1
LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH 8
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1. Lý do chọn đề tài 10
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 13
2.1. Quốc tế 13
2.2. Ở Việt Nam 14
3. Mục tiêu nghiên cứu 18
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 18
5. Phạm vi nghiên cứu 19
6. Mẫu khảo sát 20
7. Câu hỏi nghiên cứu 20
8. Giả thuyết nghiên cứu 20
9. Phƣơng pháp nghiên cứu 20
10. Kết cấu của Luận văn 21
PHẦN NỘI DUNG 22
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH 22
NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 22
1.1. Các khái niệm cơ bản 22
1.1.1. Công nghệ thông tin 22
1.1.2. Các thành phần của công nghệ thông tin 22
1.1.3. Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục 22
1.1.4. Khái niệm quản lý 24
1.1.5. Đối tượng quản lý cơ bản trong trường tiểu học 25
1.1.6. Nội dung quản lý có ứng dụng CNTT trong trường tiểu học 26
1.2. Nguồn nhân lực CNTT 28
1.2.1. Quản trị nguồn nhân lực 28
1.2.2. Phương pháp đánh giá nhân lực 28
1.2.3. Nguồn nhân lực CNTT 29
2.2.3.3. Nhận xét chung về cơ sở vật chất hạ tầng tin học 63
2.3. Thực trạng nguồn nhân lực CNTT ở các trƣờng tiểu học tp Cà Mau 65
2.3.1. Nguồn nhân lực CNTT ở các trường tiểu học 65
2.3.2. Đánh giá chung thực trạng nguồn nhân lực CNTT 68
2.3.2.1. Những thành tựu 69
2.3.2.2. Những tồn tại hạn chế 70
2.4. Chính sách nguồn nhân lực CNTT ở tỉnh Cà Mau. 71
2.4.1. Chính sách nguồn nhân lực CNTT trong ngành giáo dục nói chung và
trường tiểu học nói riêng 71
2.4.2. Tác động của chính sách nguồn nhân lực CNTT trong trường tiểu học hiện
nay 72
2.4.3. Hiệu quả thực thi của chính sách nguồn nhân lực CNTT 73
2.4.3.1. Mă
̣
t ma
̣
nh 73
2.4.3.2. Những hạn chế, yếu kém 74
2.4.3.3. Nguyên nhân cu
̉
a hạn chế , yếu ke
́
m 75
Kết luận chƣơng 2 76
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NGUỒN NHÂN
LỰC CNTT CHO CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC TP CÀ MAU 78
3.1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT ở tỉnh Cà Mau 78
3.1.1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT của tỉnh Cà Mau 78
3.1.2. Quan điểm, chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT của ngành giáo dục
ở Cà Mau 80
6
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Khoa học &
Xã hội nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, Phòng Sau Đại học Trường Đại
học Khoa học & Xã hội nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Phạm Xuân Hằng - Người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Trong quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và những gì đạt
được hôm nay, tôi không thể quên được công lao giảng dạy và hướng dẫn của
các thầy, cô giáo Trường Đại học Khoa học & Xã hội nhân văn Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Tôi xin được bày tỏ niềm xúc động lớn lao trước sự giúp đỡ tận tình,
8
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quy mô trường lớp, học sinh tiểu học năm học 2012-2013 trang 34
Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường tiểu học
tp Cà Mau tại thời điểm tháng 6/2013 trang 34
Bảng 2.3: Kết quả học tập của học sinh tiểu học đối với các môn đánh giá
bằng điểm số trang 35
Bảng 2.4: Kết quả học tập của học sinh tiểu học đối với các môn đánh giá
bằng nhận xét trang 37
Bảng 2.5: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh tiểu học năm học
2012-2013 trang 37
10
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, việc nghiên cứu, triển
khai ứng dụng KH&CN vào trong các lĩnh vực như; kinh tế, chính trị, an ninh
quốc phòng, y tế, giáo dục, ứng dụng trong một số lĩnh vực khác của đời sống
trở nên vô cùng quan trọng. Sự phát triển mạnh mẽ và những ưu việt của
KH&CN ngày càng được thể hiện rõ nét trong đời sống XH đặc biệt là
CNTT.
Hiện nay, ở hầu hết các nước phát triển, các nước đang phát triển ứng
dụng CNTT phổ biến ở nhiều lĩnh vực, trong đó ứng dụng CNTT trong giáo
dục rất phổ biến, có nhiều phần mềm, nhiều đề tài nghiên cứu liên quan tới
̣
ha
̣
n chế và chưa được tổ chức một cách có hệ
thống, vẫn còn những điểm yếu tồn tại cần nghiên cứu khắc phục.
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng tới việc ứng dụng
thành công CNTT trong đó có quan niệm của nhà quản lý, điều kiện về cơ sở
vật chất phục vụ tin học hóa trong nhà trường, trình độ tin học và nhận thức
của đội ngũ sử dụng CNTT, cơ chế vận hành hệ thống và đặc biệt là thiếu
nhân lực phụ trách CNTT ở các trường tiểu học.
Hiện nay, ở các trường phổ thông nói chung và trường tiểu học ở tp Cà
Mau nói riêng không có biên chế phụ trách CNTT. Nên ứng dụng CNTT
trong các trường tiểu học ở tp Cà Mau hiện nay vừa thiếu và rất yếu. Lãnh
đạo các trường tiểu học ở tp Cà Mau phải phân công nhân viên văn thư kiêm
nhiệm phụ trách CNTT hoặc phân công giáo viên kiêm nhiệm phụ trách luôn
mảng CNTT của nhà trường. Do công việc phân công kiêm nhiệm, chồng
chéo không đúng chuyên môn, nên hiệu quả ứng dụng CNTT đem lại không
cao; bởi vì những viên chức này không có chuyên môn CNTT, không được
đào tạo chuyên sâu về tin học thì không thể đáp ứng yêu cầu vận hành được
hệ thống phần mềm quản lý trường học. Như vậy, việc đưa ứng dụng CNTT
vào quản lý trong nhà trường là chưa hiệu quả và còn nhiều bất cập, chưa khai
thác hết thế mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường, công việc mà các viên
chức đó làm chỉ ở mức giản đơn như: Soạn thảo văn bản, báo cáo thống kê,
xử lý số liệu đơn giản bằng word, excel, …
12
Tại tp Cà Mau, trong những năm vừa qua được sự quan tâm của cấp ủy
Đảng và chính quyền các cấp cũng như cơ quan quản lý ngành dọc cấp trên
đối với GD&ĐT, ngành GD&ĐT tp Cà Mau đã rất chú trọng chỉ đạo tăng
cường ứng dụng CNTT trong quản lý, trong dạy học ở các nhà trường. Nhờ
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới giáo dục và CNTT đã có những bước tiến rất nhanh.
Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã và đang có nhiều nhà
khoa học nghiên cứu và đưa vào thực tiễn quản lý dạy và học. Mô hình quản
lý có ứng dụng CNTT ở các nước trên thế giới đã đạt được nhiều thành quả
nhất định, đem lại hiệu quả cao trong giáo dục, góp phần nâng cao hiệu suất
đào tạo.
Vấn đề nghiên cứu chính sách CNTT và chính sách nguồn nhân lực
CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và trong giáo dục
nói riêng gần đây có nhiều tác giả đã có bài viết và công trình nghiên cứu
như:
2.1. Quốc tế
- Tại Anh quốc, khi nghiên cứu chính sách thúc đẩy phát triển ứng
dụng CNTT trong GD&ĐT. Giáo sư David Mousund, bộ phận quản lý và
chính sách trường đại học Oregon Autralia đã đưa ra các luận điểm:
+ Lĩnh vực ICT (information communication technology) đang thay đổi
nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh
đạo khiến họ ngần ngại.
+ Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng ICT trong giáo dục
tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm.
Trong luận điểm của mình giáo sư David Mousund, bộ phận quản lý và
chính sách trường Đại học Oregon Autralia đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay
đổi tư tưởng của nhà quản lý. Ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT và tư tưởng
của nhà quản lý. Các luận điểm của Ông xoay quanh đánh giá tư tưởng của
nhà quản lý trong việc đưa CNTT ứng dụng vào trong công tác quản lý nhưng
14
tác giả chưa đề cập đến nguồn nhân lực trực tiếp vận hành ứng dụng CNTT
phục vụ công tác quản lý GD&ĐT.
- Khi đến với hội thảo tại đại học quốc gia tp Hồ Chí Minh với chủ đề
chính sách hỗ trợ đầu tư để xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng và chính
sách đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực CNTT. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu
trong phạm vi diện rộng thực hiện chung cho cả nước để thực hiện chính phủ
điện tử, còn riêng đặc thù của ngành giáo dục mà đặc biệt ở địa phương Cà
Mau khi đưa chính sách này vào thực hiện còn nhiều điểm chưa phù hợp với
địa phương.
- Đề tài: Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực
công nghệ thông tin và truyền thông của Nguyễn Văn Phương, Vụ tổ chức
cán bộ, đã phân tích nguyên nhân của sự thiếu hụt nguồn nhân lực CNTT ở
nước ta hiện nay và chỉ ra tầm quan trọng của nguồn nhân lực CNTT trong
thời kỳ bùng nổ thông tin như hiện nay. Đồng thời đã đề ra các giải pháp phát
triển nguồn nhân lực CNTT và truyền thông để đáp ứng với sự phát triển vượt
bậc của KH&CN hiện nay. Tuy nhiên, các giải pháp của tác giả đề ra chỉ
mang tính định hướng chung để phát triển nguồn nhân lực CNTT và truyền
thông của nước ta, chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể ở từng địa phương. Từ
những giải pháp định hướng đó làm tiền đề để tôi hoàn thiện chính sách
nguồn nhân lực CNTT phục vụ công tác quản lý ở trường tiểu học phù hợp
với đặc điểm tình hình địa phương thành phố Cà Mau hiện nay.
- Đề tài nghiên cứu khoa học Chính sách phát triển nhân lực và thu hút
nhân tài CNTT tp Đà Nẵng của kỹ sư Phạm Kim Sơn (2005), Tác giả đã
nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và phương hướng về chính sách nhằm
phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài CNTT ở tp Đà Nẵng.
- Công trình nghiên cứu CNTT với việc dạy và học trong nhà trường
Việt Nam của Lưu Lâm đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc sử
dụng CNTT trong dạy và học; đồng thời nêu lên được việc ứng dụng CNTT
trong dạy và học ở hiện tại và tương lai. Trong đó, tác giả cũng đã đánh giá
tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong dạy và
học, nhưng tác giả chưa đề ra giải pháp để phát triển nguồn nhân lực CNTT
16
17
giáo dục tiểu học đưa ra một bức tranh về thực trạng của việc ứng dụng
CNTT, truyền thông vào dạy học và đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu học.
Qua đó, đề xuất một số kiến nghị để việc ứng dụng CNTT, truyền thông vào
dạy học và đào tạo bồi dưỡng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, tác giả chỉ phân tích ở
góc độ nhìn ở tầm vĩ mô để đánh giá khái quát bình diện chung trong việc ứng
dụng CNTT ở bậc tiểu học ở nước ta hiện nay; tác giả chủ yếu đánh giá khả
năng ứng dụng CNTT của giáo viên trong giảng dạy và thực trạng cơ sở hạ
tầng tin học để thực hiện ứng dụng CNTT trong trường tiểu học. Nhưng theo
quan điểm của tôi, nguyên nhân để thúc đẩy ứng d’ụng CNTT trong trường
tiểu học đó chính là nguồn nhân lực CNTT bao gồm: Cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên của nhà trường; các đối tượng này phải có đủ khả năng đáp
ứng vận hành được các ứng dụng CNTT thì mới đáp ứng được nhu cầu phát
triển CNTT hiện nay và từng bước nâng dần chất lượng quản lý và giáo dục
bậc tiểu học trong thời gian tới, tuy nhiên vấn đề này tác giả chưa đề cập tới.
- Bài viết Đề xuất mô hình trường có ứng dụng CNTT của PGS. TS
Đào Thái Lai, Viện chiến lược và chương trình giáo dục; đã đề xuất mô hình
nhà trường có ứng dụng CNTT và truyền thông trong mọi hoạt động của nhà
trường sẽ đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Trong mô hình ứng dụng
CNTT của ông đề xuất yêu cầu phải đảm bảo trang bị cơ sở vật chất phục vụ
cho ứng dụng CNTT, cán bộ quản lý phải biết tin học, giáo viên phải biết tin
học và đồng thời mỗi trường phải có cán bộ phụ trách CNTT. Nhưng thực tế,
không có trường nào đáp ứng được vì hiện nay hầu hết các trường đều không
có cán bộ phụ trách CNTT nên mô hình này đưa vào thực hiện sẽ đạt hiệu quả
không cao.
Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết, bài báo, hội thảo về vai trò,
thực trạng, số lượng, chất lượng nhân lực CNTT và các chính sách, giải pháp
chung để thúc đẩy ứng dụng CNTT. Các công trình nghiên cứu trên đây chủ
yếu tập trung vào việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát triển
nguồn nhân lực nói chung và chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT
trong ngành giáo dục nói riêng đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
19
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực CNTT trong
hệ thống quản lý các trường tiểu học ở tp Cà Mau.
- Đề xuất và phân tích một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách
phát triển nguồn nhân lực CNTT phục vụ công tác quản lý ở các trường tiểu
học tp Cà Mau theo hướng đào tạo bồi dưỡng kiến thức CNTT chuyên sâu
cho độ ngũ phụ trách CNTT trong các trường tiểu học, tổ chức tập huấn
hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý trường học cho đội ngũ viên chức làm
CNTT trong các trường tiểu học đáp ứng với nhu cầu tin học hóa trong hệ
thống quản lý trường tiểu học.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ở địa bàn tp Cà Mau, cụ thể là 33 trường tiểu học ở
tp Cà Mau. Nội dung là từ những thông tin thu thập được, phân tích đánh giá
những chính sách nguồn nhân lực nói chung và chính sách nguồn nhân lực
CNTT trong hoạt động quản lý của ngành giáo dục ở thành phố nói riêng và
đề ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân
lực CNTT phù hợp với đặc điểm tình hình ở địa phương.
Đối tượng thụ hưởng chính sách trực tiếp là cán bộ, giáo viên và nhân
viên, bởi vì khi thực hiện chính sách này thì các đối tượng này được bồi
dương chuyên sâu về kiến thức tin học, có cơ hội được nâng cao trình độ và
khả năng ứng dụng CNTT và sẽ thực hiện tốt được các yêu cầu ứng dụng
CNTT do nhà trường đề ra; ngoài ra đối tượng được thụ hưởng gián tiếp đó là
cán bộ quản lý nhà trường và cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Bởi vì, thông
qua kết quả ứng dụng CNTT trong nhà trường mà cán bộ, giáo viên, nhân
viên báo cáo sau khi thực hiện, thì cán bộ quản lý trường học và cán bộ quản
lý giáo dục các cấp sẽ dễ dàng khai thác thông tin thông qua hệ thống phần
đến chính sách nguồn nhân lực CNTT trong cơ quan hành chính nói chung,
ngành GD&ĐT và trường tiểu học ở tp Cà Mau nói riêng.
+ Phân tích, tổng hợp kết hợp thống kê, so sánh, tổng hợp thực tiễn, dự
báo, mô hình hóa, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố.
- Hướng tiếp cận: Thu thập và xử lý thông tin (sơ cấp và thứ cấp).
21
- Phương pháp thống kê: Thống kê, khảo sát và đánh giá thực trạng
nguồn nhân lực CNTT trong hệ thống quản lý các trường tiểu học ở tp Cà
Mau.
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực tế tại các
trường tiểu học ở tp Cà Mau.
+ Khảo sát 33 cán bộ quản lý cùng với 100 giáo viên, nhân viên thuộc
10 trường tiểu học trên tổng số 33 trường tiểu học ở tp Cà Mau.
+ Phỏng vấn, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý
thuộc Phòng GD & ĐT, Sở GD & ĐT.
+ Phỏng vấn các chuyên gia tham gia xây dựng và triển khai các đề án
ứng dụng và phát triển CNTT trong ngành giáo dục.
10. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận văn
chia làm 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận của chính sách nguồn nhân lực CNTT
Chương 2. Thực trạng chính sách nguồn nhân lực CNTT trong hệ thống
quản lý ở các trường tiểu học tp Cà Mau.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện chính sách nguồn nhân lực CNTT cho
các trường tiểu học tp Cà Mau.
Trong xu thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, mọi thành phần, tổ
chức, ngành nghề trong nước cũng không đi ra ngoài xu hướng đó. Lĩnh vực
GD&ĐT, đặc biệt là giáo dục bậc tiểu học cũng không phải là ngoại lệ. Điều
quan trọng trong quá trình hội nhập này là bản thân chúng ta luôn cập nhật
được những tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức quản lý giáo dục
tiên tiến trên thế giới. Bên cạnh đó, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đơn vị mà
các nhà quản lý giáo dục áp dụng cho đơn vị, tổ chức của mình.
Với xu thế thay đổi mô hình giáo dục như hiện nay, trường học phải
thay đổi môi trường giáo dục. Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường
học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo
cho học sinh. Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng
tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi học sinh; trong khi giáo viên chỉ hướng
23
dẫn kỹ năng, phương pháp giải quyết công việc. Kỹ năng giải quyết công việc
và xử lý thông tin chính là cốt lõi của phương thức giáo dục này. Để hiện thực
hóa những giá trị cốt lõi trên, CNTT là một công cụ hữu hiệu.
Với sự thay đổi căn bản về mô hình giáo dục trong trường học ở trên,
vai trò của CNTT trở nên đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ CNTT là công cụ đắc
lực hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý
giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Đặc điểm nổi
trội nhất là thông qua dữ liệu, thông tin được lưu trữ, xử lý, các tiêu chí trong
quản lý nhà trường đang dịch chuyển từ định tính sang định lượng. Bên cạnh
đó, với bản chất của CNTT, sự minh bạch hóa và chia sẻ thông tin, dữ liệu
giữa các thành viên cũng như tốc độ xử lý thông tin của máy tính sẽ làm tăng
hiệu quả vận hành, quản lý nhà trường.
Việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý giáo dục nói chung và trong
các nhà trường tiểu học nói riêng thành công sẽ nâng cao chất lượng quản lý.
Nó đem lại nhiều lợi ích cho nhà quản lý, cụ thể như: Tra cứu thông tin
nhanh, kịp thời, tiết kiệm thời gian, công sức trong hoạt động quản lý, độ
nhất, rẻ nhất”.[11,89]
Theo F. W Taylor, ông được mệnh danh là cha đẻ của thuyết quản lý
khoa học, Ông định nghĩa về quản lý như sau: “ Quản lý là biết được chính
xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công
việc tốt nhất và rẻ nhất ”.[11;26]
H. Fayol là một nhà quản lý người Pháp xuất sắc, ông cho rằng: “Quản
lý hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và
kiểm tra ”.[11;80]
Bà Marry Parker Follet cho rằng “Quản lý là nghệ thuật khiến cho
công việc được thực hiện thông qua người khác ”.[11;59]
Nhấn mạnh các chức năng của hoạt động quản lý, Nguyễn Cảnh Chất
cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận
dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. [11;12]
25
Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhưng xét trên tổng thể,
phần lớn các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng: Quản lý là sự tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một
tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả cao bằng cách vận dụng
các hoạt động chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện
đầy đủ các chức năng của mình, hoạt động quản lý sẽ đem lại hiệu quả mong
muốn.
Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, quản lý có cấu trúc và vận
động trong một môi trường nhất định. Hệ thống quản lý được tạo bởi các yếu
tố: Cơ chế quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý.