Thu hút nhân lực khoa học và công nghệ của viện Khoa học BHXH thông qua mô hình cấu trúc dự án - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ QUỐC HOÀ THU HÚT NHÂN LỰC
KHOA HỌC VÀCÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC
BHXH THÔNG QUA MÔ HÌNH CẤU TRÚC DỰ ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC QUẢN LÝ Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60 34 72

LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC QUẢN LÝ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Huy Tiến

Hà Nội: 2010
1
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA

5.2. Đặc điểm của khoa học bảo hiểm xã hội 28
5.3. Nguồn Nhân lực KH&CN bảo hiểm xã hội 30
Kết luận Chƣơng 1: 30
CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN CỦA VIỆN KHOA
HỌC BẢO HIỂM XÃ HỘI 32
1. Hiện trạng hoạt động KH&CN của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội Việt
Nam. 32
1.1 Chức năng nhiệm vụ của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 32
1.2 Cấu trúc của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 33
1.2.1 Cơ cấu tổ chức của viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 33
1.2.2 Chế độ quản lý và điều hành của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội 36
1.3. Nhân lực KH&CN của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 36
1.4 Cơ sở hạ tầng của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 39
1.5 Hoạt động KH&CN của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam 39
2. Hoạt động của Bảo hiểm xã hộiViệt Nam 50
2.1. Hiện trạng hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 50
2.2. Chiến lược phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong giai đoạn từ
2010- 2020 52
2.3. Những vấn đề đặt ra cho công tác nghiên cứu khoa học của Ngành bảo
hiểm xã hội 58
3. Một số hoạt động thu hút nhân lực KH&CN để thực hiện các đề tài nghiên
cứu khoa học của Viện khoa học bảo hiểm xã hội 60
3.1 Chính sách thu hút nhân lực KH&CN 60
3.2 Thu hút nhân lực KH&CN thông qua thực hiện các đề tài NC 61
3.3 Nhận xét. 63
Kết luận chƣơng 2 66
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN THÔNG QUA MÔ
HÌNH CẤU TRÚC DỰ ÁN 68

3

4

DANH SÁCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và công nghệ
TTNCKH Trung tâm nghiên cứu khoa học
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
OECD Ogannization for Economic Cooperation and Development
(Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế).
UNESCO United Nations Educational Scietific and Cultual
Ogannization (Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hoá của
Liên hợp quốc )
R&D Reseach and Development (Nghiên cứu và triển khai)
TSKH Tiến sĩ khoa học
KT- XH Kinh tế xã hội
QLDA Quản lý dự án
KHTN Khoa học tự nhiên
KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
DĐXH Di động xã hội
CCVC Công chức, viên chức
NC Nghiên cứu MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với đƣờng lối đúng đắn của Đảng;
sự quản lý thống nhất theo pháp luật của Nhà nƣớc và sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn
dân đất nƣớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và

do đó, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay của BHXH Việt Nam là phải

6
xây dựng chiến lƣợc phát triển ngành nhằm đủ năng lực thực hiện mục tiêu trên.Và
trong quá trình phát triển đó, ngành BHXH sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề có tính
khoa học phát sinh trong thực tiễn vv.
Viện Khoa học BHXH là đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam. Viện có chức
năng tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động khoa học về BHXH, BHYT,
BHTN để ứng dụng vào hoạt động của ngành. Với vai trò là đơn vị nòng cốt trong
hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống BHXH Việt Nam. Trong những năm
qua Viện khoa học BHXH mà tiền thân là Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH
đã tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài và chuyên đề khoa học vừa mang tính lý luận
vừa mang tính ứng dụng. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài, chuyên đề khoa học
trên nhiều lĩnh vực đã đƣợc đúc rút thành lý luận và vận dụng vào thực tiễn hoạt
động, góp phần đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn các chế độ, chính sách
BHXH, BHYT đối với ngƣời lao động và nhân dân.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rõ những hạn chế trong công tác nghiên cứu khoa
học của Viện trong thời gian qua. Một số đề tài, chuyên đề chƣa đạt kết quả nhƣ
mong muốn, chất lƣợng còn thấp: thậm chí có những chuyên đề, đề tài thể hiện nhƣ
một bản báo cáo công tác, chƣa mang phong cách nghiên cứu khoa học; tình trạng
chậm tiến độ kế hoạch nghiên cứu vẫn còn nhiều. Đặc biệt là sự thiếu hụt về lực
lƣợng nghiên cứu khoa học, những cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ ngày một
giảm dần do về hƣu hoặc chuyển công tác. Mặt khác, lực lƣợng cán bộ nghiên cứu
có kinh nghiệm chƣa đƣợc bổ sung kịp thời hoặc đƣợc bổ sung thì vẫn còn yếu về
năng lực.
Đứng trƣớc nhu cầu phát triển của ngành BHXH, nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học đặt ra đối với Viện khoa học BHXH ngày càng lớn. Nhƣng với cơ cấu tổ chức
và con ngƣời nhƣ hiện nay Viện khoa học BHXH sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
việc thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì vậy vấn đề đặt ra là với cơ cấu tổ chức
và con ngƣời nhƣ hiện nay Viện khoa học BHXH sẽ phải áp dụng mô hình hoạt

5. Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Viện Khoa học BHXH Việt Nam

8
- Đối tƣợng nghiên cứu: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút nhân lực
KH&CN theo dự án.
- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực KH&CN của Viện Khoa học
BHXH.
- Thời gian nghiên cứu: Giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến nay.
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: 11/2009- 10/2010.
6. Vấn đề nghiên cứu:
- Thế nào là thu hút nhân lực KH&CN theo mô hình dự án?
- Điểm mạnh của thu hút nhân lực KH&CN theo mô hình dự án là gì?
- Giải pháp nào để thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH
trong điều kiện hiện nay?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Sử dụng mô hình cấu trúc dự án để thu hút nhân lực KH&CN, mô hình dự
án (cấu trúc ma trận) làm cấu trúc chức năng đƣợc mềm dẻo hơn đảm bảo việc sử
dụng nhân lực hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng Xã hội chủ nghĩa.
- Đối với Viện Khoa học BHXH việc áp dụng hình thức thu hút nhân lực
KH&CN thông qua mô hình dự án (cấu trúc ma trận) là phù hợp, vì nó không làm
thay đổi cơ cấu tổ chức hiện nay của Viện nhƣng vẫn đảm bảo thu hút đƣợc nhân
lực KH&CN từ bên ngoài để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Viện
ngày một nặng nề hơn.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi về thi hút nhân lực KH&CN theo
mô hình cấu trúc dự án cho Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam trong điều
kiện hiện nay.

8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC
DỰ ÁN TRONG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN
1. Khái niệm tổ chức, cấu trúc tổ chức
- Tổ chức: Theo giáo trình “Tổ chức học đại cƣơng” của PGS.TS Phạm Huy
Tiến “Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm
thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không
thực hiện được”
1
- Cấu trúc tổ chức: Là một kiểu mẫu đƣợc đặt ra để phối hợp hoạt động giữa
các con ngƣời trong tổ chức.
Có thể nói cấu trúc tổ chức là một thuộc tính đặc trƣng của tổ chức, quy định
sự vận động của các thành phần trong tổ chức, cấu trúc của tổ chức đƣợc thể chế
hoá thành những quy chế, quy định, những nguyên tắc nhằm điều chỉnh những hành
vi, hành động của con ngƣời trong tổ chức để mọi hoạt động đó đều hƣớng tới mục
tiêu của tổ chức.
Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có mục tiêu hoạt động, hay nói cách khác
mục tiêu của tổ chức là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Về mặt vị trí, tổ chức luôn là một hệ thống nhỏ tồn tại trong một hệ thống lớn xã
hội, đó chính là môi trƣờng bên ngoài của tổ chức. Do đó sự tồn tại và phát triển của
tổ chức luôn đƣợc xác định bởi mục tiêu của tổ chức có phù hợp hay không phù hợp
với yêu cầu đòi hỏi của môi trƣờng tồn tại quanh nó. Cho nên tổ chức không phải là
hệ cô lập, nó luôn có sự tƣơng tác và chịu sự ảnh hƣởng của môi trƣờng bên ngoài.
Những biến động của môi trƣờng bên ngoài có ảnh hƣởng không nhỏ đến tổ chức.

trực tiếp.
Cấu trúc đơn giản và cấu trúc dự án tỏ ra hiệu quả lúc môi trƣờng không ổn
định. Cấu trúc đơn giản hàm ý có một giám đốc thƣờng là ngƣời sáng lập tổ chức có
một nhóm cố vấn làm việc dƣới quyền và đội ngũ những ngƣời thực thi những công
việc chính. Đây là tổ chức phi chính thức, rất linh hoạt mặc dù làm việc một cách
tập trung dƣới quyền giám đốc, là dạng thức lý tƣởng khi cần thay đổi nhanh chúng.
Loại hình tổ chức này hoạt động tốt khi vấn đề mấu chốt cần ra quyết định nhanh
chóng và khi nhiệm vụ không quá phức tạp. Cơ cấu này phù hợp với các xí nghiệp
trẻ và đổi mới, đặc biệt là các xí nghiệp công nghệ cao.

12
Cấu trúc dự án chỉ các tổ chức đƣợc thiết kế tạm thời. Nó hoàn toàn thích hợp
với các nhiệm vụ phức tạp và bức bách, đƣợc thực hiện trong môi trƣờng không ổn
định. Cơ cấu dự án thƣờng sử dụng các ê kíp làm dự án, cơ cấu này kết thúc nhiệm
vụ khi không còn công việc, các thành viên lại tham gia vào các ê kíp khác để thực
hiện dự án khác. Cơ cấu này thƣờng gặp trong các tổ chức làm việc theo dự án, các
đề tài khoa học vv. Có thể loại hình tổ chức này xuất hiện dƣới hình thức một bộ
phận riêng trong một cơ quan lớn hơn. Loại hình này thƣờng sử dụng trong các cơ
quan nghiên cứu triển khai.
2. Khái niệm dự án, tổ chức dự án
2.1 Khái niệm dự án
Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về dự án. Theo K. Johnson, đƣa ra
định nghĩa “Dự án là một công việc dự kiến trước mắt nhằm đạt được những mục
tiêu đã xác định, trong một khoảng thời gian cụ thể và với một khoản kinh phí nhất
định”
2
hoặc dự án có thể hiểu là một chuỗi những hoạt động có liên quan đến nhau
đƣợc lập ra nhằm đạt đƣợc một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể với các nguồn lực nhất
định trong một thời hạn cụ thể.
Nhƣ vậy, mỗi dự án gồm các đặc điểm sau.

mục tiêu chung (chƣơng trình) đã định trƣớc.
2.2. Tổ chức dự án
Cũng nhƣ các tổ chức thông thƣờng khác, tổ chức dự án đƣợc hình thành
nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của dự án, bao gồm: “một nhóm người được xắp
xếp theo một trật tự nhất định để có thể cùng phối hợp hoạt động với nhau để đạt
đến mục tiêu của dự án” “với cấu trúc là một kiểu mẫu được đặt ra để phối hợp
giữa các con người trong dự án”. Tuy nhiên so với các tổ chức khác, tổ chức dự án
có tính nhất thời và ngẫu nhiên, đều đƣợc hình thành do phải thực hiện một vấn đề
nào đó. Tổ chức dự án không phải là một tổ chức ổn định không đổi, bất kỳ tổ chức
nào đều có giới hạn, tức là có quy trình phát triển và giải thể. Tổ chức dự án có thời
gian tồn tại khác nhau, có tính chất đơn giản hay phức tạp khác nhau, sau khi dự án
hoàn thành thì tổ chức đó cũng giải thể. Kết cấu của dự án tuy có đƣợc sự ổn định
tƣơng đối, không dễ dàng biến đổi nhƣng vẫn phải có sự điều chỉnh nhất định theo
sự biến đổi của điều kiện bên trong và bên ngoài tổ chức. Bất cứ một tổ chức nào
trong đó có cả tổ chức dạng dự án đều thuộc vào một môi trƣờng xã hội nhất định,
là một hệ thống con trong cả một hệ thống lớn của xã hội, đều phải có giao lƣu
thông tin với hệ thống lớn xã hội. Vì vậy, tổ chức dự án là một hệ thống tổ chức mở
3
Trung tâm Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam giới thiệu dự án và quản lý dự án,Trang3

14
Có 3 mô hình tổ chức dự án
- Cấu trúc chức năng
Dự án đƣợc chia ra làm nhiều phần và đƣợc phân công tới các bộ phận
chức năng hoặc các nhóm trong bộ phận chức năng thích hợp. Dự án sẽ đƣợc tổng
hợp bởi nhà quản lý chức năng cấp cao.
- Cấu trúc dự án
Một nhà quản lý phải chịu trách nhiệm quản lý một nhóm, tổ gồm
những thành viên nòng cốt đƣợc chọn từ những bộ phận chức năng khác nhau trên
cơ sở làm việc toàn phần (Full-time). Các nhà quản lý chức năng không có sự tham

làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ, giáo sƣ đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sỹ
nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên
chuyên nghiệp và có bằng y học…vv.
- Những ngƣời đƣợc coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực
KH&CN nhƣng không có bằng cấp, nhƣ nhân viên lập trình máy tính hoặc cán bộ
quản lý quầy hàng nhƣng không có bằng cấp…vv.
- Những ngƣời làm việc trong lĩnh vực R&D nhƣng không đòi hỏi trình độ
cao nhƣ: Thƣ ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, thủ thƣ trong các trƣờng đại
học vv.
Nhƣ vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OECD đƣợc hiểu theo nghĩa rất
rộng bao gồm cả những ngƣời tiềm tàng / tiềm năng chứ không chỉ là những ngƣời
đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động những ngƣời
tiềm tàng / tiềm năng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN.
Nhân lực KH&CN trong luận văn đƣợc hiểu theo định nghĩa của OECD đó
là “Tập hợp những nhóm ngƣời tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý,
khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát
triển sản xuất và xã hội”. Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN bao gồm:
- Lực lƣợng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp

16
Nhân lực KH&CN với chức năng nghiên cứu sáng tạo gọi là nhà nghiên cứu
hay nhà khoa học. Các nhà nghiên cứu là những ngƣời có trình độ tƣơng đối cao
(Tốt nghiệp đại học trở lên). Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và
thƣờng làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học.
- Lực lƣợng giảng dạy đƣợc đào tạo bậc cao
Đây là lực lƣợng đông đảo gồm những ngƣời có trình độ từ đại học trở lên.
Họ làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trƣờng (cao đẳng, đại học). Lực
lƣợng này có nghề nghiệp chuyên môn là dạy học tức là nhà giáo chuyên nghiệp,
các giáo sƣ, phó giáo sƣ, giảng viên đại học. Tuy nhiên họ không chỉ giảng dạy

* Nhân lực tham gia dự án
Nhân lực tham gia dự án gồm các thành viên của các chuyên môn khác nhau
tập trung lại hình thành nên sức mạnh của đội ngũ. Sự thành công của dự án đƣợc
quyết định ở sức mạnh kết hợp giữa các thành viên và đội ngũ nhân lực lựa chọn
với ngƣời lãnh đạo dự án và các nhân viên kỹ thuật chuyên ngành có năng lực và
trình độ cao. Điều này là nhân tố quyết định sự thành công của dự án.
- Nhóm quản lý: Đối với chƣơng trình, đề án gồm có ban chủ nhiện chƣơng
trình, giám đốc các dự án (ban điều hành).
- Nhóm chuyên môn: Gồm có chủ nhiệm đề tài, các bộ phận chuyên môn
giúp việc.
- Nhóm dịch vụ, phục vụ: Gồm có kế toán ban quản lý dự án, lái xe, tạp vụ,
văn thƣ…
Việc lựu chọn các thành viên trong đội ngũ đƣợc thực hiện thông qua tuyển
chọn từ các bộ phận chức năng, tuyển chọn từ bên ngoài cơ quan, trong, ngoài địa
phƣơng, ngoài nƣớc vv.
* Hình thức phối hợp chủ yếu trong đội ngũ dự án là hoạt động nhóm
Một nhóm ngƣời làm việc trong cùng một văn phòng hay thậm chí một dự án
chung không phải lúc nào cũng tiến hành công việc của một nhóm làm việc. Nếu
nhóm đó đƣợc quản lý theo kiểu chuyên quyền độc đoán hoàn toàn, có lẽ sẽ không
có nhiều cơ hội cho sự tác động qua lại liên quan đến công việc giữa các thành viên

18
trong nhóm. Nếu có bất kỳ tƣ tƣởng bè phái nào trong nhóm, hoạt động của nhóm
sẽ không bao giờ tiến triển đƣợc. Ngƣợc lại, nhóm làm việc là phƣơng thức có thể
đƣợc tận dụng dù với những cá nhân ở những khoảng cách xa, làm việc ở những dự
án khác nhau.
Nói một cách đơn giản, nhóm làm việc tạo ra một tinh thần hợp tác, phối hợp
những thủ tục đƣợc hiểu biết chung và nhiều hơn nữa. Nếu điều này diễn ra trong
một nhóm ngƣời, hoạt động của họ sẽ đƣợc cải thiện bởi sự hỗ trợ chung (cả về
thực tế lẫn lý thuyết).

các công ty tƣ nhân, các tổ chức phi chính phủ; không ít trƣờng hợp liên tục chuyển
đi nhiều cơ quan, làm nhiều vị trí và công việc khác nhau chỉ trong một khoảng thời
gian ngắn. Nguyên nhân của hiện tƣợng này là do chƣa phát huy đƣợc năng lực
chuyên môn, trả công không tƣơng xứng và chƣa có sự khuyến khích, đãi ngộ phù
hợp với năng lực của cá nhân. Hiện tƣợng đa vị thế, nghề nghiệp có xu hƣớng đi
ngƣợc lại quá trình chuyên môn hoá theo hƣớng chuyên sâu mặc dù khuyến khích
ngƣời lao động làm việc nhiều hơn. Đây là một xu hƣớng khá phổ biến hiện nay
trong cộng đồng khoa học ở nhiều lĩnh vực.
Bên cạnh những tác động tích cực nhƣ: Bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực khoa
học trong các cơ quan khoa học; cung cấp thêm những luận cứ thực tiễn cho bài
giảng, lĩnh vực chuyên môn nghiên cứu; tích luỹ và bổ sung kinh nghiệm nghiên
cứu, giảng dạy, góp phần nâng cao chất lƣợng chuyên môn của đội ngũ cán bộ khoa
học; hiện tƣợng đa vị thế, đa vai trò còn có những tác động tiêu cực, gây nên sự
thiếu hụt và chảy máu chất xám của các cơ quan chủ quản lao động. Đa vai trò, đa
vị thế khi làm việc đòi hỏi mỗi cá nhân phải rất linh hoạt và nhạy bén khi sắp xếp
các công việc của mình, phải điều hoà đƣợc các mối quan hệ xã hội riêng rẽ của
từng vai khi mình nhập vai. Nếu không sẽ rất rễ xảy ra hiện tƣợng xung đột vai trò.
Nhiều trƣờng hợp cán bộ đi làm thêm mà lơ là, không tập trung nhiều vào công việc
ở cơ quan chính của mình, đến cơ quan theo lịch, đến cơ quan vào những dịp lĩnh
lƣơng hay có một cuộc họp nào đó. Đây chính là biểu hiện cụ thể nhất của hiện
tƣợng xung đột vai trò xét trên phƣơng diện cá nhân và hiện tƣợng chảy máu chất
xám tại chỗ xét trên phƣơng diện tổ chức. Trong điều kiện công nghệ thông tin ngày

20
càng phát triển, hiện tƣợng chảy chất xám tại chỗ lại càng dễ xảy ra với nhiều hình
thái và rất khó kiểm soát. Một cá nhân không nhất thiết phải báo cáo cơ quan là
đang hợp tác với một cơ quan khác, hay phải vắng mặt ở cơ quan để đi làm thêm
bên ngoài, mà trái lại cá nhân đó vẫn có thể đến cơ quan theo đúng quy định tám
giờ hành chính. Tuy nhiên, sự có mặt ở cơ quan không đồng nghĩa với việc cá nhân
đó làm các công việc của cơ quan mình mà họ lại làm các công việc của cơ quan

nào đó thƣờng đƣợc quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ. Bởi vậy các nhà
quản lý, hoạch định chính sách phải nắm bắt đƣợc các nhu cầu của đối tƣợng, nhóm
đối tƣợng cần quản lý, cần thu hút. Nghiên cứu về nhu cầu của con ngƣời, Abraham
Maslow đƣa ra hệ thống phân cấp các nhu cầu của con ngƣời bao gồm 5 nhóm nhu
cầu sau:
- Nhu cầu sinh lý
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu xã hội
- Nhu cầu đƣợc tôn trọng
- Nhu cầu tự khẳng định mình
Con ngƣời sinh ra đầu tiên là các nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý là những
nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ ăn, mặc, ở. Cho tới khi các nhu cầu này chƣa
đƣợc đáp ứng đủ đến mức cần thiết cho cơ thể con ngƣời hoạt động, thì phần lớn
các hoạt động của con ngƣời có lẽ sẽ ở mức này và các động cơ khác sẽ ít có động
cơ thúc đẩy.
Khi các nhu cầu sinh lý đƣợc đáp ứng, các nhu cầu an toàn trở nên trội hơn.
Những nhu cầu này chủ yếu là nhu cầu không bị đe dọa thân thể và bị tƣớc mất các
nhu cầu sinh lý cơ bản. Nếu an toàn của một cá nhân bị đe dọa thì những điều kiện
khác dƣờng nhƣ không quan trọng.
Tƣơng tự nhƣ vậy, khi các nhu cầu sinh lý và an toàn đã đƣợc thoả mãn khá
tốt thì nhu cầu xã hội sẽ xuất hiện nổi trội hơn trong cấu trúc nhu cầu. Sau khi các
cá nhân thoả mãm nhu cầu xã hội, đƣợc hội nhập, liên kết, giao tiếp, thì khi đó họ
có nhu cầu đƣợc tôn trọng. Hầu hết mọi ngƣời có nhu cầu thƣờng đánh giá cao dựa
trên cơ sở thực tế, sự nhận biết và tôn trọng từ phía những ngƣời khác. Khi các nhu
cầu đƣợc tôn trọng bắt đầu đƣợc thoả mãn đầy đủ, thì nhu cầu tự khẳng định mình
trở nên mạnh hơn. Tự khẳng định mình là nhu cầu để tăng tới mức tối đa tiềm năng
của một con ngƣời. Tự khẳng định mình là một mong muốn làm cái điều mà ngƣời
ta có thể đạt đƣợc. Cá nhân thoả mãn nhu cầu này theo các cách khác nhau. Ở ngƣời

22

23
được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình
khoa học và công nghệ.
Đề tài nghiên cứu khoa học: Là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm
phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tƣợng
hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế… đƣợc thể hiện dƣới
các hình thức: Đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển
khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển
khai thực nghiệm.
Dự án sản xuất thử (dự án SXTN): Là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ
nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm để thử
nghiệm các giải pháp, phƣơng pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất
thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trƣớc khi đƣa vào
sản xuất và đời sống.
Dự án khoa học và công nghệ (dự án KHCN): Là nhiệm vụ khoa học và công
nghệ, bao gồm một số đề tài nghiên cứu khoa học hoặc một số dự án sản xuất thử
nghiệm gắn kết hữu cơ, đồng bộ đƣợc tiến hành trong một thời gian nhất định nhằm
giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một
sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ
công nghệ của một ngành, một lĩnh vực và có ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nƣớc.
Chuyên đề khoa học: Là một vấn đề khoa học cần giải quyết trong quá trình
nghiên cứu của một đề tài, dự án KHCN, nhằm xác định những luận điểm khoa học
và chứng minh những luận điểm này bằng luận cứ khoa học, bao gồm luận cứu lý
thuyết (cơ sở lý luận) và luận cứ thực tế (là kết quả khảo sát, điều tra, thí nghiệm,
thực nghiệm do chính tác giả thực hiện hoặc trích dẫn công trình của các đồng
nghiệp khác).
Chuyên đề khoa học đƣợc phân thành hai loại dƣới đây:
- Loại 1: Chuyên đề nghiên cứu lý thuyết bao gồm các hoạt động thu thập và
sử lý các thông tin, tƣ liệu đã có, các luận điểm khoa học đã đƣợc chứng minh là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status