Tìm hiểu tư tưởng quân sự Phan Bội Châu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN ANH TUẤN

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Phạm Xanh
Hà Nội 2010 1
MỤC LỤC

60 60
67
73
82
91
94

103
103
129
138

140 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đầu kỷ XX, bên cạnh sự hiện diện của truyền thống tư tưởng, văn hoá
dân tộc mà nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập, tự cường được nuôi
dưỡng suốt hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, những chuyển biến
về cơ cấu kinh tế - xã hội trong nước và trào lưu tư tưởng tư sản phương Tây qua
Nhật Bản, Trung Quốc… tràn vào nước ta tạo nên tiền đề mới cho cuộc vận động
giải phóng dân tộc. Trong giới sĩ phu yêu nước thức thời lúc bấy giờ xuất hiện
hai xu hướng tư tưởng khác nhau trong vấn đề lựa chọn phương pháp đấu tranh
giành độc lập dân tộc. Khuynh hướng thứ nhất, do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ
trương bạo động vũ trang, đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, rồi

Và như lịch sử đã minh chứng, tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu đã
có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân ta kiên
trì đứng lên chống thực dân Pháp suốt những thập kỷ đầu thế kỷ XX, để lại nhiều
bài học kinh nghiệm quí cho cách mạng Việt Nam. Tuy không đi đến thành công,
nhưng tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu trong phong trào giải phóng dân tộc
đầu thế kỷ XX với những nhân tố tiến bộ cũng như hạn chế của nó đều có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc, bởi đó là sự tích luỹ cần thiết, bước đệm quan trọng
chuẩn bị cho bước nhảy vọt tất yếu trong tiến trình phát triển đường lối quân sự
của cách mạng Việt Nam về sau.
Lênin đã chỉ ra rằng “Khi xét công lao lịch sử của các nhân vật lịch sử
người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống hiến được gì so với những đòi hỏi
của thời đương đại, mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được gì mới so với các

5
bậc tiền bối của họ” [95, tr.214-215]. Thiết nghĩ, việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu không chỉ giúp cho hậu thế có sự nhìn nhận, đánh giá sâu
sắc hơn, toàn diện hơn những cống hiến của Phan Bội Châu đối với tiến trình
phát triển của lịch sử dân tộc, mà hơn thế, từ việc soi rọi một cách khách quan,
khoa học tư tưởng quân sự Phan Bội Châu cả hai mặt thành công, cũng như hạn
chế, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ hiện tại là vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn vấn đề “Tìm hiểu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu” làm đề tài luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước lớn tiêu biểu cho phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm đầu thế kỷ XX; đồng
thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn, nhà tư tưởng có vị trí quan trọng trong lịch sử
cận đại. Vì thế, nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu từ rất sớm
đã thu sự quan tâm của giới sử học, văn học, triết học… trong và ngoài nước. Về
mảng đề tài đề tài nghiên cứu tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu, mặc dù chưa

trong thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ XX một số bộ lịch sử cận đại Việt
Nam cũng được xuất bản như: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp của Trần Huy
Liệu, (Nxb Văn Sử Địa, tập1, H, 1956); Lịch sử cận đại Việt Nam của các tác giả
Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Hoàng Văn Lân - Nguyễn Văn Sự - Đặng
Huy Vận (Nxb Giáo Dục, H, 1961). Các tác phẩm trên, trong khi trình bày lịch sử
cận đại Việt Nam đã giành dung lượng khá lớn đề cập một cách hệ thống các giai

7
đoạn hoạt động cùng những đóng góp của phan Bội Châu đối với phong trào giải
phóng dân tộc đầu thế kỷ XX.
Từ giữa những năm 1960 đến 1975, kế thừa thành quả của những người
đi trước và trên cơ sở sưu tầm thêm được nhiều tư liệu mới, việc nghiên cứu Phan
Bội Châu không chỉ dựng lại ở việc trình bày quá trình hoạt động cứu nước của
ông theo trình tự thời gian mà đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện những đóng
góp, hạn chế của Phan Bội Châu trên tất các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quân
sự. Nếu như Tôn Quang Phiệt và Trần Huy Liệu được biết đến là những người
đầu tiên nghiên cứu ở miền Bắc thì Chương Thâu là người kế tục xứng đáng.
Ngay từ giai đoạn này, Chương Thâu đã trở thành một chuyên gia về Phan Bội
Châu với một loạt bài nghiên cứu như Nguồn gốc chủ nghĩa yêu nước Phan Bội
Châu (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 88, tháng 7-1966); Về cuốn Việt Nam nghiã
liệt truyện (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 151, năm 1973) và nhiều bài khác.
Ngoài ra, phải kể đến nhiều bài nghiên cứu của các tác giả khác: Đinh Xuân
Lâm: Nhân đọc một số tác phẩm góp phần đánh giá tư tưởng Phan Bội Châu
(Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 94, năm1967); Đặng Huy Vận: Phan Bội Châu và
cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch
sử, số 96, tháng 9-1967); Trần Huy Liệu: Phan Bội Châu tiêu biểu cho những
cuộc vận động yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch sử,
số 105, năm 1967); Nguyễn Trường: Nhận thức của Phan Bội Châu về vai trò
của quần chúng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc (Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử, số 143, năm1973).

Khoa học xã hội, H, 1999). Các công trình, chuyên luận kể trên ở mức độ nhất định
đều đề cập đến chủ trương bạo động và quan điểm quân sự của Phan Bội Châu. Đặc

9
biệt, năm 1998, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Phạm Xanh, sinh viên Nguyễn Thị
Hồng Thuý đã bảo vệ thành công Khoá luận tốt nghiệp với chủ đề Tìm hiểu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu. Tuy nhiên, do yêu cầu của một khoá luận và giới hạn về
thời gian, nên tác giả chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở,
quá trình hình thành và những nội dung chính của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
mà chỉ dừng lại mức độ trình bày bối cảnh, nêu ra một số tư tưởng Phan Bội Châu,
trong đó có một số nội dung tư tưởng quân sự. Hơn nữa, khoá luận chỉ giới hạn thời
gian đến năm 1912 nên chưa bao quát được toàn bộ sự nghiệp và những quan điểm
quân sự của Phan Bội Châu; mặt khác, do chưa có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn tài
liệu nên tác giả chưa có sự luận giải một các thấu đáo, sâu sắc vấn đề đặt ra. Dù vậy,
khoá luận cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu.
Năm 2000, bộ sách Phan Bội Châu - Toàn tập (gồm 10 tập) được tái bản,
đánh dấu một chặng đường nghiên cứu Phan Bội Châu của soạn giả Chương
Thâu và giới nghiên cứu. So với lần xuất bản năm 1990, lần này có thêm trên
5000 trang bản thảo (kể cả phần nguyên văn chữ Hán), được sưu tầm, dịch chú,
biên soạn bổ sung. Trong đó nhiều tác phẩm giá trị vừa được phát hiện như Việt
Nam vong quốc thảm (tuồng mới), Hà Thành liệt sĩ truyện (truyện kí lịch sử)…
Các Văn kiện của Việt Nam Quang Phục hội (1912), Các văn kiện của Việt Nam
Quốc Dân đảng (1924)… Trước một số văn bản có in thêm tiểu dẫn hoặc một bài
nghiên cứu, giới thiệu của Chương Thâu hoặc chuyên gia nghiên cứu sâu về tác
phẩm đó. Ngoài ra, năm 2004, Chương Thâu còn cho ra mắt cuốn sách Nghiên
cứu Phan Bội Châu, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004), tập hợp một số công
trình, bài nghiên cứu của tác giả.

10

Trong số các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về Phan Bội
Châu, tác phẩm được xem là đầy đủ nhất, có tính tổng hợp là cuốn Phong trào
dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á- tư tưởng Phan Bội
Châu về cách mạng và thế giới (gồm 2 tập) của học giả người Nhật Shiraishi
Masaya, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000). Tác phẩm đã trình bày khái quát bối
cảnh lịch sử Việt Nam, thân thế Phan Bội Châu; phân tích chuyển biến tư tưởng
và nhận thức của Phan Bội Châu về con đường cứu nước qua các giai đoạn hoạt
động…trong đó tác giả dành một số chuyên mục đề cập đến lập trường đấu tranh
vũ trang, quan điểm về tập hợp lực lượng, tranh thủ ngoại viện của Phan Bội
Châu một cách hệ thống, khoa học … Ngoài ra còn có tác phẩm Việt nam và
Nhật Bản giao lưu văn hoá, (Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) của tác
giả Vĩnh Sính. Đây là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho tác
giả thực hiện luận văn này .
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập trực
tiếp hoặc gián tiếp những quan điểm quân sự của Phan Bội Châu, nhưng chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, đầy đủ và
hệ thống, trên phương diện lịch sử tư tưởng quân sự mà chúng tôi đã lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ sự hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự
Phan Bội Châu. Chỉ ra được những đóng góp cũng như hạn chế của tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu. Từ đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm. 12
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu.
- Hệ thống hoá, khái quát hoá những tư liệu đã có, bổ sung thêm những
tư liệu mới, góp phần khôi phục một cách khách quan những nội dung cơ bản của

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tư liệu mới, xử lý nguồn tư
liệu một cách khoa học, luận văn có những đóng góp sau:
- Khai thác một khối lượng tư liệu phong phú, đa dạng về tư tưởng quân
sự của Phan Bội Châu
- Góp phần làm sáng tỏ những điều kiện chủ quan và khách quan chi phối đến
chủ trương, đường lối và hoạt động quân sự của Phan Bội Châu
- Làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu.
- Bước đầu đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn những
đóng góp và hạn chế của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, rút ra một số kinh
nghiệm chủ yếu.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hay phục vụ công tác
giảng dạy cho những môn học có liên quan 14
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1. Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Chương 2. Nội dung tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Chương 3. Nhận xét và bài học kinh nghiệm

phản ánh tư duy, năng lực chủ quan của Phan Bội Châu. Do đó, muốn hiểu sâu
sắc tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, cần làm rõ những cơ sở, điều kiện khách
quan, chủ quan khiến cho tư tưởng quân sự của ông vừa mang dấu ấn của lịch sử
truyền thống dân tộc, thời đại, vừa mang những nét riêng độc đáo.
1.1.1- Thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân Việt Nam bằng
bạo lực.
Nếu như hồi đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là một nước độc lập và thống nhất,
thì vào những năm cuối cùng của thế kỷ đó tên nước ta đã bị mất trên bản đồ thế
giới, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.
Dựa vào sức mạnh quân sự với vũ khí trang bị hiện đại, từ giữa thế kỷ
XIX, thực dân Pháp lần lượt chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, rồi mở rộng đánh chiếm
các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cuối cùng gây sức ép quân sự, buộc triều đình Huế
ký Hiệp ước Patơnốt (6 - 6 - 1884) công nhận nền thống trị của Pháp trên toàn
lãnh thổ Việt Nam. Trong suốt 40 năm kể khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm
bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) chính thức công khai chiến tranh xâm lược Việt Nam
(1858), đến khi thực dân Pháp cơ bản “bình định” xong Việt Nam vào năm 1896,

16
mọi diễn biến của tư tưởng lớn của dân tộc đều tuỳ thuộc vào nhiệm vụ bao trùm
là đối phó với nạn ngoại xâm, khôi phục chủ quyền đất nước.
Để nhanh chóng bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã huy động tất cả
binh lực, mở nhiều cuộc tấn công qui mô lớn hòng dập tắt phong trào đấu tranh
của nhân dân ta. Hàng vạn người dân Việt Nam yêu nước bị chúng bắt bớ, giam
cầm, giết hại. Không biết bao nhiêu làng xóm bị tàn phá. Trong triều đình Huế,
những ông vua có tinh thần chống Pháp như Thành Thái, Duy Tâm, Hàm Nghi
đều lần lượt bị bắt và đày đi an trí. Cả một phong trào rộng lớn mang tinh thần
“trung quân ái quốc” của các văn thân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê
của Phan Đình Phùng ở miền Trung, khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện
Thuật ở đồng bằng Bắc Bộ, với sự phối hợp với Nguyễn Quang Bích đều lần lượt
bị đàn áp. Nghĩa quân Yên Thế tiêu biểu cho sức phản kháng của nông dân, nổi

Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ; gây chia rẽ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số;
giữa miền xuôi - miền ngược; giữa lương - giáo ; dụ dỗ những phần tử phong
kiến đầu hàng để duy trì bộ máy quản lý cũ kỹ, lạc hậu ở các làng xã và bộ máy
vua quan phong kiến để làm công cụ bóc lột nhân dân ta.
Song song với tổ chức hành chính, chúng thiết lập bộ máy bạo lực khổng
lồ với các lực lượng quân sự, cảnh sát, toà án và hệ thống nhà tù dày đặc nhằm ngăn
chặn, dập tắt mọi sự phản kháng, hành động yêu nước của các tầng lớp nhân dân.
Tháng 7- 1900, thực dân Pháp ra đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa bao
gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính người các nước thuộc địa. Hội đồng
phòng thủ Đông Dương do Toàn quyền làm chủ tịch, có quyền huy động quân
đội, lập các đạo quan binh, tuyển chọn binh lính và phân bố lực lượng. Trực tiếp
điều khiển quân đội ở Đông Dương là một viên tổng chỉ huy người Pháp. Dưới

18
quyền Tổng chỉ huy có Tổng tham mưu trưởng và các viên chỉ huy bộ binh, hải
quân, pháo binh.
Lực lượng vũ trang của thực dân Pháp ở Đông Dương không ngừng được
tăng cường về số lượng và trang bị, vũ khí. Các binh chủng lần lượt được thành
lập: Pháo binh (1899), kị binh (1900), công binh (1903), đội cầu, thông tin, vẽ
bản đồ bổ sung thêm tướng tá, lấy binh lính bản xứ ngày một đông, tổ chức
những đội quân dự bị (1898), tăng cường lính da đen Châu Phi (cuối 1900), lập
phòng tuyể lính và dự trử ở Hà Nội, Sài Gòn (1901).
Thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách“ dùng người Việt trị người
Việt”, dùng binh lính thuộc địa để lấn chiếm thuộc địa và đàn áp các phong trào
yêu nước. Từ năm 1904, chúng ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ
từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải thuộc diện đi lính. Thời hạn là 5 năm, hết hạn có thể
xin ở lại. Hạn tại ngũ tối đa là 20 năm. Đồng thời ban bố sắc lệnh tổ chức lực
lượng quan dự bị người bản xứ ở Đông Dương. Ngoài quân đội chính qui, chúng
còn tổ chức đội lính khố xanh chuyên để đàn áp các cuộc khởi nghĩa hoặc canh
giữ các nhà tù, phục vụ ở các đạo quan binh. Tại các phủ, huyện, châu còn có bọn

tội những người “phiến loạn”.
Ở Bắc Kỳ, có hai loại toà án, toà án Tây và toà án Nam. Các tỉnh đều có
toà án hỗn hợp dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam. Còn ở
cấp kỳ, thì từ năm 1896, thực dân Pháp lập ra Hội đồng đề hình Hà Nội để xét xử
những người Việt nam yêu nước có hành động chống Pháp ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ. Ở cấp phủ, huyện, châu, quyền hành chính và tư pháp đều nằm trong tay bọn

20
tri phủ, tri huyện, tri châu. Ở các làng xã, bọn kỳ hào hoành hành dường như
không có giới hạn. Gắn liền với tổ chức toà án là cảnh sát, nhà tù, trại giam. Tỉnh
nào cũng có cảnh sát và từ huyện trở lên đều có nhà tù và trại giam
Trong 10 năm (1902 - 1912), toà án thực dân đã kết án 24.380 người, từ bị
tù giam khổ sai, chung thâm và tử hình. Các nhà tù ở Hà Nội, Sơn La, Thái
Nguyên, Lao Bảo, Sài Gòn, Côn Đảo…luôn chật ních tù nhân. Riêng ở Côn Đảo,
năm 1912 chúng đã giam tới 1.326 tù nhân. Về chi phí, riêng ở Bắc Kỳ, năm
1909 tiền chi tiêu để “giữ gìn trật tự (hành chính, cảnh sát, sen đầm, khố xanh)
gấp 4 lần khoản tiền chi cho giáo dục, y tế, nông nghiệp, công chính.
Có thể nói, bộ máy chính quyền thực dân được thiết lập trên cơ sở của sự
cấu kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến phản động. Đó là
bộ máy thống dựa chủ yếu vào sức mạnh quân sự, dùng vũ lực để ngăn chặn, đàn
áp mọi hành động yêu nước của nhân dân ta. Bằng phương thức kết hợp chặt chẽ
bạo lực công khai kết hợp với chính sách ngu dân thâm độc, thực dân Pháp đã
dùng những thủ đoạn phản động nhất để vô hiệu hoá chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam, đặt mọi phong trào yêu nước vào tình cảnh “bất khả kháng”. Tất cả các thủ
lĩnh của phong trào “hợp pháp” đều bị tách khỏi quần chúng, đày đi an trí; tất cả
những người cầm đầu nghĩa quân nếu không bị giết hại tại trận cũng bị chúng
chặt đầu bằng máy chém; tất cả nhân sĩ, trí thức nếu không chịu ra làm quan,
phục vụ Nhà nước bảo hộ đều không còn đất dung thân.
Tình hình đó đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và tư
bản Pháp xâm lược càng thêm sâu sắc. Để giải quyết mâu thuẫn đó, đòi hỏi phải


22
Trung Quốc, nước láng giềng có quan hệ chặt chẽ, gần gủi với Việt Nam
thời kỳ này cũng có những chuyển biến mạnh mẽ. Để canh tân đất nước, chống
lại nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây, nhiều sĩ phu tiến bộ và tầng lớp
trí thức tư sản dấy lên phong trào đòi triều đình phong kiến nhà Thanh phải thực
hiện cải cách đất nước. Sau sự kiện Mậu Tuất chính biến (1898), các tư tưởng đổi
mới của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng… có ảnh hưởng lớn
đến Việt Nam; làn sóng tân văn, tân thư mang tư tưởng dân chủ tư sản và văn
minh phương Tây thông qua sách báo Trung Quốc tràn vào Việt Nam, gây nên sự
phân hóa tư tưởng trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các phong trào duy tân
do các sĩ phu tiến bộ khởi xướng.
Những Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc, từ Nhật Bản bằng nhiều con
đường khác nhau vào Việt Nam đã góp phần một luồng sinh khí mới, một sự lên
men mới về mặt tư tưởng đối với các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ, trong đó có
Phan Bội Châu.
Năm 1898, lần đầu tiên được tiếp xúc với Tân thư trong đó có tác phẩm
Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ, Doanh hoàn chí lược cùng với bài
Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu bắt đầu có những
rung động mới, những gợi mở đầy sức hấp dẫn về một chân trời xa lạ “làm cho tư
tưởng thế giới của tôi (Phan Bội Châu) bắt đầu nảy mầm” [7, tr.32].
Trung - Đông chiến kỷ, xuất bản năm 1896, của Lâm Lạc Tri (Young
Allen người Mỹ, chủ bút tờ Vạn quốc công báo). Chiến tranh Trung - Đông ở đây
chính là chiến tranh Trung Quốc– Nhật Bản (1894-1895). Nội dung cuốn sách
ghi chép quá trình giao chiến và giao thiệp giữa nhà Thanh (Trung Quốc) với
Nhật Bản, nhưng chủ ý của tác giả là vạch ra thực tế sự thất bại của Trung Quốc
trước Nhật Bản, làm cho người Trung Quốc nhận thức được sự cần thiết của cải
cách đất nước. Nhật Bản tuy chỉ là một nước nhỏ, nhưng nhờ cuộc cải cách minh

23

nản mà phải cố gắng khai thác mọi khả năng còn có thể được, nuôi chí phục thù.
Tác phẩm giải thích sự sụp đổ của triều Nguyễn không phải là do sự xâm
lược của giặc mạnh, mà sự sụp đổ đó cũng đã có nguy cơ từ rất sớm - ngay từ
khi nhà Nguyễn còn có vẻ hưng thịnh, nguy cơ từ thái độ tự cao, chuộng hư danh,
bảo thủ không chịu đổi mới…Cuối bài luận, ông đưa ra nhận định, các nước
phương Tây đi xâm chiếm, khai thác nước ngoài để làm giàu, nhưng cuối cùng sẽ
có một tác động ngược lại là khiến cho nước ấy tiến bộ, cường thịnh lên lúc đó
nước ấy sẽ cạnh tranh trở lại với chính nước đã xâm chiếm mình. Ông lấy gương
Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước, trong đó có Thái Lan để dẫn chứng cho lập
luận của mình. Đối với nước ta, ông cũng hy vọng những người yêu nước nắm
được qui luật ấy để dựng lại nước.
Như vậy, những sách mà Phan Bội Châu tiếp xúc trong thời gian ở Huế
lần thứ nhất (1889-1900) chủ yếu là các tác phẩm thời kỳ phong trào Dương vụ
Trung Quốc và các ghi chép về tình hình thế giới. Trong Phan Bội Châu niên
biểu, Phan Bội Châu kể lại: “Tôi xem những sách ấy mới hiểu sơ qua về tình hình
cạnh tranh thế giới và thảm trạng mất nước, nòi giống diệt vong, lòng tôi càng
được kích thích thêm…Từ đấy tư tưởng tháo củi sổ lồng của tôi bắt đầu rung
động. Dù đứng vào hoàn cảnh uất ức chưa trổ ra được tôi vẫn sẵn sàng đợi chờ cơ
hội” [7, tr.32].
Sau đó, Phan Bội Châu còn có cơ hội tiếp cận một số sách báo thời kỳ
phong trào biến pháp của Trung Quốc như Mậu Tuất chính biến, Trung Quốc hồn
và tờ Tân dân tùng báo của Lương Khải Siêu. Nội dung, ghi lại diễn biến của
cuộc chính biến Mậu Tuất (1898) và liệt truyện các liệt sĩ hy sinh trong quá trình
chính biến; bàn về nguồn gốc sự yếu kém của Trung quốc; sự giống nhau và khác

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status