Phương pháp hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm trong giờ học Vật lý ở bậc THCS
MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng
nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí. Điều này quyết định bởi đặc
điểm của khoa học Vật lí vốn là khoa học thực nghiệm và bởi nguyên tắc dạy học là
nguyên tắc trực quan “học đi đôi với hành”.
Thường thì, do kinh nghiệm sống học sinh đã có một số vốn hiểu biết nào đó về
các hiện tượng Vật lí. Nhưng không thể coi những hiểu biết ấy là cơ sở giúp họ tự
nghiên cứu Vật lí bởi vì trước một hiện tượng vật lí, học sinh có thể có những hiểu biết
khác nhau, thậm chí là sai. Ví dụ: Học sinh nào cũng thấy được mọi vật rơi là do Trái
Đất hút, nhưng không ít học sinh lại cho rằng vật nặng thì rơi nhanh hơn vật nhẹ. Vì
vậy, khi giảng dạy Vật lí, giáo viên một mặt phải tận dụng những kinh nghiệm sống của
học sinh, nhưng mặt khác phải chỉnh lí, bổ sung, hệ thống hoá những kinh nghiệm đó và
nâng cao lên mức chính xác, đầy đủ bằng các thí nghiệm Vật lí, nhờ đó mà tránh được
tính chất giáo điều, hình thức trong giảng dạy.
Làm các thí nghiệm Vật lí có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của
học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các
em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, điều đó rất cần cho
việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do
được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng, , các em
có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị dùng trong đời sống và sản
xuất sau này.
Đặc biệt, việc thực hiện các thí nghiệm Vật lí là rất phù hợp với đặc điểm tâm,
sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện cho học
1
sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học
tập Vật lí ở các cấp học trên.
Bộ giáo dục đã triển khai thay sách giáo khoa với mục tiêu là để giảm tải kiến
thức, tăng tính chủ động cho học sinh. Cụ thể, phần lớn các kiến thức mới đều được rút
ra từ các kinh nghiệm, nhiều tiết thực hành đã được đưa vào chương trình với sự giúp
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên hướng
dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
Ví dụ: Thí nghiệm về sự sinh ra lực của chất rắn khi dãn nở gặp vật cản.
b. Thí nghiệm kiểm chứng
Là thí nghiệm dùng để kiểm tra lại những kết luận được suy ra từ lí thuyết.
Ví dụ: Thí nghiệm kiểm tra lại hiện tượng suy ra từ lí thuyết ở bài tập 1 – Bài 30:
Bài tập vận dụng quy tắc nắm tay phải và quy tắc bàn tay trái - Vật lí 9.
3. Thí nghiệm củng cố:
Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao gồm cả
những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Vật lí trong đời sống và trong kỹ
thuật.
Ví dụ: Khi nghiên cứu về áp suất khí quyển giáo viên có thể làm thí nghiệm ứng
dụng để chế tạo ra áp kế như hình vẽ:
Hoặc: Khi học về chương âm học (Vật lí 7) có thể cho học sinh làm những chiếc
đàn bằng những kiến thức đã học.
II. THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH VẬT LÍ:
Thí nghiệm thực hành Vật lí là thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành đưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
*Phân loại:
3
Với dạng thí nghiệm này có nhiều cách phân loại, tuỳ theo căn cứ để phân loại:
1. Căn cứ vào nội dung:
Có thể chia thí nghiệm thực hành làm hai loại:
a. Thí nghiệm thực hành định tính.
Loại thí nghiệm này có ưu điểm nêu bật bản chất của hiện tượng.
Ví dụ: Thí nghiệm nghiên cứu tính dẫn nhiệt của các chất; nghiên cứu sự nóng
chảy, đông đặc của các chất.
b. Thí nghiệm thực hành định lượng.
Loại thí nghiệm này có ưu điểm giúp học sinh nắm được quan hệ giữa các đại
lượng vật lí một cách chính xác rõ ràng.
thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất hiện nay vì
có nhiều ưu điểm. Đó là:
+ Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung bình
đáng tin cậy hơn.
+ Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng dẫn,
sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
+ Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi thao tác
dẫn đến hạn chế kết quả.
+ Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
b. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần trong thời gian như nhau, sau đó phối hợp các
kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng.
Ví dụ: Trong bài “Công thức tính nhiệt lượng” - Vật lí 8. Giáo viên phân công:
+ Nhóm 1, 2: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần thu
vào để nóng lên và khối lượng của vật.
+ Nhóm 3, 4: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần thu
vào để nóng lên và độ tăng nhiệt độ của vật.
+ Nhóm 5, 6: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần thu
vào để nóng lên với chất làm vật.
=>Kết quả thí nghiệm của các nhóm khái quát thành công thức tính nhiệt lượng
vật thu vào để nóng lên: Q = m.c.
∆
t
-Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
+ Rèn luyện cho học sinh ý thức lao động tập thể.
+ Kích thích tinh thần thi đua làm việc giữa các nhóm.
-Một số hạn chế của loại thí nghiệm này: Mỗi nhóm không được rèn luyện đầy đủ
các kĩ năng làm toàn diện thí nghiệm.
6
1. Thí nghiệm phải đảm bảo thành công: Nếu thí nghiệm thất bại học sinh sẽ
mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên. Muốn làm tốt
được điều này, giáo viên phải:
-Am hiểu bản chất của các hiện tượng vật lí xảy ra trong thí nghiệm.
-Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng với
những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa. Muốn vậy, giáo
viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài.
2. Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí. Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ khó
tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy giáo án. Muốn vậy giáo viên phải hạn chế tối
đa thời gian lắp ráp thí nghiệm, phải làm trước khi lên lớp. Thí nghiệm đảm bảo thành
công ngay không phải làm lại. Nếu thí nghiệm kéo dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi
bước coi như một thí nghiệm nhỏ.
3. Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát.
Để làm tốt điều này, giáo viên cần phải:
-Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể hiện
rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu. Dụng cụ phải có hình dáng, màu sắc
đẹp, hấp dẫn học sinh, có độ chính xác thích hợp.
-Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí. Điều này biểu hiện:
+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những dụng
cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong.
+ Bố trí sao cho cả lớp đêu nhìn rõ. Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên mặt
phẳng thẳng đứng. Nếu không được phải đem đến tận bàn cho học sinh xem. Giáo viên
cũng cần chú ý không che lấp thí nghiệm khi thao tác.
4. Sử dụng các vật chỉ thị thích hợp: Nhằm tập trung sự chú ý của học sinh về
những điều cần quan sát. Thí nghiệm phải có sức thuyết phục học sinh. Muốn vậy thí
nghiệm phải rõ ràng, chặt chẽ để học sinh không thể hiểu theo một cách nào khác, phải
loại bỏ triệt để những ảnh hưởng phụ, nếu không loại bỏ được thì phải làm thêm thí
nghiệm phụ để chứng tỏ ảnh hưởng phụ là không đáng kể.
7
-Giáo viên có thể dùng phương pháp đàm thoại kết hợp vẽ hình để học sinh lập
kế hoạch tiến hành thí nghiệm.
-Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và các thao tác mẫu.
b. Tiến hành thí nghiệm
-Nhóm trưởng nhận dụng cụ, điều khiển nhóm tiến hành thí nghiệm. Các nhóm
học sinh tiến hành thí nghiệm. Giáo viên theo dõi chung và giúp đỡ nhóm gặp khó khăn,
nếu cần thì giáo viên yêu cầu cả lớp ngừng thí nghiệm để hướng dẫn, bổ sung. Cần
tránh trường hợp một số em chuyên làm thí nghiệm, một số em chuyên ghi chép.
c. Xử lí kết quả thí nghiệm
-Với thí nghiệm thực hành khảo sát: Cả nhóm cùng dựa vào kết quả thí nghiệm
để thảo luận tìm ra kiến thức mới. Với thí nghiệm thực hành kiểm nghiệm, nhóm (hoặc
cá nhân) làm báo cáo kết quả thí nghiệm ghi rõ nhận xét và so sánh kết quả thí nghiệm
ghi rõ nhận xét và so sánh kết quả thí nghiệm với lí thuyết đã học.
-Chú ý: Với những thí nghiệm có tính toán: Mỗi học sinh tính toán độc lập theo
số liệu đã thu được và so sánh trong nhóm để kiểm tra lại.
d. Tổng kết thí nghiệm:
-Giáo viên phân tích kết quả của học sinh và giải đáp thắc mắc.
-Giáo viên rút kinh nghiệm và cách làm thí nghiệm của cả lớp.
MỘT SỐ BÀI SOẠN CỤ THỂ
Bài 15: THỰC HÀNH XÁC ĐỊNH CÔNG XUẤT CỦA CÁC DỤNG CỤ
ĐIỆN (VẬT LÍ 9)
I. Mục tiêu của tiết thực hành:
1. Kiến thức
Xác định được công suất của các dụng cụ điện bằng vôn kế và ampe kế.
2. Kĩ năng
Có kĩ năng mắc mạch điện và sử dụng các dụng cụ đo điện.
Có kĩ năng làm bài thực hành và viết báo cáo thực hành.
9
3. Thái độ
Có thái độ cẩn thận, trung thực. Hợp tác trong hoạt động nhóm.
U là hiệu điện thế (V)
I là cường độ dòng điện (A)
P là công suất (W)
+ Cần đo được hiệu điện thế
giữa hai đầu dụng cụ và
10
dụng cụ điện bằng TN ta cần
phải đo được các đại lượng
nào?
* Sử dụng các dụng cụ đo điện
nào để đo hiệu điện thế? Nêu
cách mắc dụng cụ đo điện đó
vào mạch điện?
*Sử dụng các dụng cụ đo điện
nào để đo cường độ dòng điện?
Nêu cách mắc dụng cụ đo điện
đó vào mạch điện?
* Lên bảng vẽ sơ đồ mạch điện
TN xác định công suất của một
bóng đèn điện bằng ampe kế và
vôn kế?
GV: Cho HS dưới lớp nhận xét,
chốt sơ đồ đúng.
* Từ sơ đồ, nêu vai trò của
ampe kế, vôn kế?
* Muốn xác định công suất của
bóng đèn điện ở những hiệu
cường độ dòng điện chạy
qua dụng cụ khi đó.
+ Đo hiệu điện thế bằng
được nối với hai chốt của biến
trở như thế này, vậy cần dịch
chuyển con chạy về phía nào để
điện trở của biến trở tham gia
vào mạch là lớn nhất?
GV: Nhận xét về sự chuẩn bị
bài về nhà của lớp.
GV: Đặt vấn đề vào bài mới:
Để giúp các em vận dụng
những kiến thức vừa nêu, tiết
học hôm nay chúng ta đi thực
hành xác định công suất của các
dụng cụ điện.
GV: Thông báo cách chấm
điểm của tiết TH: Cô sẽ chấm
với nguyên tắc: 5 điểm báo cáo,
3 điểm kĩ năng thực hành trên
lớp do cô chấm và 2 điểm ý
thức do nhóm bình bầu vào cuối
giờ. Tổng điểm là 10. Vì vậy cô
mong các em cùng cố gắng.
đèn.
+ Cá nhân HS quan sát, trả
lời theo yêu cầu của GV,
nhận xét câu trả lời của bạn.
-Cá nhân nắm vấn đề cần
nghiên cứu của tiết học, ghi
tên bài học vào vở.
Bài 15:
THỰC HÀNH XÁC
2. Báo cáo thực hành:
Hoạt động 3: Thực hành xác định công suất của bóng đèn với các hiệu điện thế khác
nhau (14 phút)
* Để thực hiện nội dung này
cần những dụng cụ nào?
- Cá nhân nêu lên dụng cụ
cần dùng.
II. Nội dung thực
hành:
* hãy đọc thông tin hướng dẫn
thực hành của mục I phần II
trong SGK để cùng nhau thảo
luận nêu lên các bước tiến hành
nội dung này?
GV: Cho 2 HS nêu, chốt các
bước bằng bảng phụ, yêu cầu
- Nhóm đọc SGK, thảo
luận, nêu các bước tiến
hành của TN.
- Cá nhân đọc lại một lần
nữa các bước tiến hành.
1. Xác định công suất
của bóng đèn với các
hiệu điện thế khác
nhau:
Bước 1: Mắc mạch điện
theo sơ đồ, đặt biến trở ở
giá trị lớn nhất.
13
HS đọc lại.
=>I
1
= I
a
= ?
Bước 3: Lặp lại bước 2
với:
U
2
= U
v
= 1,5V =>I
2
= ?
U
3
= U
v
= 2,0V => I
3
= ?
Bước 4: Thảo luận
nhóm hoàn thành ý a, b
của phần 2 trong báo
cáo.
Nhận xét: ?
Hoạt động 4: Thực hành xác định công suất của quạt điện
(9 phút)
* Đê thực hiện nội dung này
cần những dụng cụ nào?
GV: Yêu cầu nhóm trưởng điều
khiển nhóm để các thành viên
trong nhóm đều được tiến hành
và hoàn thành TN trong 6 phút.
Chú ý trong thao tác: thực hiện
đúng quy tắc mắc biến trở trước
khi bật nguồn và đóng công tắc.
*Công suất của quạt điện đo
được trong TN được gọi là gì ?
Vì sao?
- Nhóm trưởng nhận dụng
cụ điều khiển nhóm thực
hiện theo yêu cầu của GV.
+ Công suất của quạt điện
đo được trong thí nghiệm
này được gọi là công suất
định mức của quạt vì hiệu
điện thế thực tế đạt vào hai
đầu quạt bằng hiệu điện thế
định mức của quạt.
=>I
1
= I
a
= ?
Bước 3: Lặp lại bước 2
với:
U
2
= U
- Nhóm bình bầu chấm
điểm về ý thức thực hành
của từng thành viên trong
nhóm.
- Cá nhân trả lời:
Nếu tăng hoặc giảm hiệu
điện thế giữa hai đầu dụng
cụ điện đi n lần thì công
suất tiêu thụ điện của dụng
cụ sẽ tăng hoặc giảm đi n
2
.
15
bước đo công suất tiêu thụ của
bóng đèn đó?
GV: thông báo: Dựa trên cơ sở,
cách tiến hành TN như hôm
nay, trong kĩ thuật người ta chế
tạo ra dụng cụ đo trực tiếp công
suất. Dụng cụ đó có tên gọi là
oát kế. Thang đo của oát kế
được chia vạch theo tích P =
U.I
GV: Nhận xét, rút kinh nghiệm
về:
- Thao tác TN.
- Thái độ học tập của nhóm.
- Ý thức kỉ luật.
+ Khi dụng cụ được dùng ở
hiệu điện thế định mức thì
- Có kỹ năng thực hành khi thao tác thí nghiệm, kỹ năng đề xuất phương án thí
nghiệm.
3. Thái độ
Cẩn thận, tích cực, trung thực trong thí nghiệm.
II. Chuẩn bị đồ dùng:
1. Cho mỗi nhóm HS:
- 1 thấu kính hội tụ có tiêu cự cần đo.
- 1 vật sáng hình chữ F khoét trên màn chắn sáng.
- 1 nguồn sáng.
- 1 màn hứng nhỏ (màu trắng).
- 1 giá quang học có thước đo.
2. Lớp
Giấy trong ghi tóm tắt các bước thí nghiệm.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Đo chiều cao của vật : h = mm.
17
Bước 2: Đo vật và màn ảnh ở khá gần thấu kính, cách thấu kính những khoảng
bằng nhau. Dịch chuyển đồng thời vật và màn ảnh ra xa thấu kính những khoảng bằng
nhau => dừng khi thu được ảnh rõ nét.
Bước 3: Kiểm tra điều kiện d’ = d, h’ = h có thoả mãn không.
Bước 4: Khi 2 điều kiện trên đã thoả mãn thì đo khoảng cách từ vật tới màn ảnh
và tính tiêu cự của thấu kính theo công thức : f = (d’ + d) / 4.
Làm thí nghiệm thêm 2 lần, hoàn thành các kết quả đo vào báo cáo thí nghiệm.
Tính giá trị trung bình của tiêu cự thấu kính đo được.
- Mỗi HS chuẩn bị một mẫu báo cáo thí nghiệm đã trả lời sẵn các câu hỏi.
III. Tiến trình bài giảng
1. Ổn định tổ chức (1 phút):
2. Kiểm tra bài cũ (3 phút)
H: Nêu kết luận về sự tạo ảnh của một vật trước thấu kính hội tụ?
GV: Cho HS khác nhận xét và chốt đáp án.
thức do nhóm bình bầu vào cuối
giờ. Tổng điểm là 10. Vì vậy cô
mong các em cùng cố gắng.
- Cá nhân ghi tên bài học
vào vở.
THỰC HÀNH ĐO
TIÊU CỰ CỦA
THẤU KÍNH HỘI
TỤ
Hoạt động 2: Trình bày việc chuẩn bị báo cáo thực hành, đó là việc trả lời câu hỏi về
cơ sở lí thuyết của bài thực hành (10 phút)
GV: Giờ trước cô đã dặn các em
về nhà chuẩn bị báo cáo thí
nghiệm trong đó trả lời sẵn các
câu hỏi.
H: Lớp phó học tập báo cáo kết
quả chuẩn bị bài của lớp?
GV: Vẽ hình lên bảng.
H: 1 em lên bảng dựng hình ảnh
A’B’ của vật AB khi d = 2f,
AB
∆
, A
∈
∆
.
H: Dưới lớp nêu cho cô cách
dựng ảnh của một vật AB khi
AB
∆
thể rút ra được công thức tính
tiêu cự của thấu kính như thế
nào?
GV: Giới thiệu: Trong tiết thực
hành hôm nay chúng ta sẽ sử
của thấu kính, A nằm trên
trục chính), chỉ cần dựng
ảnh B’ của B bằng cách vẽ
đường truyền của hai tia
sáng đặc biệt, sau đó từ Bs
hạ vuông góc xuống trục
chính ta có ảnh A’ của A.
- Cá nhân HS trả lời theo
yêu cầu của GV:
+ Chứng minh:
Tứ giác ABIO là hcn =>
OF’ là đường trung bình của
∆
BIB’.
=>
∆
ABO =
∆
A’B’O.
=> AO = A’O (d = d’).
AB = A’B’ (h = h’).
- Cá nhân HS trả lời theo
yêu cầu của GV:
AB
∆
được các bước thực hiện.
+ Dụng cụ: 1 thấu kính hội
tụ có tiêu cực cần đo, 1 vật
sáng có dạng chữ F, 1 màn
ảnh, 1 giá quang học có các
giá đỡ vật và có gắn thước
đo.
- Cá nhân HS quan sát các
dụng cụ GV giới thiệu và
nắm cách sử dụng chúng.
- Cá nhân HS nêu cách bố
trí và tiến hành TN. Trả lời
theo yêu cầu của GV.
+ Khi có ảnh rõ nét thì vị trí
của màn ảnh là vị trí của
ảnh.
+ Vì cảm nhận độ rõ nét của
ảnh ở mỗi người khác nhau
nên phải kiểm tra lại hai
điều kiện.
- Nắm các bước TN do GV
chốt.
3. Báo cáo thực
hành:
Hoạt động 3: Thực hành đo tiêu cự của thấu kính hội tụ
(20 phút)
GV: Phát dụng cụ TN cho các
nhóm. Hướng dẫn cách lắp ráp
- Nhóm trưởng nhận dụng
cụ, phân công công việc cho
H: Báo cáo kết quả TN của
nhóm?
H: Tại sao các nhóm lại có kết
quả khác nhau đến như vậy?
GV: Cho các nhóm kiểm tra kích
thước, độ dày của các nhóm để
tìm ra nguyên nhân, rút ra nhận
xét: Với các thấu kính cùng loại
có cùng kích thước, thấu kính
nào dày hơn thì có tiêu cự nhỏ
- Cá nhân hoàn thành báo
cáo TN dựa trên kết quả TN
của nhóm.
- Đại diện nhóm báo cáo kết
quả TN của nhóm.
- Các nhóm thảo luận rút ra
nhận xét.
III. Hoàn thành báo
cáo.
22
hơn.
H: Qua tiết thực hành hôm nay,
các em nắm được những kiến
thức gì?
GV: Mở rộng: Phương pháp
chúng ta tiến hành có tên gọi là
phương pháp Đin – Bec man.
Ngoài phương pháp này ra còn
có thể sử dụng phương pháp Bét
– xen với công thức xác định là:
IV: Về nhà
IV: Rút kinh nghiệm
o0o
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA QUÁ TRÌNH
23
GIẢNG DẠY.
Năm học 2008-2009 là năm học thứ 7 thực hiện theo chương trình sách giáo khoa
mới trên toàn quốc. Với sự trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị đồ dùng dạy học, cùng
với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã đạt được một số kết quả trong quá trình giảng
dạy của mình. Cụ thể:
1. Về kiến thức
Học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản của các bài học dựa trên cơ sở tái
hiện lại được các thí nghiệm của bài học. Có mở rộng và nâng cao một số kiến thức phù
hợp cho đối tượng học sinh giỏi.
2. Về kĩ năng
Học sinh có kĩ năng quan sát các hiện tượng và quá trình vật lí để thu thập các dữ
liệu thông tin cần thiết. Kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường Vật lí phổ biến, lắp ráp
và tiến hành các thí nghiệm Vật lí đơn giản. Kĩ năng phân tích, xử lí các thông tin và
các dữ liệu thu được để giải thích được một số hiện tượng Vật lí đơn giản, để giải các
bài tập Vật lí đòi hỏi những suy luận lôgíc và những phép tính cơ bản cũng như để giải
quyết một số vấn đề trong cuộc sống. Kỹ năng đề xuất các dự án hoặc các giả thuyết
đơn giản về các mối quan hệ về bản chất của các hiện tượng hoặc sự vật Vật lí. Có khả
năng đề xuất phương án thí nghiệm đơn giản để kiểm tra dự đoán hoặc giả thuyết đã đề
ra. Có kĩ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngôn ngữ Vật lí.
3. Về tình cảm thái độ
Học sinh có hứng thú trong việc học tập bộ môn Vật lí cũng như áp dụng các kiến
thức kĩ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng. Có thái độ trung
thực tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc thu thập thông tin, trong quan sát và thực hành
thí nghiệm. Có tinh thần hợp tác trong học tập, đồng thời có ý thức bảo vệ những suy
nghĩ và việc làm đúng đắn. Kết quả chất lượng đại trà đạt được nâng lên rõ rệt.