GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH TỪ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI - Pdf 25



PHßNG GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Mü §øC
TRƯỜNG THCS AN TIẾN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH
TỪ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Lĩnh vực: Ngữ Văn
Tên tác giả: Lê Thị Kim Thư
Chức vụ: Giáo viên
Năm học 2012 – 2013
1
PHÒNG GD&ĐT MỸ ĐỨC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS AN TIẾN ĐỘCLẬP -TỰDO -HẠNHPHÚC
- ___________ o0o__________
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SƠ Y Ế U LÝ LICH:
- Họ và tên : LÊ THỊ KIM THƯ
- Ngày, tháng, năm sinh : 19 / 11 / 1972 .
- Năm vào ngành : 1993
- Chức vụ và đơn vị công tác : Giáo viên trường THCS An Tiến
Mỹ Đức , Hà Nội .

- Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm
- Hệ đào tạo : Từ xa
- Bộ môn giảng dạy : Ngữ văn
- Trình độ chính trị : Sơ cấp
- Kỷ luật : Không
2
ĐẶT VẤN ĐỀ

lối cũ. Phải thay đổi tư duy, đề cao sự cởi mở, thẳng thắn, trao đổi nhiều chiều; kết
hợp thuyết phục với khơi gợi. Trong thời kì hội nhập, ảnh hưởng của tư tưởng, lối
sống cho riêng mình, lấy lợi ích cá nhân làm lẽ sống thì càng cần phải giáo dục
lòng yêu nước tích cực hơn, sát sao hơn nữa. Tiếp thu những tinh hoa của thế giới
nhưng cũng phải biết phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc.
Hơn nữa, việc dạy và học các môn khoa học xã hội còn nảy sinh biết
bao nhiêu câu chuyện bi hài, làm thầy cô giáo chúng tôi không biết nên cười hay
nên khóc. Sự yếu kém, thờ ơ, lạnh nhạt của học sinh đối với các bộ môn xã hội
ngày càng gia tăng, ít nhiều đã và đang bào mòn, suy giảm lòng đam mê, tâm huyết
của đội ngũ giáo viên dạy các môn xã hội. Trong khi đó, các môn khoa học tự
nhiên, như Toán, Lý, Hóa ngày càng có nhiều ưu thế hơn, được hầu hết học sinh
các cấp coi trọng hơn, dồn gần hết thời gian và công sức để học tập các môn đó.
Phải chăng là kiến thức chuyên môn cũng như cách dạy của thầy cô giáo dạy môn
xã hội không bằng thầy cô giáo dạy các môn tự nhiên?Thực tế, nguyên nhân này
xem ra không mấy thuyết phục, vì chưa chắc các môn tự nhiên học sinh coi trọng,
học nhiều là có đội ngũ giáo viên tốt hơn, giỏi hơn. Căn nguyên sâu xa của nó, theo
tôi suy nghĩ, chủ yếu do những nguyên nhân sau đây:
- Nhiều học sinh (kể cả phụ huynh) còn xem thường các môn khoa học xã hội, luôn
cho nó là môn phụ, môn học chỉ cần thuộc bài, môn chẳng mấy quan trọng, nên
không cần phải tư duy, suy nghĩ gì, học hành sơ sơ hoặc qua loa cũng chả sao.
Số đông học sinh khi lên cấp học trên có xu hướng học lệch, học một cách thực
dụng, thi gì học nấy. Vì coi trọng việc học và thi các môn khoa học tự nhiên thì cơ
hội vào ngành, nghề sẽ hết sức rộng rãi và hấp dẫn.
4
Còn coi trọng việc học các môn khoa học xã hội thì cánh cửa vào ngành, nghề rất
hẹp, không sư phạm thì tổng hợp, báo chí chứ biết chạy đâu, vả lại khi ra trường,
làm việc thuộc các ngành khoa học xã hội, cuộc sống vật chất không dễ dàng gì,
nhiều khi rất lao đao, vất vả.
Trước sức cuốn hút mạnh mẽ của cơ chế thị trường, mọi người đua
nhau làm giàu, đâu phải lúc để cho những suy ngẫm về dân tộc. Mặt khác, những

Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 8,
- Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên chu kỳ III…
- Dự giờ thăm lớp, kiểm tra đối chiếu.
- Giảng dạy theo phương pháp mà đề tài đưa ra.
6
B- NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN

Không một ai tự nhận mình là người không yêu nước và lòng yêu nước
là một tình cảm có thật trong trái tim mỗi con người bởi nước gắn liền với nhà, với
môi trường sống, với đồng loại xung quanh. Yêu nước mới yêu đời và ngay cả
những người chán sống vì lý do nào đấy có thể họ nói “chán đời” nhưng chưa thấy
ai nói “chán nước”.
Đất nước là gốc rễ, là phần thiêng liêng trong tâm thức mỗi người và
dường như với một số người yêu nước chỉ là lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh để
bảo vệ nó mỗi khi đất nước bị xâm lược. Gốc của lòng yêu nước là niềm tự hào về
giang sơn, về tên tuổi danh dự của quốc gia và là cả sự phẫn nộ, căm thù khi đất
nước bị xâm lăng. Khi có ngoại xâm, cả dân tộc bằng lòng yêu nước từ mỗi trái tim
đa kết dính lại một khối thành một sức mạnh vô địch thắng mọi kẻ thù, thế nhưng
trước giặc “nội xâm”, dường như khối kết dính đó lại có phần rời rạc bởi có người
quên nước, chỉ nghĩ đến nhà. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thường
không quá 10 năm nhưng trước giặc nội xâm sao lâu tới ngày toàn thắng đến vậy.
Lòng yêu nước không chỉ làm chúng ta thấm thía nỗi nhục mất nước để toàn dân
phải đấu tranh chống áp bức, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mà còn phải biết
lo lắng trong hòa bình khi đất nước thân yêu của mình bị tụt hậu so với các quốc
gia khác. Mọi niềm tự hào đều bắt đầu từ tình yêu và chính niềm tự hào về đất nước
ấy làm nên lòng tự tôn dân tộc, tính tự trọng công dân.
Không thể có lòng yêu nước thực sự nếu ai đó vì lợi ích của mình, của
nhóm lợi ích mình tham gia chà đạp lên lợi ích cộng đồng. Có thể yêu nước được

Theo V. Bêlinxki – nhà phê bình văn học Nga: “thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó
mới là nghệ thuật”. Vậy nên, trước hết cần phải giúp học sinh hiểu đời trước rồi
8
mới hiểu văn thơ sau. Học sinh chưa hiểu đời sẽ khó tiếp thu cái đẹp của văn
chương nghệ thuật. Cái hay, cái đẹp của văn chương sẽ được học sinh tiếp nhận
trong cả một quá trình xuyên suốt chứ không phải chỉ ở một vài tiết học trên lớp. Vì
thế giáo viên cần phải giúp học sinh nắm vững kiến thức xã hội qua bài đọc văn tác
phẩm văn chương.
Giá trị đích thực của một tác phẩm văn chương chính là chất nhân văn.
Mọi đề tài, chủ đề, tư tưởng cũng như mọi biện pháp nghệ thuật của một tác phẩm
văn chương, chung quy lại đều đọng vào những giá trị nhân văn nhất định. Bởi vì,
mục tiêu, chức năng của văn học là nhân đạo hóa con người. Văn chương không
phải là một cách đem đến cho người đọc sư thoát li hay sự quên, trái lại, văn
chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và
thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong
phú hơn “(Thạch Lam)”. Nó ca tụng lòng thương, tính bác ái, sự công bằng. Nó
làm cho người gần người hơn “(Nam Cao)”.
Điều đó có nghĩa là nói đến chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ
của tác phẩm văn chương. Văn học cung cấp cho người đọc những hiểu biết toàn
diện về xã hội và con người “văn học là nhân học” (Gorki), từ những hiểu biết đó
con người sẽ sống đẹp và có khát vọng, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Muốn
học sinh hiểu được chất văn, chất đời, chất người của tác phẩm văn chương phải
làm sao tạo nên sự rung động thật sự, sự cảm nhận chân thành từ phía học sinh.
Để truyền thụ và lĩnh hội kiến thức về Lòng yêu nước, người dạy và người
học cần nắm vững hệ thống các bài học của văn học Trung Đại theo thời gian của
các triều đại
gồm :
- Tìm hiểu thể Chiếu và văn bản Chiếu dời đô.
- Tìm hiểu thể Hịch và văn bản Hịch Tướng sĩ.
- Tìm hiểu thể Cáo và văn bản Nước Đại Việt ta.

10
hướng toàn cầu hoá kinh tế tạo ra nhiều thời cơ, vận hội mới cho sự vươn lên mạnh
mẽ của nhiều nước; đồng thời cũng đặt các nước đang phát triển vào những nguy
cơ tiểm ẩn không lường. Sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn tại khu vực
các nước đang phát triển, mà Đông Nam Á là một điển hình, ngày càng phức tạp.
Xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố quốc tế vẫn diễn biến
ngày càng phức tạp. Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách
mạng nước ta thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng là
một vấn đề hết sức lưu ý. Trong bối cảnh đó, công tác giáo dục thế hệ trẻ, nhất là
giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng và cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay. Giáo dục chủ
nghĩa yêu nước cho thanh thiếu niên Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp
mang tính đồng bộ và khoa học.
Xã hội hiện nay phát triển rất nhanh và mạnh về kinh tế dẫn đến nhiều
mối quan hệ xã hội bị rạn nứt, phân hóa, rất nhiều giá trị đạo đức bị bào mòn, gặm
nhấm. Vì thế, môn ngữ văn phải làm sao lưu giữ được những gì đang bị băng hoại
trước cơn lốc thị trường, trước sự bào mòn về nhân cách con người, trước sự sa sút
về ý thức trong giới trẻ ngày nay. Việc dạy văn hiện nay trở nên khó khăn hơn
trước những biến động phức tạp của cuộc sống đời thường. Cho nên, giáo viên dạy
văn một mặt phải hướng trang văn ra với đời sống xã hội, với cuộc sống hiện tại
một mặt phải chắt chiu những giá trị nhân văn của tác phẩm văn học.
Lòng yêu nước càng cần thiết hơn khi vấn đề tranh chấp chủ quyền
biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam đang trở nên nóng bỏng hơn bao
giờ hết. Tràn ngập trên các diễn đàn, các mạng xã hội là vô vàn những ý kiến công
khai về biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hầu hết là thái độ chỉ trích, phê phán gay
gắt về cái gọi là “đường lưỡi bò” và các hành động mà Trung Quốc vi phạm chủ
quyền biển đảo Việt Nam.
Trước những cơ sở trên, tôi đã kiểm chứng về lòng yêu nước của học sinh lớp 8A.
Cụ thể:
11

thời đại, lòng yêu nước của họ.
* Hiểu thể loại văn học để hiểu tác giả.
? Em hiểu thể “ Chiếu” trong thể loại văn học là gì?
Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể được viết bằng
văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; được công bố và đón nhận một cách trang
trọng. Một số bài chiếu thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng đến vận
mệnh của cả triều đại, đất nước nhằm thuyết phục mọi người về việc dời đô
? Em hiểu thể “ Hịch” trong Hịch Tướng sĩ là gì?
Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ
lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù
trong giặc ngoài. Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lí lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết
phục. Đặc điểm nổi bật của Hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe. Hịch
thường được viết theo thể văn biền ngẫu. Kết cấu của bài hịch có thể thay đổi linh
hoạt tùy theo mục đích và nghệ thuật lập luận của tác giả.
? Em hiểu thể “ Cáo” trong Bình Ngô Đại Cáo là gì?
Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình
bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết.
Cáo phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu. Cũng như hịch, cáo là thể văn có
tính chất hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải
chặt chẽ, mạch lạc.
? Em hiểu “ Tấu ” trong Luận phép học là gì?
Tấu là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự
việc, ý kiến, đề nghị. Tấu có thể viết bằng văn xuôi hay văn biền ngẫu, văn vần.
- Sau khi học sinh nêu thể loại, Giáo viên có thể bổ sung những chỗ còn thiếu sót
hoặc khen ngợi học sinh có câu trả lời đúng. Dùng câu hỏi tổng hợp để gợi ý học
sinh tìm ra nét chung của 4 thể loại văn học này là yêu nước thương dân.
13
? Em hãy tìm những nét chung, riêng của 4 thể loại văn học này?
Giống:
- Đều là thể văn nghị luận trung đại cổ.

- Ba là, thời đại khoan giản, an lạc nhân thứ, rộng mở và dân chủ.
? Em hiểu gì về ý thức,trách nhiệm của họ đối với non sông đất nước?
- Yêu nước gắn liền với lý tưởng trung quân ái quốc.
- Tự hào về truyền thống của dân tộc.
- Yêu con người, yêu ngôn ngữ dân tộc.
- Căm thù giặc, quyết tâm đánh giặc cứu nước.
* Hiểu hoàn cảnh ra đời văn bản để hiểu nội dung văn bản.
? Hoàn cảnh ra đời Chiếu dời đô?
Định đô, lập nước là một trong những công việc quan trọng nhất của một quốc
gia. Với khát vọng xây dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh và bền vững muôn
đời, sau khi được triều thần suy tôn lên làm vua, Lí Công Uẩn đã đổi tên nước từ
Đại Cồ Việt thành Đại Việt, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (thuận theo trời). Năm
canh thân (1010), khi ông được triều thần tôn lên làm vua, ông đã viết bài chiếu để
bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư-Ninh Bình về thành Đại La-Hà Nội và quyết định
dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La-sau đổi tên thành Thăng Long
(Rồng bay). Vua ban Thiên chiếu cho triều đình và nhân dân được biết.
Trần Quốc Tuấn là người biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hiềm khích
của gia đình để trả thù cho cha, khi cha ông bị vua Trần Thái Tông cướp vợ. Vì
quyền lợi quốc gia, Trần Quốc Tuấn đã không làm theo lời cha dặn, ông đã một
lòng trung nghĩa với vua, với nước. Trần Quốc Tuấn đã phò vua và giúp vua đánh
bại kẻ thù. Khi ông mất, vua Trần đã phong cho ông tước Hưng Đạo Vương.
15
?Bài Hịch ra đời trong hoàn cảnh nào ?
Theo Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (XB 1987) thì bài hịch này được
công bố vào 9.1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long. Trong 3 cuộc kháng
chiến chống Mông-Nguyên thời Trần thì cuộc kháng chiến lần 2 là gay go, quyết
liệt nhất. Giặc cậy thế mạnh ngang ngược, hống hách. Ta sôi sục căm thù quyết tâm
chiến đấu. Nhưng trong hàng ngũ tướng sĩ cũng có người dao động, có tư tưởng
đầu hàng. Vì vậy tư tưởng chủ đạo của bài hịch là nêu cao tinh thần quyết chiến
quyết thắng. Đây chính là thước đo cao nhất, tập trung tinh thần yêu nước trong

ngoại xâm. Đó là lí tưởng “dấn thân, nhập cuộc” với một ý chí quyết tâm thực
hiện đến cùng lí tưởng cách mạng. Sau đó yêu cầu học sinh trình bày lí tưởng
của thanh thiếu niên trong xã hội hiện nay.
* Hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm để hiểu về lòng yêu nước.
Văn bản Chiếu dời đô
1-Vì sao phải dời đô (luận điểm 1):
Hs đọc đoạn 1.
? Luận điểm trong văn nghị luận thường được triển khai bằng một số luận cứ (lí lẽ
và d.c). ở Đoạn 1, luận điểm vì sao phải dời đô được làm sáng rõ bằng những luận
cứ nào?
- 2 luận cứ: Dời đô là điều thường xuyên xảy ra trong lịch sử các triều đại; nhà
Đinh và nhà Lê đóng đô 1 chỗ là hạn chế.
? Ở luận cứ 1, những lí lẽ và chứng cớ nào được viện dẫn ?
? Những chứng cớ và lí lẽ mà tác giả đưa ra ở đây có sức thuyết phục không ? Vì
sao ?
17
? Ý định dời đô bắt nguồn từ kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy ý chí mãnh liệt nào
của Lí Công Uẩn, cũng như của dân tộc ta thời Lí ?
a-Dời đô là điều thường xuyên xảy ra trong lịch sử các triều đại (luận cứ 1):
-Nhà Thương 5 lần dời đô, nhà Chu 3 lần dời đô.
-Không phải theo ý riêng mà vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp
lớn, tính kế muôn đời cho con cháu.
-Khiến cho vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh.
->Chứng cớ và lí lẽ có sức thuyết phục. Vì nó có sẵn trong sử sách, ai cũng biết.
=>Thể hiện ý chí mãnh liệt là muốn noi gương sáng của các triều đại đi trước và
muốn đưa nước ta đến sự hùng mạnh lâu bền.
-Luận cứ 2 là gì ?
? Ở luận cứ 2, những lí lẽ và chứng cớ nào được viện dẫn ?
? Những chứng cớ và lí lẽ trên có sức thuyết phục không ? Vì sao ?
-Gv: Tính thuyết phục của lí lẽ dời đô được tăng lên khi tác giả lồng cảm xúc của

? Lời tiên đoán của tác giả đã bộc lộ khát vọng gì ?
? Cuối bài chiếu, Lí Công Uẩn đã tuyên bố gì ?
? Lời tuyên bố của Lí Công Uẩn có ý nghĩa gì ?
?Bài chiếu có những nét đặc sắc gì về nội dung, nghệ thuật ?
? Qua bài chiếu, em hiểu thêm gì về vua Lí Công Uẩn ?
? Hs đọc diễn cảm bài chiếu
- Đại La sẽ là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô
bậc nhất của đế vương muôn đời.
=>Thể hiện khát vọng về một đất nước vững mạnh, hùng cường.
-Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào
?
=>Khẳng định ý chí dời đô là đúng đắn, là hợp mệnh trời, hợp ý dân.
19
=> Khẳng định nước ta ngang hàng với phương Bắc.
Văn bản Hịch tướng sĩ
-Hs đọc phần mở bài.
? Những nhân vật nào được nêu gương ?
? Những nhân vật ấy có địa vị như thế nào, có cùng thời đại không ?
? Họ có điểm chung nào để trở thành gương sáng cho mọi người noi theo ?
? Em có nhận xét gì về cách nêu dẫn chứng và cách viết câu văn của tác giả ? Điều
này đã đem lại hiệu quả gì cho đoạn văn ?
? Phần mở bài đã đảm bảo được chức năng nào của bài Hịch tướng sĩ ?
1-Nêu gương sáng trong lịch sử:
-Có người là tướng như Do Vu, Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang, Xích Tu
Tư.
-Có người là gia thần như Dự Nhượng, Kính Đức.
-Có người làm quan nhỏ coi giữ ao cá như Thân Khoái.
->Các nhân vật được nêu gương có địa vị cao thấp khác nhau, thuộc các thời đại
khác nhau.
=>Sẵn sàng chết vì vua, vì chủ tướng, không sợ hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc

biếm – Khắc hoạ sinh động hình ảnh của kẻ thù, gợi cảm xúc căm phẫn cho người
đọc, người nghe.
=>Kẻ thù bạo ngược, vô nhân đạo, tham lam.
->Căm ghét, khinh bỉ kẻ thù và đau xót cho đất nước.
-Ta thường tới bữa quên ăn vui lòng.
->Cả đoạn có 2 câu văn, mỗi câu có 2 ý liên kết với nhau (nỗi đau xót- nỗi căm hờn
kẻ thù), dùng nhiều dấu phẩy, nhiều động từ, giọng điệu thống thiết tình cảm – Cực
tả niền uất hận trào dâng trong lòng và khơi gợi sự đồng cảm trong lòng người đọc,
người nghe.
21
? Sử dụng câu văn biền ngẫu, có cấu tạo 2 vế song hành đối xứng ấy có tác dụng gì
trong việc diễn tả mối quan hệ chủ tướng ?
? Sau khi bày tỏ quan hệ thân tình, tác giả đã phê phán lối sống sai lầm nào của
tướng sĩ?
? Những biểu hiện đó cho thấy một cách sống nào bị phê phán ?
? Tác giả đã phân tích hậu quả của cách sống này bằng những câu văn nào ?
? Những lời văn đó đã bộc lộ được thái độ gì của tác giả ?
? Tiếp theo, tác giả đã khuyên răn tướng sĩ những điều gì, những câu văn nào nói
lên điều đó ?
? Những lời khuyên trên nhằm mục đích gì, những câu văn nào nói lên điều đó ?
? Theo em, trong 2 đoạn văn trên, tác giả đã thuyết phục người đọc, người nghe
bằng một lối nghị luận như thế nào ?
b-Phê phán thói hưởng lạc cá nhân, từ đó thức tỉnh tinh thần yêu nước của
tướng sĩ:
-Các ngươi ở cùng ta kém gì.
->Liệt kê các câu có 2 vế song hành đối xứng (câu văn biền ngẫu) –
Diễn tả mối quan hệ gắn bó khăng khít không thể tách rời giữa chủ tướng đối với
tướng sĩ trên phương diện vật chất và tinh thần.
-Nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn,
-Lấy việc chọi gà làm vui hoặc mê tiếng hát.

=>Thể hiện thái độ dứt khoát, cương quyết, rõ ràng đối với tướng sĩ và thể hiện
quyết tâm chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược.
Văn bản Nước Đại Việt ta
-Hs đọc 2 câu đầu.
GV: Nhân nghĩa là đạo lí, là cách ứng xử và tình thương giữa con người với nhau;
yên dân là giữ yên cuộc sống cho dân, đem lại cuộc sống yên ổn cho dân; điếu phạt
là thương dân trừ bạo.
23
? Vậy theo em ý của 2 câu đầu là gì ?
? Từ đó có thể hiểu nội dung tư tưởng nhân nghĩa được nêu trong Bình Ngô đại cáo
là gì?
? Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi,
được mở đầu bằng tư tưởng nhân nghĩa vì dân, qua đó em hiểu gì về tính chất của
cuộc kháng chiến này ? (Chính nghĩa là phù hợp với lòng dân).
? Em hiểu gì về tư tưởng của người viết bài cáo này ?
1-Nguyên lí nhân nghĩa của cuộc kháng chiến
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
->Phải trừ giặc Minh bạo ngược để giữ yên cuộc sống cho dân.
=>Nhân nghĩa có nghĩa là lo cho dân, vì dân. Thể hiện tư tưởng tiến bộ vì dân,
thương dân.
-Hs đọc phần còn lại.
? Trong phần văn bản trình bày nền văn hiến Đại Việt, các biểu hiện nào được nói
đến? Thông qua những câu thơ nào ?
?Các lí lẽ này nhằm khẳng định biểu hiện nào của văn hiến Đại Việt ? Vì sao ?
? Tác giả đã nhắc tới những triều đại nào xây nền độc lập ? Các triều đại đó được
so sánh với những triều đại nào của Trung Quốc ?
? Em có nhận xét gì về biện pháp nghệ thuật được sử dụng mà tác giả sử dụng ở
đây ? Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó ?
? Qua đó tư tưởng và tình cảm nào của tác giả bộc lộ ?

thổ riêng, độc lập, tự chủ, và một lịch sử cũng như một nền văn hoá với những
phong tục riêng. Nhấn mạnh vào yếu tố văn hoá và lịch sử, trong quan niệm về
lòng yêu nước của Nguyễn Trãi có một yếu tố vốn đã manh nha từ thời Trần:
lòng tự hào. Tự hào về các bậc “hào kiệt đời nào cũng có”. Và sự quan tâm sâu
sắc đến số phận của dân chúng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Có điều sự
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status