TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG – CHI NHÁNH HÀ NỘI
Họ và tên sinh viên : Hoàng Minh Đức
Mã sinh viên : CQ500556
Lớp : Tài chính doanh nghiệp 50D
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đặng Ngọc Biên
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CK Chứng khoán
CTCK Công ty chứng khoán
MHB
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng
sông Cửu Long
MHBS
Công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng
phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
TTLK Trung tâm lưu ký
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếu được trong
đời sống kinh tế của những nước đang theo cơ chế thị trường và nhất là những nước
Về bố cục, ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được
chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Tổng quan về công ty chứng khoán với hoạt động môi giới của
công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng về hoạt động môi giới chứng khoán ở công ty cổ
phần chứng khoán MHBS
Chương 3: Một vài giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động môi giới
tại công ty cổ phần chứng khoán MHB
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên
thị trường chứng khoán, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như
ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ cơ bản của một công ty chứng khoán
đó là nghiệp vụ môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn chứng khoán. Trên
thực tế, một công ty chứng khoán không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các nghiệp
vụ trên tuy nhiên nghiệp vụ môi giới vẫn được coi là nghiệp vụ cơ bản quan trọng
mà hầu hết công ty chứng khoán nào cũng tham gia.
1.1.2. Phân loại công ty chứng khoán
1.1.2.1. Theo mô hình tổ chức kinh doanh
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng
khoán:
- Mô hình công ty đa năng: Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại
hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh
tiền tệ. Mô hình này chia thành hai loại:
+ Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán
phải lập công ty độc lập tách rời.
tiền tệ.
Hiện nay do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên một
số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán,
bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành công ty mẹ, công ty con và có sự quản lý giám
sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau, sẽ phát huy tối đa những lợi
thế của ngân hàng, đồng thời do sự tách bạch nghiệp vụ giữa công ty mẹ, công ty
con nên việc chuyên môn hoá trên thị trường ngày càng được nâng cao.
4
1.1.2.2. Phân loại theo tổ chức công ty chứng khoán
Theo quy định hiện nay tại Việt Nam, công ty chứng khoán được tổ chức
dưới 2 mô hình: Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty cổ phần
Công ty chứng khoán cũng như cac doanh nghiệp các cũng phải tuân thủ
luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005. Theo đó, đây là một pháp nhân độc lập với
các chủ sở hữu là các cổ đông. Các cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức với số
lượng tối thiểu là 3. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vôn đã góp vào
công ty. Công ty cổ phần chứng khoán cũng được phát hành các loại chứng khoán
như: cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình.
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, các thành viên góp vốn chịu
trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn cam kết góp của mình. Công ty trách
nhiệm hữu hạn được chia làm 2 loại: công ty trách nhiệm một thành viên, và công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Tuy nhiên nhược điểm hơn so với
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được phát hành trái phiếu mà
không đựơc quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ có các
công ty chứng khoán mà các cổ phiếu, trái phiếu… được lưu thông buôn bán tấp
khoản của các tài sản tài chính được đầu tư. Vì các chứng khoán qua đợt phát hành
sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp hai. Điều này giúp giảm rủi ro, tạo
nên tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư.
6
Trên thị trường cấp hai, do thực hiện giao dịch mua và bán, các CTCK giúp
người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại, có thể lựa chọn
mua bán được nhiều loại chứng khoán. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính
thanh khoản của những tài sản tài chính.
1.1.3.4. Đối với cơ quan quản lý thị trường
Mục tiêu của cơ quan quản lý thị trường là quản lý và bình ổn thị trường
giúp cho thị trường hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Các công ty chứng khoán
có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin cho các cơ quan quản lý
để họ thực hiện tốt mục tiêu đó. Các CTCK là công ty hoạt động chuyên nghiệp
trên thị trường do đó nắm được nhiều thông tin về các giao dịch trên thị trường,
thông tin về các loại cổ phiếu, trái phiếu, thông tin về tổ chức phát hành và nhà đầu
tư vì CTCK vừa là người bảo lãnh phát hành vừa là người phát hành chứng khoán
ra công chúng thông qua các hoạt động bảo lãnh và đại lý bảo lãnh phát hành, vừa
là trung tâm mua và bán các chứng khoán. Việc công khai các thông tin vừa là quy
định của hệ thống pháp luật vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các
công ty chứng khoán cần phải minh bạch trong hoạt động của mình. Nhờ các thông
tin này mà các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng
thao túng, lũng đoạn thị trường để bảo vệ nhà đầu tư.
1.1.4. Điều kiện thành lập và nguyên tắc hoạt động công ty chứng khoán
1.1.4.1. Điều kiện thành lập
Có trụ sở, có trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh chứng khoán,
đối với ngiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư thì không
phải đáp ứng điều kiện về trang thiết bị.
Có vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh như sau
o Môi giới chứng khoán 25 tỷ đồng
o Tự doanh 100 tỷ đồng
Việt Nam, các công ty chứng khoán muốn tham gia bốn loại hình kinh doanh: môi
8
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng
khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu là 300 tỷ.
- Cơ cấu vốn: Cơ cấu vốn cho biết tỷ lệ của tài sản dài hạn và tài sản ngắn
hạn trong tổng vốn như thế nào. Xây dựng cơ cấu vốn phản ánh sử dụng bình quân
1 đồng vốn dành ra bao nhiêu đồng đầu tư hình thành tài sản dài hạn, tài sản ngắn
hạn. Trong cơ cấu vốn, các công ty chứng khoán phụ thuộc nhiều vào các khoản
vay ngắn hạn; phần lớn trong tài sản là các chứng khoán có thể mua, bán, trao đổi
trên thị trường…
- Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Các CTCK phải tuân thủ các nguyên
tắc về sử dụng vốn và các hạn mức kinh doanh. Các nguyên tắc này khác nhau tuỳ
theo đặc điểm của từng nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán thực hiện. Các
nguyên tắc về sử dụng vốn thường bao gồm: cơ cấu vốn (tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở
hữu), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ bổ sung
vốn điều lệ Tại Việt Nam cũng quy định cụ thể về hạn mức kinh doanh để hạn chế
rủi ro đối với các công ty chứng khoán như quy định về mức mua sắm tài sản cố
định, hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán, hạn mức bảo lãnh phát hành.
b. Nhóm nguyên tắc đạo đức
CTCK phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sau:
- CTCK phải hoạt động dựa trên nguyên tắc trung thực, tận tuỵ, bảo vệ và vì
quyền lợi của khách hàng, ưu tiên bảo vệ lợi ích của khách hàng trước lợi ích của
mình.
- CTCK có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng và chỉ được tiết lộ khi
cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
- CTCK phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không được sử dụng bất kì
hành động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm thông báo cho khách hàng biết đầy
đủ các thông tin khi có thể xảy ra xung đột lợi ích.
- CTCK không đựơc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh
doanh, ngoại trừ trường hợp só tiền đó để phục vụ cho giao dịch của khách hàng.
10
- Quản lý các lệnh giao dịch của khách hàng;
- Vận hành các đầu mối thông tin, tư vấn cho khách hàng về đầu tư chứng
khoán.
b. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là các hoạt động mua, bán chứng khoán cho chính
mình để hưởng lợi nhuận từ việc đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá,
cổ tức, lãi trái phiếu và các quyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán.
Khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh, công ty chịu trách nhiệm với quyết định
của công ty, tự gánh chịu rủi ro từ quyết định mua, bán chứng khoán của mình.
Hoạt động này thường song hành với dịch vụ môi giới. Vì vậy, khi thực hiện hai
hoạt động này có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và lợi ích
của khách hàng. Do đó luật pháp các nước yêu cầu phải tách biệt rõ ràng hoạt động
tự doanh chứng khoán và hoạt động môi giới chứng khoán, theo đó công ty chứng
khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công
ty, thậm chí luật pháp ở một số nước còn quy định hai loại hình CTCK là công ty
môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới chứng khoán và CTCK có không
làm nghiệp vụ tự doanh, hoặc tách ra kinh doanh
Ở một vài thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của
công ty chứng khoán gắn liền với hoạt động tạo lập của thị trường. Các công ty
chứng khoán phải thực hiện nghiệp vụ tự doanh qua việc mua bán trên thị trường
với vai trò định hướng và điều tiết hoạt động của thị trường, góp phần bình ổn giá
cả trên thị trường.
Giao dịch chứng khóan tự doanh được thực hiện theo phương thức giao dịch
trực tiếp hay gián tiếp.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch giữa khách hàng và CTCK theo giá thỏa
thuận trực tiếp. Các đối tác giao dịch do các tổ chức tự “đấu mối”, họ có thể là cá
nhân, hoặc tổ chức (chủ yếu là các công ty chứng khoán). Thời gian giao dịch
thường được thực hiện trong và ngoài giờ giao dịch của Sở giao dịch kể cả ban đêm
11
chứng khoán. Hiện nay TTCK Việt Nam quy định việc phát hành chứng khoán ra
công chúng bắt buộc thông qua nhà bảo lãnh phát hành đây.
Bảo lãnh theo phương thức cố gắng tối đa: Đây là hình thức bảo lãnh mà tổ
chức bảo lãnh phát hành đống vai trò như một đại lý phát hành và cam kết sẽ cố
gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho tổ chức phát
hành theo mức giá đã được xác định trước. Trường hợp không bán hết, số chứng
khoán còn lại được trả về cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh được hưởng hoa
hồng trên số chứng khoán đã được bán ra.
Đây là phương thức nhận bán ít mạo hiểm hơn so với phương thức trên
thường được các CTCK mới thành lập, không muốn phiêu lưu nhiều, nên chỉ đơn
giản muốn thu lợi nhuận từ hoa hồng được hưởng do bán hộ.
Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: Đây là trường hợp áp dụng
cho tổ chức phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục
tiêu nhất định. Nếu huy động được đủ số vốn cần thiết đó thì sẽ thực hiện phát hành,
nếu không huy động đủ thì sẽ huỷ bỏ. Tiền đặt mua chứng khoán sẽ được trả lại cho
nhà đầu tư và tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ không nhận được bất cứ một khoản hoa
hồng nào. Rủi ro của phương thức này được san sẻ cho cả hai bên.
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Là phương thức bảo lãnh mà tổ chức
bảo lãnh cam kết nếu chứng khoán không được bán hết, tổ chức bảo lãnh sẽ mua
nốt số chứng khoán còn lại của tổ chức phát hành, sau đó bán ra công chúng.
Đối với tổ chức phát hành nếu theo phương thức bảo lãnh này, sẽ chắc chắn
bán được hết số chứng khoán dự định phát hành ra. Phương thức này thường được
áp dụng đối với các công ty cổ phần lớn, mang tính đại chúng muốn phát hành bổ
sung cổ phiếu thưởng mới để tăng vốn. Phát hành thêm cổ phiếu thường mới sẽ
dành quyền ưu tiên mua cho các cổ động cũ. Công ty áp dụng phương thức bảo lãnh
dự phòng sẽ đảm bảo nếu như các cổ đông cũ không dùng quyền mua cổ phiếu thì
các cổ phiếu không bán được cũng sẽ có tổ chức bảo lãnh mua để sau đó bán ra
công chúng.
13
Tổ chức bảo lãnh cũng chỉ được nhận hoa hồng bảo lãnh khi tổ chức phát
hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời khuyên có liên quan
đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách
hàng. Tư vấn đầu tư bao gồm: Tư vấn mua bán chứng khoán, tạo dựng danh mục
đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư.
Tư vấn tài chính: Là việc CTCK tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc xác
định giá trị doanh nghiệp, tái cơ cấu tài chính, phát hành chứng khoán, chia tách,
sáp nhập hợp nhất doanh nghiệp.
1.1.5.2. Các hoạt động phụ trợ của công ty chứng khoán
a. Hoạt động Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng
và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán đã lưu ký
như: quyền nhận cổ tức, trái tức, cổ phiếu thưởng Đây là một hoạt động hết sức
quan trọng và cần thiết trên TTCK tập trung. Lưu ký chứng khoán đảm bảo quá
trình thanh toán trên SGDCK được nhanh chóng và chính xác, an toàn và giúp cho
CK không bị rách hỏng hay bị thất lạc.
Tại Việt Nam hiện nay hệ thống lưu ký ở Việt Nam được phân thành 2 cấp:
Trong cấp thứ nhất, nhà đầu tư trực tiếp mở tài khoản giao dịch tại các công
ty chứng khoán hoặc tại cá ngân hàng thương mại được Uỷ ban chứng khoán nhà
nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký tại Trung tâm
Lưu ký.
Trong cấp thứ 2, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại mở tài
khoản tại Trung tâm Lưu ký và trở thành thành viên lưu ký để thực hiện việc ký
gửi, rút chứng chỉ chứng khoán và các hoạt động bù trừ và thanh toán.
b. Hoạt động Quản lý thu nhập của khách hàng
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi
tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả
cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
15
c. Hoạt động Tín dụng
Đây là một hoạt động thông dụng tại các TTCK phát triển. Còn ở các TTCK
khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua, lệnh bán chứng khoán đó vào Sở giao
dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới. Do đó CTCK còn được hiểu là đại
diện - được uỷ quyền thay mặt cho khách hàng để thực hiện mua bán một hoặc một
số loại chứng khoán, tiến hành giao dịch chứng khoán thông qua cơ chế giao dịch
tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối
với kết quả giao dịch của mình
Tại Việt Nam, theo luật chứng khoán ngày 29/6/2006 thì môi giới chứng
khoán được hiểu là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng.
Hoạt động môi giới tuân theo một số nguyên tắc: ký kết hợp đồng dịch vụ
với khách hang có mở tài khoản chứng khoán cho khách hang thì nhận các lệnh
mua hoặc bán chứng khoán của khách hàng, thanh toán và quyết toán các doanh vụ,
cung cấp các giấy chứng nhận chứng khoán.
Nghề môi giới chứng khoán đòi hỏi những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
cao, với chất lượng công việc tốt. Kỹ năng của người môi giới (xem phụ lục 1: Các
kỹ năng của nhà môi giới) thể hiện qua kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng tìm
kiếm khách hàng, kỹ năng khai thác thông tin.
Trong hoạt động môi giới chứng khoán có một số điểm cần lưu ý:
- Quyết định mua bán là của khách hàng đưa ra và người môi giới phải thực
hiện theo lệnh đó;
- Người môi giới đứng tên mình thực hiện các giao dịch chứng khoán theo
lệnh của khách hàng;
- Việc hạch toán cho các giao dịch phải được thực hiện trên các tài khoản sở
hữu của khách hàng;
- Người môi giới được thu phí dịch vụ theo thoả thuận hợp đồng uỷ thác giao
dịch.
17
Kết hợp cùng với hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng
những sản phẩm dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán
với nhà đầu tư mua chứng khoán trong những trường hợp nhất định.
Nhà môi giới chuyên môn
Tại một số SGDCK quy định mỗi loại chứng khoán được giao dịch ở một
quầy giao dịch cụ thể và những quầy giao dịch được bố trí xung quanh sàn giao
dịch. Trong quầy giao dịch, nhà môi giới được biết đến với nhà môi giới chuyên
môn hay chuyên gia khi thực hiện đồng thời hai nghiệp vụ: Môi giới và tạo lập thị
trường cho một số loại chứng khoán nhất định.
1.2.3. Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.3.1. Đối với công ty chứng khoán
Tạo doanh thu cho công ty
Hoạt động của các nhân viên môi giới cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể
cho các công ty chứng khoán. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở những thị trường
phát triển, 20% trong tổng số những nhà môi giới đã tạo ra 80% nguồn thu từ hoa
hồng cho ngành, tính trung bình một người môi giới hàng đầu điển hình tạo ra
khoản thu từ hoa hồng nhiều gấp 16 lần mức thu của một người môi giới trung bình.
Nguồn thu của người bán hàng gồm: hoa hồng, các khoản tín dụng bán hàng, các
khoản chênh lệch giá mua bán, các khoản chi phí cho các dịch vụ hoặc sản phẩm
đặc biệt, các khoản thu do nỗ lực bán hàng của họ.
Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Một trong những nhân tố quan trọng làm nâng cao năng lực cạnh tranh của
các đơn vị kinh doanh nói chung và công ty chứng khoán nói riêng là đa dạng hoá
sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ được cung cấp cho khách hàng.
Khi thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, đóng vai trò làm trung gian đại diện
cho khách hàng tiên hành các giao dịch, công ty chứng khoán có thể nắm bắt được
nhu cầu cũng như mong muốn của khách hàng. Từ đó công ty chứng khoán tiến
hành nghiên cứu cho ra đời những sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao chất lượng phục
vụ của sản phẩm hiện có nhằm thoả mãn hơn nữa nhu cầu của khách hàng, thu hút
19
thêm nhiều khách hàng tìm đến, giữ được lượng khách hàng đã có và ngày càng ra
tăng khối lượng tài sản mà khách hàng tin tưởng uỷ thác cho công ty chứng khoán
quản lý. Môi giới chứng khoán với đội ngũ nhân viên thường xuyên tiếp xúc với