A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây chúng ta đang đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học theo chương trình cải cách giáo dục lấy học sinh làm trung tâm,
giáo viên là người hướng dẫn học sinh tìm hiểu, đó là hình thức học rất hay và
thông minh tạo cho các em hứng thú học tập cao hơn so với chương trình học
trước đây. Vì vậy làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy và học là yêu
cầu cấp thiết của ngành giáo dục hiện nay, đặc biệt là các trường nằm trong hệ
Giáo dục thường xuyên, làm sao đó đáp ứng được mục tiêu của ngành về công
tác phổ cập giáo dục trong nhân dân, đáp ứng nhiệm vụ của ngành giáo dục đề
ra, đưa đất nước phát triển tiến kịp với các nước trong khu vực. Có nhiều yếu tố
và biện pháp để nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục. Gây hứng thú là một
biện pháp quan trọng trong việc dạy và học lịch sử hiện nay vì biện pháp này nó
thể hiện trên các mặt tư tưởng tình cảm, nhận thức và hành động trong các hoạt
động dạy và học, song sự hứng thú trong nhận thức không phải là sự ngẫu hứng,
tuỳ thích mà là sự định hướng có lựa chọn, nhằm mục đích nắm vững kiến thức
học tập một cách sâu sắc và toàn diện đồng thời giúp người học biết vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống.
Ở bài viết này tôi xin giới thiệu một vài kinh nghiệm trong việc dạy và
học. Đó là “ Phương pháp gây hứng thú học tập môn lÞch sử lớp11, qua khắc hoạ
sâu sắc biểu tượng nhân vật Lịch sử ”, để nâng cao nhận thức và chất lượng giáo
dục của bộ môn lịch sử hiện nay. Đặc biệt trong hệ thống các trường Trung tâm
Giáo dục thường xuyên hiện nay.
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ
TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY.
Trong hệ thống các trường Trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện nay nói
chung và các trường học khác trong hệ thống giáo dục nói chung như (THCS,
THPT) hầu như học sinh không còn ham thích học bộ môn lịch sử, việc này có
1
rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản làm cho các em nhàm chán vì
yêu cầu của giáo viên bắt các em nhớ qúa nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử
phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn nên chưa gây cho học sinh hứng thú
thực sự để nâng cao chất lượng bộ môn, trong khi nhà trường hiện nay vẫn còn
thiếu nhiều phương tiện dạy học như: băng đĩa Video, bản đồ tranh ảnh lịch sử,
tư liệu tranh ảnh về các nhân vật lịch sử
Với những lý do trên và qua nhiều năm dạy học Lịch sử 11 tôi xin nêu kết
quả học tập bằng thống kê kết quả học sinh ở năm học 2010- 2011 với số lượng
học sinh yếu kém còn nhiều, số lượng học sinh khá, giỏi ít:
Năm học
Giỏi Khá TB Yếu - kém
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
2010-2011
(lớp 11)
3 3.0 20 22 55 61 11 14
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
đại của nó và nếu không có những con người như thế thì…thời đại sáng tạo ra
con người ”.
Trong chương trình và nội dung bài học lịch sử thế giới lớp 11 có nhiều
nhân vật lịch sử tiêu biểu cho cả thế giới và Việt Nam. Vậy nên, khi lên lớp giáo
viên cần phải chú ý khắc sâu các biểu tượng nhân vật lịch sử đó trong giờ dạy
nhằm gây sự hứng thú học tập cho các em, đồng thời việc khắc sâu các biểu
4
tượng nhân vật lịch sử trong giờ dạy không những giúp các em khắc sâu được
kiến thức mà cụ thể là các sự kiện lịch sử quan trọng trong bài học mà còn giáo
dục các em học tập, noi gương những đức tính tốt đẹp của các nhân vật lịch sử
bấy giờ để rút ra được bài học cho bản thân của các em trong cuộc sống cũng
như khi vào đời.
Trong chương trình và nội dung sách giáo khoa lịch sử lớp 11 (phần lịch
sử thế giới) hiện hành có trên 20 nhân vật lịch sử, những biểu tượng nhân vật
lịch sử mà giáo viên cần phải khắc sâu đó là những “vĩ nhân” lịch sử như: Ô-li-
vơ Crôm-Oen (nhà lãnh đạo Cách mạng tư sản Anh); Rô-bex-spi-e (nhà lãnh đạo
Cách mạng tư sản Pháp); Oa-sinh-tơn (nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc
lập ở Bắc Mỹ); Mông-tex-ki-ơ; Rút-xô; Vôn-te… (các nhà tư tưởng, triết học
ánh sáng lớn ở Châu Âu thế kỷ XVIII); C.Mác; Ăng-ghen (các nhà lãnh đạo cách
mạng vĩ đại trong phong trào công nhân quốc tế ); Lê-nin (Vị lãnh tụ vĩ đại Cách
mạng tháng Mười Nga); V.A.Mô-Za; Bét-thô-ven; Sô-panh (các nhạc sĩ nỗi
tiếng thế giới ở thế kỷ XVIII) ; Giêm-oát; Niu-tơn; Đác-uyn…(các nhà phát
minh khoa học). Các nhà lãnh đạo cách mạng trong phong trào giải phóng dân
tộc ở Châu Á như: Ti-Lắc (Ấn Độ); Áp-đun-ra-man (Mã Lai); A.Xu-các-nô (In-
đô-nê-xi-a)… và một số nhân vật lịch sử khác.
Phần lịch sử Việt Nam có nhiều nhân vât lịch sử nổi tiếng gắn với quá
trình đấu tranh xâm lược, đặc biệt phong trào chống Pháp của nhân dân ta trong
những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như Nguyễn Tri Phương, Trương
Định, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Nguyễn
Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu
định cho được những đặc điểm, hình dáng…của nhân vật lịch sử, rồi khắc hoạ
cho học sinh nắm được, nhằm gây hứng thú học tập cho các em. Theo tôi được
phân ra nhiều biện pháp sau:
6
2.1 Trước hết giáo viên cần phải khắc sâu hình dáng nhân vật lịch sử
Mỗi nhân vật lịch sử đều có một hình dáng, tác phong riêng của mình. Nếu
thầy cô giáo chỉ giới thiệu sơ lược cho học sinh về hình dáng nhân vật qua hình
ảnh trong SGK cung cấp thì các em không có cảm nhận về nhân vật đó và không
có tác dụng giáo dục cao, mà kinh nghiệm cho thấy là, khi dạy đến nhân vật lịch
sử, giáo viên phải giới thiệu một vài đặc điểm về hình dáng nhân vật, khắc sâu
hình dáng riêng, đặc điểm riêng để các em dễ làm quen, dễ hiểu biết và nhớ lâu
về nhân vật đó, để dễ so sánh với các nhân vật lịch sử khác trong quá trình học.
Để từ đó chúng ta đánh giá được ngay con người ấy qua từng hình ảnh sinh động
riêng mà giáo viên cần phải là người hướng dẫn tìm lối đi cho học sinh.
Qua quá trình dạy và áp dụng biện pháp này, bản thân có 3 sáng kiến xử lý
như:
a) Có nhân vật lịch sử chúng ta cần phải mô tả một số nét chân dung
nhằm mục đích giúp học sinh biết kỹ và hiểu sâu sắc về nhân vật đó.
Ví dụ: Khi dạy bài 1 “Nhật Bản” (SGK), Ở mục 2: “Cuộc Duy Tân Minh
Trị” giáo viên sử dụng hình 1 SGK và cho học sinh quan sát về Thiên Hoàng
Minh Trị (1852 - 1912). Vì trong SGK chỉ có tranh mà không có một tư liệu nào
nói về nhân vật này, trong khi đó vua Minh Trị có vai trò rất lớn đối với nước
Nhật đó là tiến hành cải cách trên mọi lĩnh vực những năm 60 của thế kỷ XIX,
đưa đất nước Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành một nước tư bản rồi
tiến lên trở thành một đế quốc hùng mạnh ở Châu Á và đi xâm lược các nước
khác trên thế giới (đặc biệt là tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -
1918). SGK không miêu tả hình dáng Minh Trị, nếu giáo viên chỉ đưa ảnh trong
SGK cho học sinh xem thì không có ý nghĩa gì, mà giáo viên cần phải vừa cho
các em xem ảnh (nếu photo càng tốt) vừa giới thiệu cho học sinh thấy rõ Vua
Minh Trị (Mutsôhitô) là một người trẻ tuổi lên ngôi năm 1867 lúc đó ông mới 15
được sinh ra trong một gia đình tư sản lớn ở Thượng Hải. Cha của Tống Khánh
Linh là Tống Giá Thụ một mục sư đạo cơ đốc đã từng học ở Mĩ, lại cũng là một
gia đình cách mạng dân chủ. Tôn Trung Sơn phát động cuộc chiến tranh chống
Viên Thế Khải bị thất bại, đầu tháng 8/1913 phải chạy sang Nhật. Lúc này Tống
Khánh Linh vừa tốt nghiệp Đại học, trên đường về nước có ghé qua Nhật Bản,
bà nghe nói Tôn Trung Sơn đang tìm một người thư ký liền đến xin làm không
một chút do dự. Tống Khánh Linh hết sức giúp đỡ Tôn Trung Sơn làm việc. Bà
đảm nhiệm mọi công việc chỉnh lý văn kiện, xử lý điện mật hai người đều có
sức cuốn hút lẫn nhau vì đều có chung mục tiêu cách mạng, cùng có lòng yêu
nước nồng nàn đã giúp nhau trong khó khăn gian khổ và bắt đầu lặng lẽ yêu
nhau. Và một năm sau hai người đính hôn với nhau, gia đình Tống Khánh Linh
không chấp nhận, cho rằng cuộc kết hôn này không thích hợp và đủ lý do khác
nhưng Tống Khánh Linh không hề giao động, bà nói rằng bà chỉ sung sướng khi
được làm việc với Tôn Trung Sơn và bà quyết tâm đi Nhật. Ngày 25/10/1915
Tống Khánh Linh kết hôn với Tôn Trung Sơn.
Hoặc với Tổng thống Rurơven bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới” (1918 – 1939); Gan-đi, Mao Trạch Đông trong bài 15: “Phong
trào cách mạng Trung Quốc và Ấn Độ”; Xucácnô bài 16: “Các nước Đông Nam
Á giữa hai cuộc chiến tranh” (1918 - 1939) giáo viên cũng lần lượt mô tả hình
dáng của các ông thật sâu sắc gây cảm xúc cho học sinh qua chân dung trong
sách giáo khoa, gây cho học sinh có những ấn tượng khó quên về các bậc lãnh tụ
đó.
9
b) Có những nhân vật lịch sử cần mô tả về phong thái và đặc điểm chung
Giáo viên không thể đặc tả tỉ mỉ chi tiết từng nhân vật lịch sử, nhưng cũng
không vì vậy mà bỏ đi hoặc lướt qua. Do đó giáo viên có thể lược tả chung
chung nhưng vẫn nêu được đặc điểm đáng ghi nhớ và vẫn phải đạt được yêu cầu
là qua đặc tả phong thái và một vài nét chung đó có thể làm cho học sinh thấy
được phẩm chất của nhân vật lịch sử đó.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 7: “Những thành tựu văn hoá thời cận đại” đã giới
luyện tập dương cầm.
Năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản
Concerto cung trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai.
Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và
bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác.
Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 1803-1805 vượt
trội hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803)
viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn
hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi
Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano,
Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao
11
hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuật lớn lao. Ông muốn lột tả
trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức
mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở
Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa
bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau
thương.
Từ đó giáo viên có thể so sánh Betthoven với MôZa là hai nhà âm nhạc
thiên tài của thế giới đã để lại cho đời những tác phẩm âm nhạc bất hủ đến bây
giờ vẫn còn được nhiều người yêu thích dòng nhạc cổ điển này.
Nhà toán học Tago (1861 - 1941), Hô-xê Mác-tin (1823 - 1893) sang
mục “ Trào lưu tư tưởng tiến bộ ” ( trang 41 SGK ) hình 20 có chân dung của
Hê-ghen (1770- 1830), đối với nhân vật lịch sử này giáo viên đặc tả cho học sinh
thấy được phong thái suy tư sâu rộng qua vẻ mặt của Hê-nghen một con người
luôn suy tư nghiên cứu về triết học một ngành khoa học đầy lý luận trong lịch sử
xã hội loài người bấy giờ.
Ví dụ 2: Cũng trong bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
(1918 - 1939)” để khắc sâu hình ảnh tổng thống Rurơven (Hình 36- SGK) giáo
viên giới thiệu hình ảnh đáng ghi nhớ, vị tổng thống xuất sắc của nước Mĩ bấy
Với cách giới thiệu đó có thể gây hứng thú cho các em làm cho các em
nhớ mãi về những nhân vật xuất sắc này bằng cách đưa bức chân dung của ông
13
cho học sinh xem và có thể so sánh các nhân vật thiên tài âm nhạc với nhau. Mặc
dù SGK không có tranh ảnh của các nhà âm nhạc này.
c) Chọn một vài nét về hình dáng của con người
Để minh hoạ nhắm khắc sâu hình ảnh của nhân vật lịch sử vào trong trí
nhớ của học sinh, giáo viên cần phải biết cách kết hợp các tư liệu khác để hoàn
thiện mục đích bài học của mình.
Vì vậy, làm sống lại nhân vật lịch sử đó trước mắt của các em. Chúng ta
có thể sử dụng kho tư liệu trên các trang Wed liên quan đến giảng dạy như
violet là thư viện giáo án điện tử bổ ích trong việc sử dụng các phương tiện hiện
đại trong dạy học lịch sử, như dạy trên Powerpoint, Violet. Giáo viên có thể sưu
tầm tranh, ảnh các nhân vật lịch sử liên quan đến bài dạy với việc in, phô tô ảnh
cỡ lớn hoặc sử dụng trong trình chiếu sẽ có tác dụng rất tích cực.
2.2) Chọn lọc những hoạt động tiêu biểu hay sự nghiệp của nhân vật để
khắc sâu kiến thức cho học sinh.
a) Một nhân vật lịch sử bao giờ cũng có một sự nội dung bài học lịch sử
ngoài những nhân vật chính diện, còn có một số nhân vật phản diện như : Hít-le
(bài “Nước Đức giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới”). Đối với những nhân vật
này giáo viên không cần hình ảnh hay chân dung để minh hoạ, mà cần khắc hoạ
bằng lời nói với những lời lẽ hết sức lôi cuốn. Vì đây là nhân vật phản diện.
Ví dụ: Giáo viên có thể mô tả vài nét về Hít-le có gương mặt hiểm hóc,
hiếu chiến thể hiện là một tên trùm phát-xít. Ông sinh năm 1889 tại nước Áo gần
biên giới nước Đức. Bố y là thợ đánh giầy, thuở nhỏ Hitle học kém hay bỏ học,
khi bố mẹ mất, Hitle lưu lạc đến thủ đô Viên làm nghề như quét tuyết, đập thảm,
vận chuyển hành lý để kiếm sống. Năm 1913 Hitle đi lính ở Đức, 1917 y được
phong hàm hạ sĩ. Sau chiến tranh y làm mật thám cho Bộ Chính Trị Lục Quân
Đức. Năm 1919 y ra nhập Đảng công nhân Đức. Năm 1920 y công bố 25 điểm
của Đảng gọi là chủ nghĩa xã hội, sau đó y đổi tên thành Đảng Quốc Xã để tuyên
( Mục 2: “Chiến tranh Bắc phạt (1926-1927) và cuộc chiến Quốc cộng 1927 –
1937” SGK Lớp 11), chúng ta muốn khắc sâu nhân vật lịch sử Mao Trạch Đông
cho học sinh nắm vài đặc điểm của nhân vật này, trong sách giáo khoa không có
giới thiệu gì về Mao Trạch Đông mà chỉ nêu rằng “ Để bảo toàn lực lượng,
10/1934 Hồng quân công nông phải tiến hành cuộc phá vây, rút khỏi căn cứ địa
cách mạng, tiến lên phía bắc, trong lịch sử gọi là cuộc “Vạn lý trưòng chinh”.
Trên đường trường chinh tại hội nghị Tân Nghĩa (tỉnh Quý Châu) tháng 1/1935,
Mao Trạch Đông trở thành người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Và hình
39- SGK chụp ảnh Mao Trạch Đông trên đường Vạn Lý trường chinh. Nếu trình
bày như vậy thì học sinh không biết Mao Trạch Đông là ai và sao lại được quyền
lãnh đạo Đảng Cộng Sản? dẫn đến kiến thức nông cạn, không gây hấp dẫn cho
các em bằng cách giáo viên giới thiệu mâu thuẫn cụ thể giữa chính quyền Tưởng
Giới Thạch (cụ thể là Quốc Dân Đảng) và Đảng Cộng Sản để học sinh thấy được
với mâu thuẫn đó không thể không xảy ra cuộc chiến tranh giữa hai Đảng, một
bên đại diện quyền lợi cho nhân dân, một bên đại diện cho giai cấp tư sản đứng
sau hỗ trợ là Mĩ. Giáo viên trình bày cho học sinh thấy lịch sử Trung Quốc lúc
này không phải yêu cầu một nhân vật đứng đầu chỉ huy một sự chuyển biến
chung chung, mà là yêu câù một nhân vật lịch sử cụ thể để lãnh đạo Đảng Cộng
Sản tiến hành một cuộc chiến tranh và cuộc nội chiến để bảo vệ nhân dân. Với
cách trình bày như vậy thì chúng ta đã khắc sâu được nhân vật lịch sử Mao Trạch
Đông và giúp các em khắc sâu được kiến thức của bài học lịch sử ngay tại lớp.
Thậm trí giáo viên còn phải cung cấp thêm tư liệu về vị lãnh tụ này như: Mao
Trạch Đông sinh ra trong một gia đình nông dân ở Hồ Nam. Sau 1911 ông tham
gia vào Cách mạng ở Hồ nam. Năm 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành
công đã ảnh hưởng tới việc tiếp thu chủ nghĩa Mác Lê-nin của ông. Năm 1920
ông thành lập tổ cộng sản ở Hồ Nam. Năm 1921 ông thành lập Đảng Cộng Sản
Trung Quốc ở Thượng Hải. Năm 1923 ông được bầu làm uỷ viên Ban chấp hành
trung ương Đảng cộng sản trung Quốc. Năm 1934 ông tham gia “Vạn lý trường
16
chinh”, chuyển quân đội cách mạng lên miền Bắc để thấy được sự đi lên của
bản Hiến pháp 1787, nhằm biến Hoa Kì từ một liên bang nhiều quốc gia thành
một quốc gia liên bang. Sau khi Hiến pháp được phê chuẩn năm 1788, Oasinhtơn
được bầu làm tổng thống. Năm 1793, ông là người chủ trương không tham gia
vào liên minh các nước Châu Âu chống Cách mạng.
b) Một số tình huống xuất hiện những nhân vật lịch sử: trong các bài học
thuộc chương III trong SGK “ Châu Á ở thế kỷ XVIII - Đầu thế kỷ XX” ví dụ học
về Cách mạng Trung Quốc có lãnh tụ Tôn Trung Sơn, Cách mạng Pháp, cách
mạng Ấn Độ có lãnh tụ Ti-Lắc, hoặc bài “ Châu Á (1918 – 1945)” có lãnh tụ
M.Gan-đi (1869 – 1948), Cách mạng ở Mã Lai có lãnh tụ Áp-đun Ra-man, Cách
mạng In-đô-nê-xi-a có nhà cách mạng A.Xu-các-nô … như vậy cuối thế kỷ XIX
và những năm đầu của thế kỷ XX yêu cầu lịch sử đặt ra cho mỗi quốc gia nhiệm
vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp giành độc lập dân tộc, lúc này mâu
thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân ngày càng sâu sắc, nên các
nhân vật lịch sử đó xuất hiện và đã giải quyết được mâu thuẫn đó theo yêu cầu
của lịch sử .
Phần lịch sử Việt Nam chúng ta cần khắc sâu những nhân vật lịch sử có
vai trò quan trọng với tiến trình lịch sử dân tộc như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành. Những nhân vật
lịch sử trên tạo dấu ấn trong phong trào cứu nước đầu thế kỉ XX.
Ví dụ: Ở bài 30 mục II có mục 3 về hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau
khi ra đi tìm đường cứu nước. Đây là mục quan trọng của tiết học và cũng là
bước đánh dấu hướng đi mới của người so với các bậc tiền bối. Giáo viên cho
học sinh xem ảnh :
18
rồi khắc sâu thân thế của người, hoàn cảnh gia đình bối cảnh đất nước và việc
lựa chọn hướng đi mới của người là phương Tây, muốn đánh Pháp phải hiểu biết
về nước Pháp Giáo viên có thể kể câu chuyện về Nguyễn Tất Thành và người
bạn lúc ra đi để thấy được quyết tâm và nghị lực của người, của một bậc vĩ nhân
sau này. Giáo viên có thể đọc một đoạn thơ:
sư… hoặc có thể kích thích tâm lý học tập cho các em giáo viên có thể cho học
sinh biết thêm về nhà lãnh đạo cách mạng Ấn Độ, Ti-Lắc vừa là lãnh đạo phái
cấp tiến chống thực dân Anh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vừa là một nhà sử
học thông thái, nhà ngôn ngữ học danh tiếng .
Các nhân vật lịch sử trong phần lịch sử Việt Nam có vai trò rất quan trọng
với phong trào chống Pháp trong thời kì này.
Vua Hàm Nghi trong bài 21 “ Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân
dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX” có thể khái quát như sau:
Vua Hàm Nghi là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là em ruột của vua Kiến Phúc
(tức vua Đồng Khánh). Sau khi vua Tự Đức qua đời 1883, trước thời Hàm Nghi
cả ba vua Dục Đức, Hiêp Hòa, Kiến Phúc lên nối ngôi, nhưng khi vua Kiến Phúc
đột ngột qua đời trong lúc tình hình đang có lợi cho phái chủ chiến trong triều
đình. Cuối cùng Tôn Thất Thuyết đã chọn Ưng Lịch là người nối ngôi vì vua ủng
20
hộ lập trường chống Pháp. Năm 1884 Ưng Lịch lên ngôi lấy niên hiệu là Hàm
Nghi và cùng phái chủ chiến tiến hành phát động phong trào Cần Vương….
Lúc bấy giờ trong phong trào Cần Vương còn có nhân vật điển hình và
được nhiều người biết đến đó là Nguyễn Tri Phương, quê ông ở xã Chánh Lộc
-Huyện Phong Điền-Tỉnh Thừa Thiên, xuất thân trong một gia đình làm ruộng
nghề thợ mộc, nhà nghèo không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập
ông đã làm nên nghiệp lớn. Năm 1832 ông được sung làm phái bộ sang Trung
Quốc về việc thương mại. Năm 1835 ông nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia
Định cùng Trương Thanh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Việc thành
công ông được phong làm thị lang. Đến năm 1845 Khâm sai quân thứ đại thần
Trấn Tây hàm Tòng Hiệp Biện Đại Học Sĩ rồi được thưởng danh hiệu “ An Tây
chí dũng tướng” năm 1847. Sau đó ông được sung chức khâm sai ở Gia Định,
Biên hòa ,Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên…
Chúng ta có thể khái quát vài nét về Phạm Bành (1830-1887) người làng
Trương Xá nay thuộc xã Hoa Lộc - Hậu Lộc - Thanh Hoá, đậu cử nhân năm
1864, từng làm án sát Nghệ An. Đinh Công Tráng (1835-1887) quê Thanh Liêm
chất lượng dạy và học là điều rất cần thiết, nhưng người thầy, người cô không vì
thế mà tham lam chồng chất nhiều kiến thức để phủ lên bộ nhớ các em, cuối
cùng làm cho các em không nhớ gì lại đâm ra chán học. Do đó muốn đạt được
mục đích trên thầy cô giáo phải biết chọn lọc tức là giản và tinh chứ không phải
nhiều số lượng là quyết định được sự tiếp thu kiến thức của học sinh và gây hứng
thú cho các em học tập tốt bộ môn lịch sử .
Muốn có được như vậy người giáo viên phải tích luỹ nhiều tư liệu lịch sử
có nhiều kiến thức lịch sử chi tiết và phong phú nhưng sống động, biết kết hợp
nhuần nhuyễn giữa các phương pháp tâm lý học để vận dụng tốt kiến thức vào
bài giảng đúng lúc đúng nơi, đúng nội dung yêu cầu của bài, ngoài ra giáo viên
còn phải biết kết hợp khai thác giữa kiến thức trong sách giáo khoa với kiến thức
22
ngoài sách giáo khoa, kết hợp lời nói truyền cảm với chân dung hay hình ảnh của
nhân vật lịch sử, biết so sánh đối chiếu giữa các nhân vật lịch sử nhằm nâng cao
giá trị nhận thức cho các em.
Để đạt được mục đích trên, người giáo viên phải mất nhiều công sức như
sưu tầm tài liệu, tranh ảnh của từng nhân vật lịch sử mà trong tiết dạy yêu cầu,
biết chọn lọc, kết hợp đưa những kiến thức ngoài sách giáo khoa vào bài giảng
đúng phương pháp dạy học mà bộ môn yêu cầu. Tất cả việc làm trên mặc dù tốn
nhiều thời gian và sức lực nhưng khi đạt được mục đích yêu cầu của bài học đề
ra trong một tiết học trên lớp 45 phút ngắn ngủi thì người giáo viên như tôi cảm
thấy nhẹ nhỏm, quên đi mệt mỏi lo âu, làm cho học sinh hứng thú, phấn khởi học
tập sau một giờ lên lớp công phu của giáo viên và học sinh. Đó là sự nổ lực của
cả tập thể giáo viên và học sinh trong một tiết học.
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện
Trong dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, người giáo viên
phải biết khéo léo tổ chức việc khắc hoạ sâu sắc hình ảnh nhân vật lịch sử, nhằm
nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh, có tác dụng rất lớn trong việc gây
hứng thú học tập cho học sinh, đây là việc cần phải làm của giáo viên, vì có hứng
thú học tập, rung cảm của người học nhất là học sinh Trung tâm GDTX, là đối
Ví dụ 1: Ở bài 7 “ Những thành tựu văn hoá thời cận đại”, giáo viên có
thể ra câu hỏi (dạng tự luận) : Em hiểu biết gì về các nhân vật Xanh Xi-Mông,
Phu-ri-ê, Ô-oen ? ( Sách bài tập lịch sử tác giả Trịnh Đình Tùng … Nhà xuất bản
giáo dục năm 2007), để khắc sâu hình ảnh nhân vật lịch sử này tôi còn kèm theo
câu hỏi sau : Nhân vật Xanh-Xi-Mông, Phu-ri-ê, Ô-oen có liên quan đến sự kiện
lịch sử quan trọng nào trong “Cách mạng tư sản Pháp 1789” ?
Ví dụ 2: Ở bài 15 “Phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ấn Độ (1918-
1939)”.
24
Để nắm lại những kiến thức đã học về nhân vật lịch sử Mao Trạch Đông
ông đã có vai trò gì trong cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng
Sản? Giáo viên có thể ra đề dưới dạng điền thế vào ô trống để học sinh dễ nhớ về
nhân vật này.
Ví dụ 3 : Ở bài 3 “ Trung Quốc”
Để đánh giá kiểm tra việc tiếp thu kiến thức về nhân vật lịch sử Tôn Trung
Sơn nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc với phong trào Cách mạng Tân Hợi
năm 1911. Giáo viên có thể ra đoạn văn ngắn để học sinh nhận biết và nhận xét
nhân vật lịch sử như sau: Em hãy cho biết đoạn tiểu sử sau đây nói về nhân vật
nào? em hãy nhận xét về nhân vật lịch sử đó? “ Ông là nhà cách mạng dân chủ
Trung Quốc, lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ triều đình phong kiến nhà
Mãn Thanh và thiết lập nhà nước Trung Hoa dân quốc … Ngày 24 tháng 12
năm 1911, Ông về nước và được cử làm Tổng Thống của chính phủ Trung ương
lâm thời. Ngày 1-1-1912 Ông nhận chức tại Nam Kinh và tuyên bố thành nước
Trung hoa dân quốc.
Ngày 13 tháng 2 năm 1912, để lôi kéo phái quân phiệt, ông từ chức để
Viên Thế Khải lên thay. Sau đó Viên Thế Khải phản bội, ông lại tập hợp lực
lượng các tỉnh phía Nam để chống lại. Tháng 8 năm 1912 ông hợp tác với Đảng
Cộng Sản Trung Quốc để bổ sung cho chủ nghĩa Tam dân thêm ba nội dung
nữa: liên minh với Liên Xô, liên minh với Đảng Cộng Sản và dựa vào công
nông.