá, lõi, bẹ) và hạt ngô xác định trên đồng ruộng 85
Bảng 3.11. Tổng khối lượng phụ phẩm rơm rạ từ cây lúa ở Sóc Sơn, Hoài Đức và
Thường Tín (năm 2012) 82
5
Bảng 3.12. Khối lượng phụ phẩm từ canh tác ngô ở ở Sóc Sơn, Hoài Đức và
Thường Tín (năm 2012) 82
Bảng 3.13. Khối lượng phụ phẩm các cây trồng chính ở Hà Nội năm 2012 83
Bảng 3.14. Khối lượng chất thải rắn chăn nuôi của Hà Nội năm 2012 83
Bảng 3.15. Khối lượng chất thải rắn chăn nuôi năm 2012 84
Bảng 3.16. Tình hình sử dụng rơm rạ ở huyện Sóc Sơn năm 2010 86
Bảng 3.17. Biến động các hình thức sử dụng rơm rạ ở huyện Sóc Sơn giai đoạn
1990 - 2010 (%) 87
Bảng 3.18. Tình hình sử dụng rơm rạ ở huyện Hoài Đức năm 2010 88
Bảng 3.19. Biến động các hình thức sử dụng rơm rạ ở Hoài Đức giai đoạn
1990- 2010 (%) 89
Bảng 3.20. Tình hình sử dụng rơm rạ ở huyện Thường Tín năm 2010 90
Bảng 3.21. Biến động các hình thức sử dụng rơm rạ ở Thường Tín giai đoạn
1990 - 2010 (%) 91
Bảng 3.22. Các hình thức sử dụng rơm rạ ở Hà Nội năm 2010 92
Bảng 3.23. Biến động sử dụng rơm rạ ở Hà Nội giai đoạn 1990 – 2010 93
Bảng 3.24. Tình hình sử dụng phụ phẩm cây ngô ơ
̉
Ha
̀
Nô
̣
i năm 2010 95
7
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Các hình thức thu gom và sử dụng rơm rạ trên thế giới 24
Hình 1.2. Hiện trạng sử dụng một số loại phụ phẩm cây trồng chủ yếu 32
Hình 1.3. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi 37
Hình 2.1. Bản đồ Hà Nội và địa điểm các huyện nghiên cứu chi tiết 60
Hình 3.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 79
Hình 3.2. Các sản phẩm thu hoạch từ cây ngô và các hình thức sử dụng 98
Hình 3.3. Các hình thức xử lý CTR chăn nuôi ở Sóc Sơn, Hoài Đức và Thường Tín 99
Hình 3.4. Các hình thức xử lý chủ yếu đối với bao bì hóa chất BVTV ở Sóc Sơn,
Hoài Đức và Thường Tín 103
Hình 3.5. Ảnh hưởng của đốt rơm rạ đến nhiệt độ đất 109
Hình 3.6. Tỷ lệ % chất hữu cơ và các axit mùn trong đất ở CT1 121
Hình 3.7. Tỷ lệ % chất hữu cơ và các axit mùn trong đất ở CT2 123
Hình 3.8. Tỷ lệ % chất hữu cơ và các axit mùn trong đất ở CT3 124
Hình 3.9. Tỷ lệ % chất hữu cơ và các axit mùn trong đất ở CT4 126
Hình 3.10. Tỷ lệ các axit mùn trong chất hữu cơ tổng số trong đất 129 8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một trong những nước nông nghiệp có trình độ thâm canh cao
so với khu vực cũng như trên thế giới. Trong những năm gần đây, sản xuất nông
nghiệp ở nước ta đã mang lại nhiều thành tựu to lớn, đóng góp vào sự phát triển
của đất nước. Đời sống người dân nông thôn đang dần được cải thiện do phát triển
trong những năm gần đây. Tổng số lượng gia súc, gia cầm của Hà Nội hiện có
khoảng 23,4 triệu con sẽ thải ra một lượng phân lớn. Ô nhiễm môi trường trong chăn
nuôi trên địa bàn Hà Nội đã và đang được quan tâm. Song vẫn còn nhiều địa phương
chất thải chăn nuôi không được xử lý triệt để gây ô nhiễm môi trường và bức xúc
cho người dân.
Thêm vào đó, tình trạng vứt bỏ bừa bãi các bao bì đựng hóa chất BVTV đang
rất phổ biến cũng góp phần làm tăng lượng chất thải rắn trong quá trình sản xuất
nông nghiệp.
Sự chuyển đổi trong các hình thức quản lý và sử dụng các phụ phẩm nông
nghiệp ở Hà Nội trong những năm qua đã có những tác động không tốt đến các yếu
tố môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng. Đặc biệt là việc xử lý rơm rạ
đã có những ảnh hưởng xấu đến độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng đến chu trình vật
chất trong hệ thống đất - cây trồng, đặc biệt là chu trình của các bon, có nguy cơ đe
dọa tính bền vững của hệ thống canh tác lúa nước trong vùng. Các hình thức xử lý
rơm rạ có tác động trực tiếp đến chất hữu cơ trong đất, đến khu hệ vi sinh vật đất
cũng như nhiều tính chất lý hóa học của đất.
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều giống
cây trồng mới năng suất cao đang được sử dụng rộng rãi để đáp ứng nhu cầu lương
thực cho một dân số đông ở nước ta. Tuy nhiên, để đảm bảo cho các giống mới
phát triển tốt đòi hỏi phải đầu tư nhiều phân bón, nước tưới và kỹ thuật chăm sóc
thích hợp. Trong đó bao gồm cả nhu cầu về thuốc bảo vệ thực vật cũng gia tăng.
Một nền nông nghiệp thâm canh cao là yêu cầu tất yếu của quá trình sản xuất. Để
đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng đòi hỏi
10
các yếu tố đầu vào tương xứng như lượng phân bón cũng tăng cao. Đây cũng là
nguyên nhân dẫn đến lượng phân chuồng ngày càng ít được sử dụng mà thay vào
đó là sự gia tăng sử dụng các phân khoáng.
Đã có nhiều nghiên cứu về quá trình thâm canh tăng năng suất lúa ở nước ta
nói chung và ở đồng bằng sông Hồng nói riêng nhưng chủ yếu tập trung vào vấn đề
nước ta.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Xác định được thực trạng chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội
cũng như những biến động trong sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, góp phần quản lý
hiệu quả chất thải rắn nông nghiệp ở Hà Nội nói riêng và ở nước ta nói chung cho
mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp bền vững ở nước ta.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở tham khảo cho việc ra quyết định
và điều chỉnh chính sách quản lý chất thải rắn nông nghiệp hiệu quả hơn nhằm
giảm thiểu tác động môi trường do chất thải rắn nông nghiệp.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Đây là nghiên cứu đầu tiên đóng góp vào việc lượng hóa mức độ tác động
của các hình thức đốt rơm rạ đến nhiệt độ đất, khu hệ vi sinh vật đất và một số tính
chất đất lúa ở Hà Nội.
- Đánh giá được tác động của một số hình thức xử lý rơm rạ khác nhau (thu
hoạch hết rơm rạ, vùi rơm rạ, đốt phân tán rơm rạ và đốt tập trung rơm rạ) đến một
số tính chất môi trường đất lúa, đặc biệt là sự biến động chất mùn trong đất. Đây là
những cơ sở khoa học cho việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho một nền nông
nghiệp bền vững ở đồng bằng sông Hồng nói chung.
12
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm và phân loại chất thải rắn nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về chất thải rắn nông nghiệp (CTRNN)
Theo thuật ngữ được sử dụng rộng rãi của Liên hợp quốc (2005) “Chất thải
rắn nông nghiệp là vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, nó
bao gồm các phụ phẩm từ quá trình trồng trọt (thân cây, rơm, rạ, vỏ trấu…), phân
và các chất thải trong quá trình chăn nuôi và các lò giết mổ, các bao bì hóa chất bảo
vệ thực vật hay chất thải trong nuôi trồng thủy hải sản” [70].
các rủi ro, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh và sức khỏe cộng đồng [2].
1.1.2. Phân loại chất thải rắn nông nghiệp
Theo Võ Đình Long (2008) [25] các chất thải rắn nông nghiệp bao gồm một số
loại chủ yếu sau đây:
Theo khả năng phân hủy, chất thải rắn nông nghiệp được phân thành chất
thải có khả năng phân hủy và chất thải không có khả năng phân hủy.
Chất thải có khả năng phân hủy là các loại chất thải có thành phần hữu cơ
cao và chứa thành phần dinh dưỡng thuận lợi cho quá trình sinh trưởng của các
vi sinh vật. Các chất thải có khả năng phân hủy tốt như: phân động vật trong
chăn nuôi, cỏ dại, lá cây…; các chất có khả năng phân hủy kém hơn như rơm,
rạ, thân cây. Loại chất thải này chiếm tỷ lệ khá cao (60 - 65%) trong tổng chất thải
rắn nông nghiệp.
Các chất thải không có khả năng phân hủy và độc hại là các loại chai lọ, bao
bì đóng gói đựng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu. Hiện nay, ở nông thôn còn
tồn đọng trung bình mỗi năm khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và
thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn các loại hoá chất nông nghiệp bị
cấm sử dụng hoặc đã quá hạn sử dụng [4].
Theo tính nguy hại, chất thải rắn nông nghiệp gồm hai loại: chất thải rắn
nông nghiệp nguy hại và chất thải rắn nông nghiệp thông thường.
Chất thải rắn nông nghiệp nguy hại là chất thải có chứa chất hoặc các hợp
chất gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người. Các chất gây nguy hại bao
14
gồm các bệnh phẩm của động vật nhiễm bệnh (gà rù, lợn bị bệnh, gà cúm, trâu bò
điên,…); bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn
trùng, bả chuột; chai lọ đựng thuốc thú y đã qua sử dụng, xylanh hỏng…); đồ nhựa
(bình xịt hóa chất bảo vệ động, thực vật, găng tay bảo hộ…); kim loại (bơm kim tiêm,
dao mổ, các vật sắc nhọn khác…); dược phẩm (thuốc thú y đã quá hạn sử dụng, thuốc
còn sót trong vỏ đựng…) [29].
Theo thành phần hóa học, chất thải rắn nông nghiệp được chia thành chất
lúa và 70% sản lượng lúa gạo của cả nước [9].
Năm 1975 sau khi thống nhất đất nước diện tích gieo trồng lúa ở nước ta là
4,855 triệu ha, năng suất 21,2 tạ/ha, sản lượng 10,293 triệu tấn, bình quân đầu người
240 kg thóc, chưa đảm bảo an ninh lương thực. Năm 1985 diện tích trồng lúa tăng
lên 5,7 triệu ha, đến năm 1990 diện tích gieo cấy lúa đã tăng lên 6 triệu ha, năng
suất 31,8 tạ/ha, sản lượng 19,225 triệu tấn, bình quân đầu người 295 kg thóc, lần
đầu tiên nước ta đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn gạo. Năm 1995 diện tích lúa là 6,765
triệu ha, năng suất 36,9 tạ/ha, sản lượng 24,963 triệu tấn [9]. Việt Nam đã xuất khẩu
được 3,5 triệu tấn gạo (FAOSTAT, 2005) [70]. Đến năm 2012, sản lượng lúa cả
nước đạt 43,66 triệu tấn, với diện tích gieo trồng là 7,753 triệu ha, năng suất đạt
56,3 tạ/ha [40].
Trong hơn 30 năm qua, sản xuất lúa ở Việt Nam đã không ngừng tăng
trưởng về diện tích, năng suất và sản lượng nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong sản xuất như giống mới, phân bón, thủy lợi và kỹ thuật canh tác. Nhờ
đó, nước ta từ một nước thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên
thế giới.
Về chăn nuôi, vào thời điểm cuối năm 2012, cả nước có 26,5 triệu con lợn,
2.627,8 nghìn con trâu, 5.194,2 nghìn con bò và đàn gia cầm có 308,5 triệu con
[40]. Sản lượng thịt các loại ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm trước.
Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển lâu dài của mình, nền nông nghiệp nước ta
cũng đã chịu nhiều tác động của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… đã có lúc
rất nghiêm trọng. Ngày nay, những nguy cơ này có lúc càng gay gắt hơn, đặc biệt là
đã xuất hiện nhiều yếu tố mới có nguy cơ phá vỡ tính ổn định của hệ sinh thái nông
nghiệp: sự đa dạng sinh học giảm đi do nhiều loại giống truyền thống đã được thay
thế bằng một số ít giống lúa mới, việc sử dụng các hóa chất BVTV gây hại ngày
16
càng nhiều cho con người cũng như khó kiểm soát trong quá trình canh tác. Hơn
nữa quá trình thâm canh cao dựa trên việc sử dụng nhiều phân bón hóa học đã làm
trầm trọng thêm sự mất cân đối về dinh dưỡng trong đất.
1980
116.720
155
1985
129.490
469
1990
137.829
560
1995
129.681
1.224
2000
135.198
2.267
2005
161.358
1.985
2010
163.500
2.582
2011
172.600
2.935
2012
176.600
2.774
Nguồn: IFA, 2012; Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ 20, cuốn 1,2. NXB
Thống kê, năm 2004. Báo cáo tổng kết Bộ Nông nghiệp và PTNT [Trích theo 48].
150 - 180
Nguồn: Đề tài 02A-06–01, 1990 và Nguyễn Văn Bộ, 2003 [48].
Phân hữu cơ nói chung có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng
đa, trung và vi lượng mà không một loại phân khoáng nào có được. Ngoài ra, phân
hữu cơ cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt hơn, tơi xốp, bộ rễ phát triển
mạnh. Vào những năm của thập kỷ 60 thế kỷ 20 do nguồn phân khoáng có hạn nên
phân chuồng được sử dụng rất phổ biến, bình quân hơn 6 tấn/ha/vụ.
Từ những thập niên cuối của thế kỷ 20, với mức độ thâm canh ngày càng cao
trong sản xuất nông nghiệp, phân bón ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong
nâng cao năng suất và giá trị nông sản, là vật tư không thể thiếu của mỗi người dân.
Hiện nay, do phân bón vô cơ mang lại hiệu quả cao nên việc lạm dụng các loại phân
khoáng rất phổ biến. Lượng phân bón sử dụng năm 2012 tại Việt Nam là 2,77 triệu
tấn chất dinh dưỡng (N, P
2
O
5
và K
2
O), bằng 1,57% của thế giới (176,6 triệu tấn).
Tính về tốc độ tăng trưởng, trong 43 năm (1970 - 2012), khi Việt Nam bắt đầu
Chương trình hóa học hóa nông nghiệp, lượng phân bón vô cơ tiêu thụ tăng 8,92
lần, trong khi trong cùng thời gian, toàn cầu tăng 2,55 lần [48].
Việc bón phân không cân đối, thiếu khoa học làm cho sâu bệnh phát triển nhiều
hơn và mức độ nghiêm trọng hơn. Sự bùng phát của các bệnh dịch lớn như vàng lùn,
lùn xoắn lá trên lúa tại ĐBSCL hay lúa lùn sọc đen tại ĐBSH, bệnh chổi rồng trên
nhãn, sắn là những ví dụ có một phần nguyên nhân từ bón phân chưa hợp lý.
Do vai trò và tác dụng to lớn của phân khoáng, cùng với việc thay đổi mô hình
chăn nuôi và thiếu hụt lao động cũng như áp lực về mùa vụ mà phân hữu cơ ngày
18
là 30 - 70%, nhất là đối với cây công nghiệp dài ngày. Khi bón phân hữu cơ, hiệu
suất sử dụng đạm của cây cà phê tăng thêm 15,6% (từ 37,2% khi không bón hữu cơ
lên 52,8% khi có bón hữu cơ). Ngược lại, phân hóa học cũng làm tăng hiệu quả của
phân hữu cơ. Trên nền đất bón phân khoáng, hiệu suất 1 tấn phân hữu cơ đạt 53-89
kg thóc tùy theo loại đất và mùa vụ, còn trên nền không có phân khoáng, chỉ số này
19
chỉ đạt 32-52 kg thóc. Phân hữu cơ cũng làm tăng hiệu quả sử dụng phân lân do hạn
chế lân kết tủa với các ion Fe, Al và Ca. Bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng,
phân có chất độn là rơm rạ còn làm giảm đáng kể lượng kali cần bón do hàm lượng
kali trong rơm rạ rất cao, đạt từ 1,5-1,7% K
2
O (Nguyễn Văn Bộ, 2013) [48].
Chiến lược Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đặt mục
tiêu đến năm 2020 sản xuất nông nghiệp sẽ đạt hơn 41 triệu tấn lúa, 18 triệu tấn
rau, 7,2 triệu tấn ngô, 1,1 triệu tấn đậu tương. Như vậy nếu sản lượng các nông
sản hàng hóa trên đạt được cũng sẽ để lại một lượng rất lớn phụ phẩm nông nghiệp
(rơm, rạ, thân, lá, v.v…). Đến năm 2020, với đàn lợn khoảng 35 triệu con; đàn gà
có khoảng hơn 306 triệu con; đàn trâu đạt gần 3 triệu con và đàn bò gần 13 triệu sẽ
cho 200-210 triệu tấn phân chuồng. Đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng đã và
đang góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như ổn định độ phì nhiêu của
đất [48].
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng gắn liền
với sử dụng bền vững tài nguyên đất, nhiệm vụ của loài người là phải tạo ra một
nền nông nghiệp thâm canh bền vững. Trong đó cùng với việc sử dụng tối thích
phân khoáng, tái sử dụng tàn dư thực vật làm phân bón, giảm đến tối đa những chất
phế thải và việc mất dinh dưỡng để không làm ô nhiễm môi sinh. Đồng thời phải
làm cho đất phát huy tác dụng tích cực hơn, trở thành nơi đồng hóa chất thải, biến
chất thải thành nguồn chất dinh dưỡng, phụ phẩm nông nghiệp trở thành một phần
của hệ thống sản xuất.
Lõi, vỏ, râu bắp
500
Nguồn: Viện Năng lượng (2002) (trích theo [44])
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hàng năm lượng phụ phẩm và các chất
thải từ sản xuất nông nghiệp là rất lớn, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Hồng và
vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trong trồng trọt, lúa là loại hình sản xuất phát sinh lượng chất thải lớn nhất. Với
khoảng trên 4 triệu ha đất lúa và diện tích gieo trồng lúa hàng năm lên đến 7,5 triệu ha,
lượng rơm rạ thải ra ước đạt 76 triệu tấn/năm (Bảng 1.4) [9]. Nếu chỉ tính riêng đồng
bằng sông Cửu Long, sản xuất lúa tạo ra khoảng 24 triệu tấn rơm rạ/năm; ngọn lá mía
phế thải khoảng 2,47 triệu tấn/năm, lượng bã mía sau chế biến đường khoảng 1,42 triệu
tấn/năm và bùn thải sản xuất mía đường khoảng 0,94 triệu tấn/năm [9].
Cùng với lượng phụ phẩm được phát sinh trong trồng trọt, chăn nuôi cũng là
ngành tạo ra nhiều chất thải rắn. Lượng chất thải rắn từ các hoạt động chăn nuôi gia
súc gia cầm thậm chí còn lớn hơn rất nhiều so với trong trồng trọt (Bảng 1.4). Hơn
nữa chất thải rắn chăn nuôi thường gây ô nhiễm môi trường lớn hơn nhiều so với
các chất thải từ trồng trọt.
21
Bảng 1.4. Lƣợng chất thải rắn nông nghiệp phát sinh năm 2008, 2010
Chất thải
Đơn vị
Khối lƣợng
Năm
Rơm rạ
Tấn/năm
76.000.000
2010
Chất thải rắn chăn nuôi
Bò thịt
5 – 8
Gà
5
Nguồn: Theo Ioehr, 1984 (trích theo [28])
Trong những năm qua, cùng với việc mở rộng diện tích, sự dịch chuyển cơ cấu và
quá trình đầu tư thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng, lượng thuốc BVTV được
sử dụng cũng có xu hướng tăng lên. Đây chính là nguồn gốc phát sinh bao bì thuốc bảo
vệ thực vật, có tác động không nhỏ đến sức khỏe con người, môi trường sản xuất và chất
lượng nông sản. Theo Tổng cục Thống kê, từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Việt
Nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật, đến năm 2006
tăng đột biến lên tới 71.345 tấn và đến năm 2008 đã tăng lên gần 110.000 tấn. Thông