Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Đông Đô - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
VÀ KHU VỰC LÀM VIỆC SAU TỐT NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN NGOÀI CÔNG LẬP HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Đông Đô) Chuyên ngành: Xã hội học Nông thôn - Đô thị
Mã số: 60 - 31 - 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Vũ Hào Quang

Hà Nội - 2009

2

Trang

Danh mục các bảng biểu …………………………………
4
MỞ ĐẦU 1.
Lý do chọn đề tài
5
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……
8
3.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
17
4.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ………
18
5.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ………………… …
19
6.
Giả thuyết và khung lý thuyết
20
Chương 1:
Cơ sở lý luận nghiên cứu

32
1.2.2.
Lý thuyết tương tác xã hội
34
1.2.3.
Lý thuyết quan hệ xã hội
35
1.2.4.
Lý thuyết vị thế - vai trò
36
1.2.5.
Lý thuyết về định kiến xã hội
38
1.2.6.
Lý thuyết xã hội hóa
40
2

1.2.7.
Lý thuyết lựa chọn hợp lý
41
1.3.
Quan điểm của Nhà nước về định hướng việc làm cho
Thanh niên và Sinh viên hiện nay………………………

42
Chương 2:
Thực trạng định hướng nghề nghiệp và khu vực làm
việc của sinh viên


62
2.3.2.
Định hướng của sinh viên về khu vực làm việc sau khi tốt
nghiệp …………………………………………………

66
2.3.2.1.
Định hướng của sinh viên về khu vực Nhà nước.
66
2.3.2.2.
Định hướng của sinh viên về khu vực Liên doanh.
77
2.3.2.3.
Định hướng của sinh viên về khu vực Tư nhân.
81
2.3.2.4.
Định hướng sau khi tốt nghiệp bằng cách tự tạo việc làm
85
2.4.
Định hướng giá trị nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp của
sinh viên Đại học Đông Đô hiện nay.

93
2.4.1.
Phạm trù các giá trị xã hội nghề nghiệp của sinh viên Đại
học Đông Đô ……………………………………………

93
3


108

Kết luận

1.
Kết luận …………………………………………………
112
2.
Khuyến nghị ……………………………………………
115
1.
Về góc độ quản lý của trường
115
2.
Đối với sinh viên
116
3.
Một số dự báo …………………………………………….
117

Tài liệu tham khảo
118
Biểu 2.6:
Định hướng của sinh viên về khu vực Tư nhân sau tốt nghiệp
82
Biểu 2.7:
Tương quan giữa các khoa về định hướng khu vực làm
việc của sinh viên
83
Biểu 2.8:
Định hướng tự tạo việc sau tốt nghiệp
86
Bảng 2.3:
Tương quan giữa các khoa về định hướng tự tạo việc làm
sau tốt nghiệp
87
Biểu 2.9:
Tương quan giữa các khoa về định hướng tự tạo việc làm
sau tốt nghiệp
89
Biểu 2.10:
Đánh giá của sinh về các giá trị nghề nghiệp
94
Biểu 2.11:
Lựa chọn nơi làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp
105
Bảng 2.4:
Tương quan giữa các khoa về định hướng về nơi làm việc
của sinh viên
108

5

tố ngoại lai trong quá trình hội nhập…
Cũng như vậy, việc làm cho sinh viên khi ra trường có tầm ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển xã hội khi các tri thức trẻ có trình độ cao, đầy nhiệt
huyết tham gia vào các hoạt động của xã hội, tránh lãng phí trong đào tạo.
Như vậy, việc làm có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với sự phồn
thịnh của mỗi quốc gia. Gần đây khi bàn về vấn đề việc làm các nhà quản lý
đã nêu ra một số vấn thực tế khác có liên quan đến người lao động, đó là định
hướng nghề nghiệp cũng như tính bền vững và hiệu quả của định hướng nghề
nghiệp. Vậy định hướng nghề nghiệp liên quan như thế nào đến tính bền
vững, hiệu quả và chất lượng của việc làm, và định hướng nghề nghiệp sẽ
giúp người lao động phát huy năng lực cá nhân và tiếp cận thị trường lao
động như thế nào? Từ sự quan tâm đó chúng tôi tiếp cận tới đối tượng là
những sinh viên - một lực lượng lao động tri thức trẻ, với mục đích tìm hiểu
cách thức họ đã định hướng nghề nghiệp như thế nào?
Thực tế hàng năm số lượng sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học
trong cả nước tìm được việc làm chiếm một tỷ lệ lớn, nhưng tình trạng sinh
viên ra trường không làm đúng chuyên môn được đào tạo cũng rất phổ biến.
Lý do dẫn đến thực tế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng
một trong những nguyên nhân mà chúng tôi muốn bàn đến đó là định hướng
nghề nghiệp của mỗi cá nhân chưa dựa trên đặc điểm về đam mê và năng lực
thực sự của mỗi sinh viên,
Trong chiến lược phát triển thanh niên của Chính phủ đến năm 2010 đã
coi tình trạng thất nghiệp là vấn đề khó khăn lớn nhất hiện nay đối với Thanh
niên Việt Nam. Chiến lược Thanh niên còn đặt vấn đề lao động và việc làm ở
vị trí trung tâm trong cuộc chiến chống lại đói nghèo của Quốc gia. Không chỉ
ở Việt Nam mà tại các nước phát triển luôn coi Thanh niên là đối tượng cần
7

quan tâm đặc biệt vì việc làm của Thanh niên không chỉ tạo ra phẩm giá và
lòng tự trọng, hậu quả không có việc làm cho Thanh niên nếu kéo dài sẽ làm

khi tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập (đại diện là Đại học Đông Đô).
Hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa định hướng nghề nghiệp và
kết quả học tập của sinh viên cũng như định hướng về khu vực và nơi làm
việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp trên cơ sở phương thức đào tạo của mô
hình ngoài công lập.
Từ đó có một nhận định khách quan hơn về sự định hướng về nghề
nghiệp và khu vực làm việc của sinh viên trong hình thức đào tạo này và cũng
từ đó có hỗ trợ nhất định về định hướng nghề nghiệp và cách tiếp cận thị
trường lao động cho những sinh viên năm cuối đại học.
Tác giả đã lựa chọn đề tài: “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm
việc sau tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập” dựa trên những trăn trở
của sinh viên ngoài công lập về việc làm sau khi tốt nghiệp và nguyện vọng
của bản thân muốn làm rõ hơn những quan điểm và hành vi của sinh viên
ngoài công lập về định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp
khi họ phải đối diện với những định kiến xã hội.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Vấn đề việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp không chỉ là mối quan
tâm của các bậc phụ huynh, của chính sinh viên, của nhà trường mà còn là
vấn đề lớn đối với các nhà quản lý xã hội. Các bậc phụ huynh sau 4 - 5 năm
đầu tư cho con em ăn học hồi hộp chờ đợi kết quả của chính mình và con em
mình, nhà trường chờ thành quả đào tạo ra những hạt nhân xã hội và xem xét
xã hội đã tiếp nhận những đứa con tinh thần của mình như thế nào? Các nhà
hoạch định chính sách và quản lý xã hội trên cơ sở đó nhận định chung tình
hình cơ cấu việc làm tổ chức nhân sự
9

Một thực tế cho thấy, khác hẳn với thời kỳ trước đổi mới hiện nay các
nghiên cứu về việc làm và lao động nhận được sự quan tâm hơn của các ban
ngành, nó như là biểu hiện như tính trật tự của một tổ chức xã hội. Điều đó
được thể hiện thông qua các đề tài nghiên cứu, các bài báo, sách chuyên khảo,

Như vậy, theo Ngân hàng trên thì hai yếu tố “khả năng thích ứng” (đặt trước)
và trình độ đào tạo (đặt sau) là hai yếu tố cơ bản để cạnh tranh trong lĩnh vực
đào tạo được.
Gần đây, vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho sinh viên sau tốt
nghiệp nói riêng đã trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều đề tài cũng như các
cuộc hội thảo trong nước và đã nhận được sự quan tâm lớn của xã hội.
Ví dụ như: “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô
thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn” (Tạp chí Lao động - Xã
hội số 247 đăng từ 16 - 30/9/2004) của TS Nguyễn Hữu Dũng. Trong nghiên
cứu đó tác giải có bàn đến thực trạng chất lượng lao động và việc làm ở nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, khi mà lực lượng lao động
ngày càng dôi dư khi mà đất canh tác thì không mất dần, bên cạnh đó chất
lượng lao động ở khu vực này khó có thể đảm bảo khi tham gia vào các nhà
máy trong nghiên cứu đó cũng đã đưa ra những phương hướng và giải pháp
cơ bản để giải quyết việc làm cho đối tượng này ở nông thôn.
Trong bài viết: “Thực trạng lao động việc làm qua kết quả điều tra
1/7/2004” (Tạp chí lao động - xã hội, số 251, từ 7 - 10/11/2004), tác giả - TS.
Trương Văn Phúc đã đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực lượng
lao động ở các tỉnh, thành phố cũng như vùng kinh tế trọng điểm. Trong loạt
bài viết trên TS. Trương Văn Phúc đã đánh giá một cách khái quát những kết
quả đạt được về giải quyết việc làm cho lực lượng lao động.
11

Hiện nay, tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu trong thị trường lao động
và đào tạo vẫn là một bài toán xã hội hết sức nan giải, dẫn đến một thực tế khi
sinh viên tốt nghiệp khó tìm được việc làm, tức là học sinh vào lựa chọn nghề
theo dư luận, cảm tính chứ không dựa trên nhu cầu thực tế của xã hội. Nên
tình trạng thất nghiệp không ngừng gia tăng, tuy nhiên đến nay thì khâu định
hướng nghề nghiệp cho sinh viên vẫn chưa thực sự có một sự quan tâm cụ thể
nào. Sự mất cân đối về lực lượng lao động giữa các ngành và vùng miền đã

cũng đi sâu tìm hiểu định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên, qua đó nói
lên được thực tế lối sống, nhu cầu, nguyện vọng của tầng lớp tri thức này.
“Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” là tên cuốn sách của
tác giả Nguyễn Hữu Châu (NXB Giáo dục, HN 2007). Trong cuốn sách này
tác giả có đề cập đến xã hội hóa giáo dục và công bằng trong các mô hình
giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Xã hội hóa giáo dục là chủ trương, đường lối
đúng đắn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa chiến lược, tác động tích cực đến
sự nghiệp giáo dục. Kết quả của chủ trương đúng đắn đó là nhiều trường đại
học ngoài công lập và tư thục đã ra đời, huy động được tiềm năng và nguồn
lực lớn của xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, hơn thế nữa đã tạo
công ăn việc làm cho hàng vạn người. Tác giả Nguyễn Hữu Châu cũng cho
rằng chất lượng đào tạo ở trường đại học ngoài công lập được nâng lên từ khi
Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đề án “3 chung” và qui định điểm đầu vào
không thấp hơn điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo tác giả với
những sự đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
của hệ thống các trường đại học ngoài công lập thì cần phải có cách nhìn nhận
công bằng hơn trong giáo dục đào tạo và tuyển dụng lao động.
13

Đề tài “Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp hiện nay” của tác giả
Lê Văn Toàn (Phân Viện Báo Chí và Tuyên Truyền). Trong phạm vi của
nghiên cứu tác giả Lê Văn Toàn đã cho thấy giới tính khác nhau, ngành nghề
khác nhau thì định hướng giá trị cũng khác nhau.
Còn với đề tài “Sự bất bình đẳng trong cơ hội tìm kiếm việc làm” của
tác giả Nguyễn Mai Anh cũng có đề cập những yếu tố có ảnh hưởng đến cơ
hội việc làm như: những đặc điểm xã hội của cá nhân và gia đình, giới tính,
ngành học, quê quán,
TS. Nguyễn Thị Thơm:“Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và
giải pháp” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2006). Vấn đề việc làm và chính
sách việc làm cho người lao động là nội dung chủ yếu của cuốn sách này. Tác

hội của các loại hình đào tạo này cũng là vấn đề chính được GS.TS Bùi Văn
Nhơn bàn đến, và theo tác giả đây là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế -
xã hội. Trong “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” đã đưa ra một số
yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm cho người lao động, tình trạng thiếu
việc làm nghiêm trọng còn do chậm đổi mới tư duy trong giải quyết việc làm
như những vấn đề về quan niệm, Trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước
ta hiện nay theo GS.TS Bùi Văn Nhơn tạo việc làm cho người lao động với
quan điểm sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội, có quan niệm đúng đắn
về việc làm và tự tạo việc làm là những việc hình thức hiệu quả hơn cả.
TS. Vũ Thị Mai: “Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong
quá trình đô thị hóa Hà Nội” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2007). Tác giả
nêu thực trạng việc làm của người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô
thị hóa và các giải pháp tạo việc làm cũng như kinh nghiệm của các nước
trong khu vực về tạo việc làm cho người lao động. Theo TS. Vũ Thị Mai,
nguời lao động muốn có việc làm phù hợp, có thu nhập cao thì đương nhiên
15

phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho sức lao động của mình, tức là phải
tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, các tổ chức xã hội để
được đào tạo, trau dồi kiến thức, phát triển và nắm vững một nghề nghiệp
nhất định - đây là điều kiện cần thiết cho người lao động khi tham gia vào thị
trường lao động.
Thực tế những bài báo và công trình nghiên cứu đó đã cho thấy cơ cấu
lao động và việc làm, sự biến đổi các cơ cấu đó trong các thời kỳ khác nhau,
cũng qua đó các tác giả đã đưa ra những nhận định có sự thay đổi nhất định
về nhận thức trong việc làm và lao động, điều đó cũng tương đồng với chủ
trương của Đảng đó là xu hướng tự tạo việc làm cho bản thân. Tuy nhiên quan
niệm làm việc trong các cơ quan nhà nước vẫn còn in sâu trong nhận thức
của nhiều lao động hiện nay. Bằng mọi cách sinh viên sau khi tốt nghiệp tha
thiết được làm việc trong môi trường ổn định, thậm chí nhiều lao động sau

tìm kiếm việc làm, điều đó được thể hiện qua việc nỗ lực trong học tập để có
được điểm số cao, hy vọng với điểm số đó sẽ làm giảm bớt áp lực ngoài công
của chính sinh viên và khi đi nộp hồ sơ tuyển dụng thì nhà tuyển dụng sẽ
không gạt ra ngoài
Bên cạnh những vấn đề có liên quan đến chất lượng dạy và học của các
trường Đại học Ngoài công lập thì bộ máy tổ chức và điều hành của các
trường ngoài công lập cũng là một vấn đề có ảnh hưởng đến hình ảnh của các
trường Đại học ngoài công lập. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phải tổ chức một
hội nghị nhằm đánh giá thực trạng các trường ngoài công lập, qua đó cho thấy
đã tồn tại rất nhiều vấn đề còn bất ổn. Một trong những vấn đề còn tồn tại ở
hệ thống ngoài công lập là cơ sở vật chất chưa đủ điều kiện để sinh viên học
tập, hệ thống thư viện nghèo nàn, công tác nghiên cứu khoa học chưa được
17

chú trọng. Tất cả những vấn đề trên đã gây ra những thiệt thòi đáng kể cho
sinh viên ngoài công lập, và như vậy khi họ ra trường họ cũng vẫn phải đáp
ứng những nhu cầu chung của nhà tuyển dụng mới thấy sự nỗ lực của sinh
viên ngoài công lập là rất đáng trân trọng, Bên cạnh những khó khăn về cơ
sở vật chất, thì tình trạng thiếu giảng viên cũng gây nên những thiệt thòi nhất
định cho sinh viên ngoài công lập, khi mà những giảng viên thỉnh giảng biên
chế tại một trường đại học khác nên mọi thời gian và tâm huyết dành cho nơi
thỉnh giảng cũng hạn chế hơn. Theo thông tin của Vụ Đại học và sau Đại học
thì tỷ lệ giảng viên cơ hữu của các trường ngoài công lập còn rất thấp, có
trường chỉ đạt 15 % trên tổng số giảng viên, có những trường chỉ có trên dưới
50 giảng viên cơ hữu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng
dạy và mở rộng ngành nghề. Theo ông Bành Tiến Long thì có những giảng
viên đứng tên ở 4 - 5 trường đại học khác nhau. (Hội nghị đánh giá thực trạng
các trường ngoài công lập trên cả nước, ngày 31/7/2007, lần thứ nhất, do Bộ
Giáo Dục và Đào tạo tổ chức). Qua đó cho thấy bản thân giảng viên cũng
không có đủ quĩ thời gian để nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên

3.2. Khách thể nghiên cứu:
- Sinh viên năm cuối đại học Đông Đô
- Một số là sinh viên tốt nghiệp đại học Đông Đô và đã có việc làm.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Tiến hành khảo sát tại trường đại học:
+ Đại học Đông Đô
- Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2008.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Phương pháp luận:
19

Đề tài của luận văn thực hiện các nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng để nhận thức và giải thích hiện tượng xã hội, nguyên
tắc lịch sử luôn được quan tâm và vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
4.2.1. Phương pháp chọn mẫu:
- Cơ cấu giới tính:
Giới tính
Số lượng
Tỷ lệ
Nam
147
56,1%
Nữ
115
43,9%
Tổng số
262
100.0%

+ Những yếu tố để quyết định lựa chọn ngành học hiện nay.
+ Định hướng nghề nghiệp.
+ Định hướng về khu vực và nơi làm việc.
+ Những lý do để tìm việc làm ở Hà Nội.
+ Các giá trị của việc làm.
4.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
+ Tiến hành phỏng vấn sâu 25 sinh viên năm cuối và 15 sinh viên đã tốt
nghiệp có việc làm.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu định hướng nghề nghiệp trước khi thi đại học và định hướng
nghề nghiệp sau khi học tập từ năm thứ nhất và năm thứ 4.
- Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc của sinh viên Đại học
Đông Đô.
- Tìm hiểu định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp
của sinh viên Đại học Đông Đô.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích đã đưa ra ở trên, nhiệm vụ đề tài được xác
định là:
- Làm rõ những lý do mà sinh viên định hướng ngành học hiện nay.
- Nguồn gốc xã hội của gia đình có tác động như thế nào tới định
hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp.
- Tìm hiểu quan điểm của sinh viên về định hướng nghề nghiệp sau tốt nghiệp.
- Xu hướng về khu vực và nơi làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp.
21

- Năng lực học tập có tác động như thế nào tới việc khu vực làm việc
sau tốt nghiệp của sinh viên.
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp Nhà trường và sinh viên xác
định ý nghĩa của định hướng nghề nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo

tạo
việc
làm
Nhà
nước

nhân
Thàn
h thị
Nông
thôn
Sở
thích
Liên
doan
h
Ổn
định
Đúng
chuyê
n môn
Thu
nhập
cao
Khung lý thuyết

hội
coi
trọng
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status