ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phạm Thị Lan Anh
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
ĐẤT HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phạm Thị Lan Anh
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Sự cần thiết phải nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất 3
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong đề tài 7
1.2.1. Một số khái niệm chung 7
1.2.2. Đánh giá đất đai………………… 9
1.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất 13
1.2.3. Quy hoạch sử dụng đất 17
1.3. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 19
1.4. Các nghiên cứu về đất và đánh giá đất ở Cao Bằng và Hạ Lang 20
1.4.1. Tại Cao Bằng…………. 20
1.4.2. Tại huyện Hạ Lang 21
Chƣơng II. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Nội dung nghiên cứu 23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
Chƣơng III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Lang 25
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 27
3.2. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện Hạ Lang. 40
3.2.1. Đặc điểm tài nguyên đất của huyện 40
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện 48
3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 56
3.3.1. Những căn cứ và tiêu chuẩn để đánh giá 56
DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC HÌNH
1. Danh mục bảng
STT
Tên Bảng
Trang
Bảng 3.1
Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hạ Lang
27
Bảng 3.2
Cơ cấu cây trồng năm 2011 huyện Hạ Lang
29
Bảng 3.3
Cơ cấu vật nuôi năm 2011 huyện Hạ Lang
30
Bảng 3.4
Bảng thống kê dân số năm 2011 huyện Hạ Lang
33
Bảng 3.5
Đặc điểm tài nguyên đất huyện Hạ Lang
40
Bảng 3.6
Diện tích đất phân bố theo các cấp độ dốc huyện Hạ Lang
47
Bảng 3.7
Dự báo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hạ Lang
69
2. Danh mục hình
STT
Tên hình
Trang
Hình 3.1
Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hạ Lang
28
Hình 3.2
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2011 huyện Hạ Lang
50
Hình 3.3
Cơ cấu sử dụng đất năm 2011 huyện Hạ Lang
51
Hình 3.4
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hạ Lang
71
Hình 3.5
Dự báo cơ cấu sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hạ Lang
72 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
11
TBVTV
Thuốc bảo vệ thực vật
12
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
13
UBND
Ủy ban nhân dân MỞ ĐẦU
Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con ngƣời và tất cả các sinh vật
Hạ Lang là huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng.
Tình hình kinh tế - xã hội của huyện đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, dẫn đến
nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh tăng nhanh. Trong khi nguồn tài nguyên đất đai chỉ có hạn lại chƣa đƣợc khai
thác triệt để. Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nƣớc, lấy kinh tế nông nghiệp
làm chủ đạo, việc nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất nông nghiệp, đảm bảo
phát triển đúng theo quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là
việc làm hết sức cần thiết. Do đó đề tài “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất
huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng” đƣợc tiến hành nghiên cứu nhằm đạt đƣợc những
mục tiêu sau:
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất, đặc điểm tài nguyên đất và các loại hình
sử dụng đất hiện tại trên địa bàn huyện Hạ Lang – tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý tài nguyên đất nông nghiệp huyện Hạ
Lang nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trƣờng, phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất của huyện trong thời kỳ tới.
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
đồng cỏ. Sự xói mòn đất dẫn tới việc giảm năng suất đất đây cũng là nguy cơ mất
an ninh lƣơng thực, phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng
sinh học và các nguy cơ khác [8].
Việc con ngƣời khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất
nông nghiệp giảm về cả số lƣợng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc
không thể canh tác đƣợc, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhậy cảm với việc khai
thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý. Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá
rừng chăn thả quá mức và các hoạt động tƣới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa
mạc hóa. Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là
vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ. Khoảng 1,2 tỷ ngƣời của hơn 110 nƣớc đang
bị đe dọa bởi vấn đề này [26].
Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng Châu
Mỹ Latinh và Châu Á. Braxin hàng năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ 1,5 triệu ha
rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha. Đối với các nƣớc có dân
số đông nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh sự suy thoái hóa đất ở, đất
rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp. Đối với các nƣớc nhƣ Campuchia, Lào
nạn phá rừng làm củi đun, làm nƣơng rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ
gỗ phục vụ cho cuộc sống của cƣ dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn rất
phong phú [24].
Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật và
làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên. Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm hàng triệu
ha đất bị hoang mạc hóa.
Việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm trầm trọng vòng
luẩn quẩn: suy thoái đất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu. Suy thoái đất làm
nghèo dinh dƣỡng, phá hủy cân bằng chu trình nƣớc và góp phần làm mất an ninh
lƣơng thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng, cùng với mức tăng dân số và hàng loạt các nhu
cầu của con ngƣời về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng thì cách tiếp cận quản
0,07% tổng diện tích đất nông nghiệp và đất nông nghiệp khác là 25.462 ha chiếm
0,10% tổng diện tích đất nông nghiệp. [1]
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, nông nghiệp Việt Nam 6
đi qua chặng đƣờng dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật, nhƣng cũng đã có
những sự thay đổi về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng đất nông nghiệp.
Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nƣớc, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại. Tình trạng phổ
biến hiện nay là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất: quỹ đất nông nghiệp đƣợc
chuyển đổi thành đất công nghiệp, xây dựng và giao thông. Tỷ lệ diện tích đất phi
nông nghiệp trên diện tích nông nghiệp có xu hƣớng tăng. Năm 2006, tỷ lệ này là
0,133% và đến năm 2009 tỷ lệ tăng 0,138%. Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông
Hồng, nơi tốc độ đô thị hóa diễn ra sôi động nhất cả nƣớc thì trung bình mỗi năm
quỹ đất nông nghiệp bị mất khoảng 0,43% [1].
Trƣớc tình hình quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, Chính phủ đã có
những biện pháp chỉ đạo rất quyết liệt. Tại công văn số 2031/VPCP – CN ngày
31/3/2008 và Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008, Thủ tƣớng Chính phủ đã
chỉ đạo không phát triển khu công nghiệp trên đất nông nghiệp có năng suất ổn
định. Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/12/2009 về
bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng
chỉ rõ, diện tích đất lúa cần giữ là 3,8 triệu ha. Tuy nhiên, theo dự báo, từ nay đến
năm 2030, nhu cầu chuyển đất lúa sang các mục đích khác còn tiếp tục tăng khoảng
500 nghìn ha. Đây là một sức ép rất lớn đối với tài nguyên và môi trƣờng đất. [1]
Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nƣớc
ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất. Các dạng thoái hoá đất chủ
yếu là: Xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dƣỡng, đất
chua hoá, mặn hoá, phèn hoá bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ
đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể đƣợc khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì
đƣợc sức sản xuất của nó trong tƣơng lai.
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong đề tài
1.2.1. Một số khái niệm chung
+ Đất (Soil): Cho tới nay có nhiều định nghĩa về đất, nhƣng định nghĩa của
Đacutraep (1879) – nhà thổ nhƣỡng học ngƣời Nga đƣợc thừa nhận rộng rãi nhất.
Theo tác giả này thì: Đất là vật thể tự nhiên đƣợc hình thành qua một thời gian dài
do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời
gian. 8
Đất là một hệ thống hở. Các hoạt động thêm vào đất, mất khỏi đất, chuyển dịch
vị trí trong đất và hoạt động chuyển hóa trong đất xảy ra liên tục. Chất lƣợng của
đất phụ thuộc vào đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên và trong lòng đất,
đặc biệt phụ thuộc vào tác động của con ngƣời đối với đất đai.
+ Đất đai (Land): Theo cách định nghĩa của tổ chức FAO thì: “Đất đai là một
tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của
thực thể vật chất đó”. Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là
những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội của một tổng thể vật chất.
Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao
gồm cả các yếu tố cấu thành môi trƣờng sinh thái ngay trên và dƣới bề mặt đất nhƣ
khí hậu, thổ nhƣỡng, dạng địa hình, địa mạo, nƣớc mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy, v.v
…) các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng
thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả hoạt động của con ngƣời trong quá khứ
và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nƣớc, hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng xá, nhà
cửa. v.v ).
+ Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit – LMU): là một vùng đất đai
với các tính chất riêng biệt đƣợc xác định trên bản đồ.
1950 tại Hội nghị các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam (Hà Lan). Năm 1968,
tại hội nghị chuyên đề về đánh giá đất đai tại Canbera, khái niệm đánh giá đất đai
đƣợc đƣa ra tƣơng tự nhƣ định nghĩa của Stewart (1968) nhƣ sau: Đánh giá đất đai
là “Sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con ngƣời vào
nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất đai…”. Hay nói
cách khác đi là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về thuận
lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đƣa ra những quyết
định cho sử dụng và quản lý đất đai”.
Năm 1976 FAO đã đề xuất định nghĩa về: ĐGĐĐ là quá trình so sánh, đối
chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất
đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có.
Theo FAO, mục tiêu chính của đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích
hợp (Suitability) các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt
đã lựa chọn. Các dạng đất đai thƣờng đƣợc mô tả và phân lập thành các đơn vị trên
bản đồ, đƣợc gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit). 10
Nhƣ vậy, trong đánh giá phân hạng đất đai ngƣời ta yêu cầu phải có hai
nguồn thông tin: Những kết quả của công tác điều tra khảo sát đất đai xác định theo
hệ thống phân loại đất và những khoanh đất, từ đó xác định đƣợc đặc tính, tính chất
vốn có của từng khoanh đất. Còn qua việc đề xuất những loại hình sử dụng đất,
ngƣời ta sẽ nêu đƣợc đặc tính, tính chất đất đai ấy hoạt động có kết quả. Đánh giá
đất đai đƣợc tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng, bao hàm cả không gian, điều
kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Những đặc điểm của đất đai sử dụng
trong đánh giá đất đai là những tính chất mà ta có thể đo lƣờng hay ƣớc lƣợng đƣợc
những thuận lợi khó khăn, đề xuất đƣợc những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất
hợp lý và đạt hiệu quả.
Phương pháp đánh giá đất đai của FAO:
1. Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất phù hợp với chính sách, mục
tiêu phát triển các điều kiện tổng quát về sinh thái tự nhiên – tập quán sử dụng đất
và bối cảnh kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu.
2. Xác định yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất đai đƣợc lựa
chọn.
3. Khoanh các đơn vị đất đai dựa vào các kết quả khảo sát tài nguyên đất đai
(nhƣ thổ nhƣỡng, thủy văn, khí hậu ). Mỗi đơn vị đất đai sẽ có một tính chất (nhƣ
độ dốc, tầng dầy loại đất, loại đất, tình trạng ngập úng, lƣợng mƣa ) khác với đơn
vị lân cận.
4. Mô tả các đơn vị đất đai, bao gồm cả việc xem xét chất lƣợng đất của từng
đơn vị đất đai, đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến khả năng thực hiện các
loại hình sử dụng đất đƣợc lựa chọn.
5. So sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất với chất
lƣợng đất của từng đơn vị đất đai trong vùng nghiên cứu. Qua đó khả năng thích
hợp của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng đƣợc thiết lập. Phân loại
thích hợp đất đai có thể bao gồm: (1) khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai
hiện tại và (2) khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai sẽ đƣợc cải tạo.
6. Phân tích những tác động môi trƣờng có thể xảy ra và các vấn đề kinh tế -
xã hội trong quá trình thực hiện các loại hình sử dụng đất đƣợc đánh giá. Qua đó,
đƣa ra phân loại cuối cùng của khả năng thích hợp đất đai. 12
Đánh giá đất đai ở Viê
̣
t Nam
Ở Việt Nam phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, phân hạng điền thu thuế
là một trong những phƣơng pháp đƣợc thực hiện đầu tiên và đã đƣa ra khái niệm
phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền,…) nhƣng chƣa xác
lâm nghiệp (2 nhóm kế tiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối cùng).
Năm 1989, trong chƣơng trình 48C, Viện Thổ Nhƣỡng Nông hóa do Vũ Cao
Thái chủ trì đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, cà
phê, chè, dâu tằm. Đề tài đã vận dụng phƣơng pháp đánh giá khái quát.
Từ năm 1992, phƣơng pháp đánh giá đất của FAO và các hƣớng dẫn tiếp
theo (1983, 1985, 1987, 1992) đƣợc Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp áp
dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển. Nhìn chung, trong nhiều công
trình, căn cứ để xác định phân hạng đất đai thƣờng gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí,
địa hình, điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện tƣới tiêu.
Về mặt kỹ thuật, đánh giá đất ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các tính chất đất
đai để xây dựng đơn vị đất (Land units) và phổ biến sử dụng phƣơng pháp hạn chế
nhiều nhất (Maximum limiting method) để phân cấp thích hợp.
1.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.2.3.1.Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con ngƣời
còn hạn chế, ngƣời ta thƣờng quan niệm kết quả và hiệu quả là một. Sau này khi
nhận thức của con ngƣời phát triển cao hơn, ngƣời ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết
quả và hiệu quả.
Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm, bản
chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những
lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải đƣợc xem xét trên 3 mặt: hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trƣờng [8].
Theo FAO (1994), Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất
nông - lâm nghiệp, đến môi trƣờng sinh thái, đến đời sống ngƣời nông dân. Vì vậy,
đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hƣớng vào
ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Hệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền
Hiệu quả môi trƣờng đảm bảo tính bền vững cho hiệu quả kinh tế và hiệu 15
quả xã hội. Đang đƣợc nhân loại rất quan tâm, phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế,
kỹ thuật.
Hiệu quả môi trƣờng đƣợc thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ
đƣợc độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trƣờng sinh
thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngƣỡng an toàn sinh thái (>35%). Đa dạng sinh
học biểu hiện qua thành phần loài [8].
1.2.3.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phƣơng về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất
nông nghiệp.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp:
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống.
Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có
thang bậc.
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu
hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu
chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung
kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nƣớc ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là
những sản phẩm có khả năng hƣớng tới xuất khẩu.
giá trị sản phẩm xã hội đƣợc tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT= GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm GTSX/CPTG và
GTGT/CPTG đây là chỉ tiêu tƣơng đối của hiệu quả. Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các
chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi ra GTGT/LĐ. Thực
chất là đánh giá kết quả đầu tƣ lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây
trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của ngƣời lao động.
Các chỉ tiêu phân tích đƣợc đánh giá định lƣợng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo
thời giá hiện hành, định tính (giá trị tƣơng đối) đƣợc tính bằng mức độ cao, thấp. Các
chỉ tiêu đạt đƣợc mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn [8].
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Theo hội khoa học đất Việt Nam (2000) [8], hiệu quả xã hội đƣợc phân tích
bởi các chỉ tiêu sau:
- Đảm bảo an toàn lƣơng thực, gia tăng lợi ích của ngƣời nông dân. 17
- Đáp ứng đƣợc mục tiêu chiến lƣợc phát triển kinh tế của vùng.
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.
- Góp phần định canh, định cƣ, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Tăng cƣờng sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu.
* Các chỉ tiêu hiệu quả môi trƣờng
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trƣờng của quá trình sử dụng đất nông
nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lƣợng, đòi hỏi phải đƣợc nghiên cứu, phân tích
trong thời gian dài. Vì vậy, đề tài chỉ dừng lại ở việc đánh giá:
- Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất ( tỷ lệ các loại cây trồng có
khả năng cải tạo đất và bảo vệ đất )
- Mức đầu tƣ phân bón ( đánh giá mức đầu tƣ phân bón vô cơ và hữu cơ)
liệu để tính toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa. Từ
đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến bộ của khoa học kỹ
thuật.
- Tính pháp chế: Biểu hiện của tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai đƣợc nhà
nƣớc giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích cụ thể đã
đƣợc xác định theo phƣơng án quy hoạch sử dụng đất.
- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phƣơng án quy hoạch sử dụng đất nhà
nƣớc đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích đƣợc giao. Đây chính là biện
pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai.
Ở đây đã thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất. Song, điều này chỉ đạt
đƣợc khi tiến hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ thuật và pháp chế.
Từ đó có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất nhƣ sau: Quy hoạch sử
dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước
về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông
qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một
tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trƣớc mắt mà cả lâu dài. Căn cứ vào đặc
điểm tự nhiên, phƣơng hƣớng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của
mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đƣợc tiến hành nhằm định hƣớng cho các 19
cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của
mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nƣớc về đất
đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tƣ để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lƣơng
thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu cầu văn hóa xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nƣớc