Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên
cứu khảo sát tình hình thực tế tại đơn vị thực tập và dưới sự hướng dẫn khoa
học của T.S Phan Thị Anh Đào. Các số liệu trong Khóa luận là hoàn toàn
trung thực.
Ngày 30 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Hoàng Thị Dung
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K1
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
MỤC LỤC
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K1
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ:
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K1
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Diễn giải
1 BHXH Bảo hiểm xã hội
2 BHYT Bảo hiểm y tế
3 CCDC Công cụ dụng cụ
4 CP SXC Chi phí sản xuất chung
5 CPSX Chi phí sản xuất
6 ĐVT Đơn vị tính
7 K/C Kết chuyển
8 TSCĐ Tài sản cố định
9 KPCĐ Kinh phí công đoàn
10 NVL Nguyên vật liệu
được chủ động về sản xuất kinh doanh (mặt hàng, qui trình sản xuất, thị trường tiêu
thụ…) nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn: những biến động của thị trường
trong nước và quốc tế, sự cạnh tranh gay gắt, sự hạn hẹp về vốn và kỹ thuật…Tình
hình trên khiến doanh nghiệp phải tính toán phải làm thế nào để đẩy mạnh sản xuất
và kinh doanh có lãi. Doanh nghiệp thật không dễ để tự tiện tăng giá hàng bán do
không được người tiêu dùng chấp nhận. Do đó tất yếu để tăng lợi nhuận và tăng khả
năng cạnh tranh, doanh nghiệp cần tiết kiệm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm,
quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, doanh nghiệp phải có những biện pháp sử dụng
hợp lý vật tư, lao động, tiền vốn, thiết bị máy móc…
Để có thể đánh giá đúng và chính xác tình hình thực hiện kế hoạch tiết kiệm
chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác tập
hợp chi phí sản xuất tạo điều kiện tình đúng, tính đủ giá thành sản phẩm. Chỉ tiêu
giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định kết quả xác định kết quả kinh doanh, xác
định mức tích lũy của doanh nghiệp. Như vậy có thể nói tiết kiệm chi phí hạ giá
thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn đối với việc tích lũy của doanh nghiệp, nâng cao
đời sống của người lao động, củng cố thế mạnh và đẩy nhanh sự phát triển của
doanh nghiệp.
Hiểu biết ý nghĩa của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm càng thấy được
việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ còn là cần
thiết, là mục tiêu mà còn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Đây là cơ sở giúp cho việc
đánh giá và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, giúp cho
doanh nghiệp có biện pháp cải tiến việc tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất nhằm tiết
kiệm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm, vừa tăng cường quản trị doanh nghiệp
vừa giúp cho việc quản lý vĩ mô của nhà nước. Việc này yêu cầu công tác kế toán
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
5
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải được hoàn thiện cả về nội dung và
phương pháp.
Như vậy ta có thể khẳng định, việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính
Hoa.
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa.
4. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa.
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
7
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp trong
sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản
phí tổn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ
nhất định.
Bất kì một doanh nghiệp nào, để tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có 3
yếu tố chi phí: chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động, chi phí về
lao động sống.
Tuy nhiên xét về mặt bản chất các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp bao
gồm 2 loại: các chi phí bỏ ra để tạo nên một giá trị sử dụng nào đó cũng như việc
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này các chi phi có cùng nội dung và tính chất kinh tế
được sắp xếp vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát
sinh ở đâu và có tác dụng thế nào. Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi
quản lí và hạch toán chi phí sản xuất các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí
theo 5 yếu tố sau:
+ Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Yếu tố nguyên vật liệu bao gồm giá mua,
chi phí mua nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì. Yếu
tố này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí
nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nhiên liệu khác.
+ Chi phí nhân công: là các khoản chi phí về tiền lương phải trả người lao
động, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo tiêu
chuẩn của người lao động.
+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: bao gồm các khấu hao TSCĐ dùng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
9
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các chi phí nói trên.
b. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng mục đích của chi phí
(Khoản mục chi phí trong giá thành)
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
(nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm, nhiên liệu, phụ liệu ) được sử dụng trực
tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
+Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, và các khoản phải trả trực
tiếp cho công nhân sản xuất sản phẩm, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo
một loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, công việc nhất định. Những chi phí nào kế toán
có thể căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu
chi phí.
+ Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất
nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, công việc khác nhau. Những chi phí này kế
toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn
thích hợp.
1.1.1.3. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh theo nhiều
địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất, chế tạo các loại sản phẩm, lao vụ
khác nhau. Các nhà quản lí doanh nghiệp cần biết các chi phí đấy được phát sinh từ
đâu, dùng cho việc sản xuất sản phẩm nào? Chính vì vậy chi phí sản xuất phát sinh
trong kì phải được kế toán tập hợp theo giới hạn và phạm vi nhất định. Đó là tập
hợp chi phí sản xuất.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí
sản xuất theo các phạm vi, giới hạn đó.
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chính là xác
định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ ) hoặc
đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng ).
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
11
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp mà đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, đội, trại, bộ phận sản xuất, từng giai đoạn công nghệ sản xuất.
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp.
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học là cơ sở để tổ
chức kế toán chi phí sản xuất. Từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng
hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết
b. Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này giá thành đuợc chia thành 2 loại:
+ Giá thành công xưởng: bao gồm các chi phí sản xuất liên quan đến quá
trình sản xuất chế tạo ra sản phẩm như: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí
SXC tính cho số sản phẩm đã hoàn thành. Được sử dụng để hoạch toán thành phẩm,
giá vốn hàng xuất bán và mức lãi gộp trong kỳ của doanh nghiệp.
+ Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất tình tính
cho số sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý trong doanh
nghiệp phát sinh cho số sản phẩm tiêu thụ này trong kỳ. Là căn cứ để xác định mức
lợi nhuận thuần trước thuế của doanh nghiệp.
1.1.2.3. Đối tượng tính giá thành và tính giá thành
a. Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh
nghiệp đã sản đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn
vị. Ví dụ:
- Với doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá thành là từng
sản phẩm.
- Với doanh nghiệp sản xuất hàng loạt thì đối tượng tính giá thành là từng
loại sản phẩm.
- Với quy trình công nghệ sản xuất kiểu phức tạp liên tục thì không những
thành phẩm là đối tượng tính giá thành mà cả nửa thành phẩm cũng là đối tượng
tính giá thành.
b. Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công
việc tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho công việc tính
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
13
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
giá thành sản phẩm khoa học, hợp lý đảm bảo cung cấp số liệu thông tin về giá
thành thực tế của sản phẩm, lao vụ được kịp thời, trung thực.
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là biểu hiện hai
mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì cùng biểu hiện
bằng tiền những hao phí về lao động sống lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra,
và khác nhau về mặt lượng.
Chi phí sản xuất trong thời kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dang dở cuối kỳ và sản phẩm hỏng.
Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở dang
cuối kỳ và sản phẩm hỏng, nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở
dang kỳ trước chuyển sang.
Giá thành sản phẩm = CPSXDD đầu kỳ + CPSX trong kỳ - CPSXDD cuối kỳ
1.1.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp CPSX là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp,
phân loại các khoản mục chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng
tập hợp CPSX đã xác định.
Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có 2 phương pháp tập hợp
CPSX như sau:
Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Phương pháp này được sử dụng để
tập hợp các chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác
định, tức là chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được
trực tiếp cho đối tượng đó. Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác
hạch toán một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài
khoản, hệ thống sổ kế toán theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định.
Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: phương pháp này được sử dụng để
tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi phí có phát sinh liên quan đến nhiều đối
tượng theo nhiều địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí. Sau đó phải lựa chọn các
tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan.
Hệ số phân bổ =
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu chuẩn để phân bổ
và giá trị.
Về mặt hiện vật: Doanh nghiệp phải biết được khối lượng sản phẩm làm dở
tại thời điểm đánh giá, biết được mức độ hoàn thành của sản phẩm.
Về mặt giá trị: Đánh giá sản phẩm làm dở là xác định lượng hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá đã tạo nên giá trị sản phẩm làm dở.
Việc đánh giá sản phẩm dở dang một cách trung thực hợp lý phụ thuộc vào
công tác kiểm kê và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang được chọn.
Việc xác định hao phí này do kế toán thực hiện và phải tuân theo những
phương pháp nhất định. Có các cách đánh giá sau:
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
16
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
1.1.5.1. Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí NVL trực tiếp
Nội dung:
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí
nguyên vật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các chi
phí gia công chế biến tính cả cho giá thành thành phẩm chịu.
Trong trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp kiểu chế
biến liên tục thì chi phí sản xuất dở dang của giai đoạn công nghệ sau được xác định
theo giá thành nửa thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang.
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép tính toán được giá trị sản phẩm dở
dang một cách nhanh chóng và đơn giản. Tuy nhiên, nếu tỷ trọng chi phí sản xuất
khác trong tổng chi phí sản xuất càng cao thì phương pháp đánh giá này càng không
chính xác.
Công thức :
D
CK
=
D
ĐK
lượng sản phẩm hoàn thành tương đương. Sau đó, tính toán xác định từng khoản
mục theo nguyên tắc:
Đối với chi phí sản xuất bỏ vào một lần ngay từ đầu dây chuyền công nghệ
như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì tính theo công thức:
D
CK
=
D
ĐK
+ C
x q
Q + q
Đối với chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất, chế biến như: chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thì tính giá trị sản phẩm dở dang theo công
thức sau:
D
CK
=
D
ĐK
+ C
x q’
Q + q’
Trong đó:
+ C : Được tính theo từng khoản mục chi phí tương ứng phát sinh trong kỳ
+ q’ : Là khối lượng sản phẩm dở dang đã tính đổi ra khối lượng sản phẩm
hoàn thành tương đương theo tỷ lệ chế biến hoàn thành ( %HT ):
và q’ = q x %HT
Điều kiện áp dụng:
Nên áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mà chi phí nguyên
giai đoạn i
x
Mức độ hoàn
thành của sản
phẩm dở dang
x
Định mức chi
phí của giai
đoạn i
Điều kiện áp dụng:
Thích hợp với những doanh nghiệp đã xây dựng được định mức chi phí sản
xuất cho từng giai đoạn một cách hợp lý hoặc sử dụng hệ thống kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành theo định mức.
1.1.5.4. Các khoản điều chỉnh giảm giá thành sản phẩm
Đánh giá, điều chỉnh giảm các khoản lảm giảm giá thành là công việc không
thể thiếu trong hạch toán giá thành sản phẩm làm cho giá thành được chính xác và
thông tin giá thành không bị sai lệch.
1.1.6. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
1.1.6.1. Phương pháp giản đơn.
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy trình
công nghệ đơn giản, khép kín, chu kỳ ngắn. Với đối tượng tập hợp chi phí là sản
phẩm hoặc phân xưởng… Đối tượng tính giá thành là sản phẩm kỳ tính giá thành là
tháng, quý, năm…
Công thức tính giá thành sản phẩm:
Tổng giá thành
thực tế sản
phẩm hoàn
thành
=
CPSX kinh
Giá thành 1 sản phẩm quy đổi =
Tổng giá thành sản phẩm quy đổi
Số lượng sản phẩm quy đổi
Bước 3: Tính giá thành từng loại sản phẩm.
1.1.6.3. Phương pháp tỷ lệ
Được áp dụng với doanh nghiệp sản xuất có quy trình công nghệ sản xuất, kết
quả có các sản phẩm cùng loại, khác quy cách, phẩm cấp… Và đối tượng tính giá
thành là thành phẩm theo từng quy cách, với kỳ tính giá thành là tháng, quý, năm…
Phương pháp tính:
Bước 1: Tính tổng giá thành thực tế của nhóm SP (từng khoản mục chi phí):
bằng phương pháp giản đơn.
Bước 2: Tính tổng giá thành định mức nhóm sản phẩm (từng khoản mục chi phí)
Tổng giá thành định mức
nhóm sản phẩm i
=
Tổng sản lượng sản
phẩm có quy đổi
x
Giá thành định mức
đơn vị sản phẩm i
Bước 3: Xác định tỷ lệ tính giá thành của từng khoản mục chi phí
Tỷ lệ tính giá thành =
Tổng giá thành thực tế của nhóm SP
Tổng giá thành định mức của nhóm SPi
Bước 4: Tính tổng giá thành thực tế từng loại sản phẩm (từng khoản mục chi phí)
Tổng giá thành thực tế
từng loại sản phẩm
=
Tỷ lệ tính giá
do không tính giá thành nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ nên không có
tác dụng phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, không có số liệu hạch
toán nửa thành phẩm trong trường hợp có nhập kho nửa thành phẩm .
Khái quát quy trình theo sơ đồ sau.
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
21
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Sơ đồ 01: Sơ đồ phương án sản xuất không tính giá thành nửa thành phẩm
b. Phương pháp có tính giá thành bán thành phẩm
Qui trình công nghệ phức tạp kiểu liên tục, phức tạp. Cơ cấu tổ chức được
chia ra thành các bộ phận, phân xưởng sản xuất. Mỗi bộ phận hoặc phân xưởng sản
xuất đảm nhận một giai đoạn sản xuất trong quy trình công nghệ. Đối tượng tập
hợp CPSX là từng phân xưởng, bộ phận sản xuất (giai đoạn chế biến). Đối tượng
tính giá thành là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn chế biến và thành phẩm.
Sơ đồ 02: Sơ đồ phản ánh phương pháp sản xuất tính giá thành nửa thành
phẩm
+ + +
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn n
Chi phí sản
xuât phát sinh
ở giai
đoạn1
Chi phí sản
xuất phát
sinh ở giai
đoạn 2
Chi phí sản
xuất phát
sinh ở giai
là bên cạnh những sản phẩm chính luôn tạo ra sản phẩm phụ kèm.
Nôi dung: Khi tính được giá thành sản phẩm sẽ trừ đi giá thành sản phẩm
phụ, từ đó tính ra giá thành sản phẩm chính.
1.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.2.1. Kế toán các khoản chi phí sản xuất
1.2.1.1. Kế toán nguyên vật liệu trực tiếp
• Tập hợp nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu là thành phẩn mà khi tham gia vào quá trình sản xuất tạo nên
thực thể chính sản phẩm. Nó bao gồm tất cả nguyên vật chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu…được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp sử dụng để sản xuất tại các doanh
nghiệp nên thường được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Khi xuất dùng, trên
các chứng từ ban đầu cần ghi rõ nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất sản phẩm
nào; từ đó, căn cứ vào các phiếu lĩnh vật tư để tính chi phí nguyên vật liệu chính
cho các đối tượng tính giá thành có liên quan.
Trong trường hợp một số nguyên vật liệu chính xuất dùng cho nhiều đối
tượng, hoặc các chi phí nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… dùng chung cho nhiều đối
tượng. Khi đó tiêu chuẩn phân bổ có thể là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối
lượng sản phẩm sản xuất ra…
• Chứng từ và tài khoản sử dụng
Chứng từ sử dụng:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Bảng tổng hợp Nhập – Xuất – Tồn trong tháng
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu
- Định mức vật tư
Để tập hợp CPNVLTT kế toán sử dụng tài khoản 621 “Chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp”. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng sử dụng trực tiếp
Sinh viên: Hoàng Thị Dung Lớp: KTDN D – K11
23
liệu thu hồi nhập kho.
Trị giá NVL mua dùng
ngay cho sản xuất.
Kết chuyển chi phí NVL
trực tiếp
VAT được
khấu trừ.
24
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Trường hợp chi phí nguyên vật liệu vượt trên mức bình thường thì giá trị của
nó được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng kế toán hàng tồn kho theo phương
pháp kiểm kê định kỳ thì kế toán sử dụng tài khoản TK611 và TK631.
1.2.1.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
TK 622 - CPNCTT : Dùng để tập hợp và phân bố CPNCTT (tiền lương, tiền
công ) của công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh như tiền lương, tiền công, các
khoản phụ cấp, các khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN.
+ Tiền lương chính: là tiền thù lao trả cho thời gian lao động. Nó gắn liền với
khối lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành nhất định, vì vậy thường được tính
trực tiếp vào đối tượng sử dụng có liên quan.
+ Tiền lương phụ: là thời gian lao động trả cho thời gian ngừng nghỉ việc
theo quy định.
- Đối với những thời gian ngừng nghỉ việc có dự kiến trong kế hoạch như
nghỉ phép, nghỉ lễ… được tính vào đối tượng có liên quan theo phương pháp trích
trước để cho giá thành không bị biến động đột ngột.
- Đối với tiền lương trả cho thời gian ngừng, nghỉ việc khác được tính vào
khoản thiệt hại ngừng sản xuất.
+ Bảo hiểm xã hội: được tính theo tỷ lệ 24% trên tổng quỹ lương thực tế,
trong đó 17% tính vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh và 7% khấu trừ vào