1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Hồng Thắm
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Văn Đức Hà Nội-2013
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 11
4. Phương pháp nghiên cứu 12
5. Đóng góp của luận văn 12
6. Cấu trúc luận văn 12
NỘI DUNG 14
3.3.1. Kết cấu mở 95
3.3.2. Kết cấu lồng ghép 100
3.3.3. Kết cấu tâm lý 104
3.4. Giọng điệu trần thuật 106
3.4.1. Giọng điệu xót xa, ngậm ngùi 107
3.4.2. Giọng triết lý, tranh biện 109
3.4.3. Giọng ngợi ca 112
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng Ma Văn Kháng vẫn rất trẻ trung
và đặc biệt vẫn tỏ ra sung sức trong nghề cầm bút. Hơn 50 năm trong nghề,
Ma Văn Kháng đã sở hữu một gia tài nghệ thuật khá đồ sộ: 15 cuốn tiểu
thuyết, khoảng 200 truyện ngắn và một hồi ký văn học… Trong suốt hành
trình lao động nghệ thuật, Ma Văn Kháng luôn ý thức được sứ mệnh là viết để
bảo vệ và khẳng định những giá trị chân chính của con người, của sự sống.
Mỗi trang viết của ông không chỉ thấm đẫm những quan niệm nhân sinh thế
sự mà dường như soi thấu tâm can, gan ruột con người, mỗi tác phẩm vừa là
tiếng nói đồng cảm sẻ chia với nỗi đau khổ của con người vừa đấu tranh quyết
liệt cho cái đẹp, cái thiện ở cuộc đời.
Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở cả hai thể loại: Tiểu thuyết và
truyện ngắn. Nhiều tiểu thuyết của ông ở thập kỷ 80 đã từng gây xôn xao dư
luận và cho đến nay vẫn hấp dẫn người đọc: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá
rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)… nhưng Ma
Văn Kháng thực sự đặc sắc ở truyện ngắn. Truyện ngắn Ma Văn Kháng có vị
trí đặc biệt trong văn nghiệp của ông. Người đọc biết đến Ma Văn Kháng qua
thành công hơn ở những năm sau Đổi mới (1986). Ma Văn Kháng là cây bút
sung sức thời kỳ Đổi mới và tác phẩm của ông đã có nhiều sự đổi thay mới
mẻ để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Tìm hiểu truyện ngắn Ma Văn Kháng từ
thời kỳ Đổi mới chúng tôi mong muốn khái quát, khẳng định được chiều sâu
tư tưởng, giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng với
nền Văn học Việt Nam hiện đại, thấy được những thành tựu mới của nhà văn
thời kỳ này so với thời kỳ trước; qua đó thấy được bước chuyển mình của
Văn học Việt Nam nói chung thời kỳ Đổi mới. Nghiên cứu vấn đề nói trên sẽ
7
góp phần bổ sung vào việc đánh giá một cách hoàn chỉnh khái quát những
thành tựu nổi bật của truyện ngắn Ma Văn Kháng trong nền văn xuôi đương
đại.
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi tập truyện ngắn Xa phủ ra đời, giới phê bình văn học đã
quan tâm nhiều đến tác phẩm của Ma Văn Kháng. Bài viết sớm nhất là Đọc
Xa phủ của tác giả Bùi Văn Nguyên đăng trên báo Nhân dân ngày 5-7-1970.
Tính cho đến thời điểm hiện nay việc tìm hiểu và khám phá văn chương của
ông thật phong phú và đa dạng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài
báo, nhiều ý kiến đánh giá của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê
bình, nhà thơ, nhà văn được đăng tải trên các sách báo, tạp chí như: Bùi Hiển,
Trần Đăng Suyền, Lã Nguyên, Nguyễn Ngọc Thiện, Bùi Việt Thắng, Trần
Bảo Hưng, Trần Cương, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Văn Toại, Ông Văn
Tùng…
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đặc biệt chú ý đến những
bài viết về truyện ngắn của Ma Văn Kháng. Cùng với sự ra đời của những
truyện ngắn trước năm 1980, những bài viết phê bình chủ yếu tập trung vào
chất miền núi, dân tộc trong tác phẩm của Ma Văn Kháng. Ngày nay đọc
những truyện ngắn trước 1980 của ông, ta dễ dàng nhận thấy những điều còn
đơn giản, nông cạn – nói như chính tác giả “những truyện tôi viết những năm
Kháng “nghiêng về tính dự báo”, để người đọc có thể “nhận thức sâu sắc hơn
về con người và cuộc đời”. Là một chuyên gia về truyện ngắn, tác giả bài viết
có những nhận xét sâu sắc “truyện ngắn của Ma Văn Kháng thuộc loại truyện
có cốt truyện, dễ kể lại dễ nhớ nhưng không lấy cốt truyện làm mục đích, dù
nó là điển hình, mà cố nới rộng kích tắc của truyện ngắn tạo nên sức liên
9
tưởng lớn ở người đọc đến những vấn đề thiết thân trong đời sống xã hội và
mỗi con người”.
Trong bài “Cảm nhận về Đầm sen của Ma Văn Kháng” tác giả Nguyễn
Đăng Điệp lại có nhận xét, đó là “thứ văn đầy chất đời, đầy ắp hơi thở của sự
sống, sắc sảo biến hóa và tài hoa”. Đặc biệt khi nhận xét về thế giới nhân vật
trong sáng tác của Ma Văn Kháng, tác giả cho rằng: “trong cái thế giới biến
dạng và quay đảo này, con người rất dễ bị tha hóa biến chất”. Và trong thế
giới nhân vật ấy, nhà văn thực sự thành công ở việc xây dựng nhân vật phụ
nữ, họ “đời” nhất trong số các nhân vật của ông. Giọng văn của Ma Văn
Kháng là một giọng điệu rất riêng, nó “tưng tửng, điềm đạm, khách quan,
vượt qua cái vụn vặt theo lối kể lể để chạm đến một vấn đề khác lớn lao hơn”
[8].
Khi đọc tập Heo may gió lộng tác giả Trần Bảo Hưng đã có cảm nhận:
“Truyện anh viết thường có lớp lang, thứ tự, ít tiểu xảo mà hấp dẫn, ngòi bút
anh tỏ ra khách quan, điềm tĩnh nhưng vẫn thấm đượm tình yêu thương con
người, vẫn nhoi nhói nỗi đau trần thế. Không ít truyện của anh mang tính chất
luận đề và chất triết lý khá rõ nhưng vẫn nhuyễn, vẫn cuốn hút người đọc vì
văn của anh đậm đà, giàu hương vị, những chi tiết đời sống phong phú, tiêu
biểu và nhiều thuyết phục”.
Đáng chú ý là bài viết của tác giả Nguyễn Thị Huệ - “Đổi mới tư duy
nghệ thuật sáng tác của Ma Văn Kháng trong những năm 1980”. Tác giả có
những nhận xét xác đáng về tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng. Đó là “Ma
Văn Kháng đã nhìn thẳng vào sự thật”, và tiếp cận một hiện thực mới “một
về truyện ngắn Ma Văn Kháng là:
Phạm Mai Anh (ĐHSP Hà Nội 1997): Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn
Kháng từ sau 1980 - Luận văn thạc sĩ.
11
Nguyễn Tiến Lịch (2007) - Thi pháp truyện ngắn Ma Văn Kháng -
Luận văn thạc sĩ – ĐH KHXH&NV, ĐHQG HN.
Hà Thị Thu Hà (2003) - Thi pháp truyện ngắn Ma Văn Kháng sau năm
1980 - Luận văn thạc sĩ ĐHSP Hà Nội.
Đào Thị Minh Hường (2010) Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma
Văn Kháng từ 1986 tới nay - Luận văn thạc sĩ.
Trần Thị Hương Giang (2011) Truyện ngắn về đề tài miền núi của Ma
Văn Kháng - ĐHSP Hà Nội.
Nhìn chung, những đánh giá, ghi nhận của các học giả, nhà nghiên cứu
và công chúng về tác phẩm cũng như chặng đường sáng tác của Ma Văn
Kháng là đồng thuận và thống nhất. Ông được cả bạn đọc chuyên nghiệp và
không chuyên đón nhận nhiệt thành cũng như dõi theo từng bước cống hiến
cho nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang
tính hệ thống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về mảng truyện ngắn, đặc biệt
là đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng từ đổi mới đến nay. Phần nhiều các
nhà nghiên cứu mới đi vào một khía cạnh hoặc nghiêng về đào sâu vào tiểu
thuyết. Vì vậy, luận văn này hy vọng sẽ mang lại một cái nhìn toàn diện sâu
sắc hơn về đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật mảng truyện ngắn Ma
Văn Kháng từ thời kì đổi mới đến nay.
Những ý kiến đánh giá nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình đi
trước là những gợi ý thiết thực giúp chúng tôi quyết định triển khai đề tài này
cho công trình nhỏ của mình.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Mục đích khoa học của luận văn là khảo sát, tìm hiểu đặc điểm truyện
ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ sau đổi mới qua đó góp phần khẳng định chiều
13
Chương 1: Sáng tác của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của truyện
ngắn Việt Nam đương đại.
Chương 2: Những đặc điểm nội dung trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
thời kỳ đổi mới.
Chương 3: Những đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng
thời kỳ đổi mới.
14
NỘI DUNG
Chương 1. Sáng tác của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của truyện ngắn
đương đại Việt Nam
1.1. Khái quát chung về truyện ngắn đương đại Việt Nam
“Xét đến cùng, bất kỳ nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở
hiện thực nhất định… Bất kỳ tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ từ những vấn
đề trong cuộc sống”. Chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã mở ra một chân
trời mới cho đất nước Việt Nam, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VI (1986). Cùng với những chuyển đổi mạnh mẽ của đất nước,
nền văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới ngày càng sâu sắc toàn diện.
Người ta nói tới một sự đổi mới mạnh mẽ trong đời sống tư tưởng, trong quan
niệm về nghệ thuật và con người cũng như sự đổi mới về thi pháp thể hiện.
Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực
của thời kỳ vừa qua, phơi bày nhiều mặt trái còn bị che khuất, lên án những
lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên
bước đường phát triển của xã hội. Khuynh hướng này thể hiện sự cố gắng, nỗ
lực của những người cầm bút muốn đưa ra cái nhìn hợp lý, toàn diện hơn khi
đánh giá lại những sự kiện, con người của quá khứ, chỉ ra những bất cập còn
tồn tại trong quan niệm của văn học về cuộc đấu tranh mà dân tộc vừa trải
qua. Một khuynh hướng khác khá nổi trội bởi số lượng phong phú và ý nghĩa
Ma Văn Kháng sinh ngày 1/12/1936, tên thật là Đinh Trọng Đoàn, quê
gốc phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Ông được đánh giá
là một nhà văn lớn có những đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới của
nền văn xuôi đương đại Việt Nam.
16
Là chàng trai Hà thành chính hiệu nhưng Ma Văn Kháng có một thời
gian khá dài sống ở miền núi Tây Bắc. Ông tham gia quân đội từ khi còn là
thiếu sinh quân, sau đó được cử đi học ở khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc,
rồi được về làm hiệu trưởng trường cấp 2 thị xã Lào Cai. Được ít năm ông
quay trở về học Đại học Sư phạm Hà Nội, ra trường ông tiếp tục xung phong
lên dạy học ở thị xã Lào Cai, với cương vị Hiệu trưởng trường cấp 3. Về sau
ông chuyển sang làm báo và đã từng là Phó tổng biên tập tờ báo của Đảng bộ
tỉnh. Mãi đến năm 1976, Ma Văn Kháng mới chuyển về Hà Nội. Suốt hai
mươi năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống,
phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bút danh Ma Văn Kháng phần
nào nói lên tình yêu mà ông dành cho vùng đất giàu tình nghĩa ấy. Ông luôn
tâm nguyện rằng, phải sống chan hòa với đồng bào dân tộc, hãy sống hết
mình vì nhân dân trước đã, sau đó mới nói đến chuyện làm cái gì đó hợp với
sở trường của mình.
Từ sâu trong tâm khảm, nhà văn đã coi Tây Bắc là quê hương thứ hai
của mình. Tình yêu, sự gắn bó ấy đã thôi thúc ông viết văn, viết báo. Những
trang viết đầu tay của ông toát lên cái nhanh nhạy của một cây bút trẻ, hăm hở
vào nghề, tự tin, mạnh mẽ và thiết tha. Truyện ngắn Phố cụt được in báo năm
1961 đã mở đầu nghiệp văn của ông. Từ đó ông hăm hở đến các bản Mường,
vạch lau lách mà đi, sắn quần mà lội suối, chống gậy mà leo vách đá… để ghi
lại từng chi tiết của cuộc sống, để trải nghiệm mà viết. Cứ thế ông cần cù, bền
bỉ, chắt chiu từng giọt tinh túy của cuộc sống rồi bày lên tác phẩm. Ông viết,
xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng chiếm được cảm tình của
độc giả.
thương tích. Tôi không muốn một cái đẹp dễ dãi. Cái đẹp ấy phải mang màu
sắc bi tráng. Cái đẹp ấy đều trải qua những mất mát, thiệt thòi, thậm chí hi
18
sinh, bị vùi dập đến mức không còn chỗ đứng. Thế nhưng họ vẫn vươn lên
khẳng định nhân cách chính mình. Đó chính là cái đẹp rất cơ bản.
77 tuổi đời sống chung với thuốc và những cơn đau tim, ông không còn
khỏe về thể chất, song sức viết sức nghĩ của ông thì có lẽ nhiều người trẻ cũng
phải chào thua. Gần đây, khi đã qua tuổi 70, nhà văn Ma Văn Kháng vẫn tiếp
tục cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết được viết theo phong cách hoàn toàn mới
là Bóng đêm và Bến bờ. Với hai tác phẩm ấy, ông muốn chuyên chở những
tâm huyết, những vấn đề của số phận con người, những mặt trái, những dòng
chảy đang tiềm ẩn phức tạp đến với bạn đọc.
Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân nhận xét: “Có thể nói trong số
những cây bút cùng thời với anh, có người đã bỏ nghề, cũng có người viết
thưa đi… thế nhưng Ma Văn Kháng vẫn cặm cụi tìm tòi và kiên trì viết đều
lên, rất đều đặn. Và thật lạ, những tác phẩm của anh đều gây được chú ý.
Thành ra Ma Văn Kháng đã thu được một kết quả khả quan về mặt sáng tác.”
Một điều có thể nhận thấy dù cho gắn bó với miền núi hay thành thị thì
chính Ma Văn Kháng cũng đang tự trải mình với từng nhân vật, từng câu
chuyện, từng hoàn cảnh… làm giàu kho tàng ngôn ngữ của mình và để cho
đời nhiều tác phẩm hơn nữa. Và giờ đây, khi đã ở cái tuổi xưa nay hiếm Ma
Văn Kháng vẫn dành sự tận tâm, lòng say mê nghệ thuật và đau đáu với
nghiệp viết, ông đã và đang tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho nền văn
học đương đại Việt Nam.
1.2.2. Sự nghiệp
Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ cả về số lượng tác
phẩm và thành tựu: 15 tiểu thuyết, 25 tập truyện ngắn và 1 hồi ký, tính ra ông
đã viết hàng vạn trang văn trong đời mình. Hàng vạn trang văn ấy chỉ để giữ
lại một điều cuối cùng, là con người hãy đến với nhau bằng sự tử tế, bằng tình
20
dưỡng, trở thành xung lực mạnh mẽ khiến tôi viết được cả loạt truyện ngắn
tiếp theo với nhân vật, cuộc sống là vùng đồng bào các dân tộc, để năm 1969
tôi được nhà xuất bản văn học in cho tập truyện ngắn đầu tay cũng mang tên
Xa phủ” [11, tr. 184]; và liền ngay sau đó ông tiếp tục cho ra đời 4 tập truyện
ngắn: Mùa mận hậu (1972); Người con trai họ Hạng (1972); Bài ca trăng
sáng (1972); Cái móng ngựa (1974). Năm 1974 Ma Văn Kháng trở thành Hội
viên Hội nhà văn Việt Nam. Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976,
Ma Văn Kháng tạm biệt mảnh đất Lào Cai – miền Tây Bắc của tổ quốc để về
chính nơi ông được sinh ra: Hà Nội. Có thể nói 22 năm ấy “biết bao là tình”
nhưng cũng còn đó không ít “nhọc nhằn”, “nhớ thương”. Có lẽ, khi đã tạm
biệt mảnh đất Tây Bắc rồi, nhìn chặng đường đã qua, để bắt đầu đi tới, Ma
Văn Kháng đã không thể dự cảm hết được những khó khăn đang chờ ông
trước mắt. Về Hà Nội, có thể là cơ hội to lớn mở ra với bao người, song cuộc
đời vốn vẫn muốn thách thức ông, một con người luôn cháy ngời lý tưởng đẹp
đẽ. Và tình yêu cuộc sống đến không cùng ông đã phải đối mặt với bao nỗi
nhọc nhằn mưu sinh, thế sự dường như là quá sức đối với con người. Nhưng
chính những giai đoạn đan kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất
này cộng với khoảng thời gian trên 20 năm sống tại Lao Cai đã thôi thúc
mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại: đó là những câu chuyện thấm đẫm chất đời,
tình người và dư vang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi
những nỗi đau, sự nhọc nhằn. Chính nhà văn thừa nhận, đại ý: thời kỳ này dù
có quá nhiều khó khăn trong cuộc sống đối với tôi, song nhìn lại, tôi thấy đó
là một may mắn. May mắn là ở chỗ , tôi được tôi luyện trong một thời kỳ lịch
sử quan trọng – đất nước tiến hành đổi mới – giai đoạn mở ra nhiều vấn đề
lớn lao cho người sáng tác khơi dòng, cộng với sự trải nghiệm của 20 năm
cầm bút và sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong mỹ cảm của nhà nghệ sỹ,
hơn thế, khi ấy cộng với độ chín của tuổi nghề đã giúp tôi có sức bật lớn. Vì
Kháng trong mấy chục năm qua.
1.2.3. Truyện ngắn Ma Văn Kháng trong dòng chảy truyện ngắn
đương đại Việt Nam
Ma Văn Kháng từng được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn
Việt Nam hiện đại” (Lưu Khánh Thơ), kém ít tuổi so với Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải nhưng cũng thuộc nhóm đại biểu tinh anh của văn học một thời,
xứng danh là một trong những ngọn cờ tiên phong đổi mới. Trong đoàn kỵ mã
oai hùng, mấy chiến hữu hàng tướng lĩnh đã ra đi, Ma Văn Kháng vẫn “một
mình một ngựa” cùng đồng đội “giương thẳng nghĩa kỳ” mải miết vào cuộc
trường chinh vào chiến trận nhân văn để tiêu diệt cái xấu, cái ác trên đời.
Trong khoảng dăm năm sau chiến tranh, dư âm chiến thắng còn vang
vọng, văn học theo quán tính còn được viết theo cảm hứng sử thi: Vùng trời
của Hữu Mai, Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Miền cháy của
Nguyễn Minh Châu… Phải đến những năm đầu thập niên 80 mới có dấu hiệu
đổi mới từ các cây bút tên tuổi. Ma Văn Kháng được coi là người “đi tiền
trạm” cho đổi mới văn học. Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn
(1985) là những tác phẩm có tính chất mở đường. Lúc này cũng là lúc
Nguyễn Khải viết Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) như
trên hành trình của sự tìm kiếm mới. Cũng như một loạt tác phẩm của Nguyễn
Minh Châu mang ý nghĩa đột phá như tác phẩm Bức tranh (1982), Bến quê
(1985). Tiếp theo là những tuyên ngôn vang động văn đàn của hai nhà văn
khai mở thời kỳ chính thức bước vào đổi mới văn học như cuộc nhận thức lại
của văn học: Cái thời lãng mạn (Văn nghệ 43, 44 ra ngày 24 và 30/10/1987),
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Văn nghệ 49, 50 –
5/12/1987). Không ra lời tuyên bố nào chính thức như các chiến tướng
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, nhà văn Ma Văn Kháng lặng lẽ dấn bước
23
trên con đường mới đã chọn với một quyết tâm mạnh mẽ. Thực ra từ Mưa
mùa hạ đã có sự bất thường. Tác phẩm không có được cái kết thúc có hậu
những xu thế cơ hội và vụ lợi của cơ chế thị trường và mở cửa văn hóa hội
nhập toàn cầu. Nhìn chung Ma Văn Kháng trải qua quá trình đổi mới với
những nhọc nhằn nhưng can đảm và nhẫn nại.
Sự đổi mới văn học xuất phát từ quan niệm nghệ thuật mới của nhà
văn, từ ý thức khát vọng sâu xa phải đổi khác, phải vượt mình để đáp ứng đòi
hỏi mới. “Còn bây giờ cuộc sống đã mở thêm ra những chân trời mới, có
những quan niệm mới… Nghĩ khác tất sẽ viết khác” (Chuyện nghề - Nguyễn
Khải, Tuổi trẻ 7/1995).
Từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng thế sự, Ma Văn Kháng
không là ngoại lệ của xu thế đó. Nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái
nhìn nhiều chiều để thấy cả bề mặt lẫn bề sâu với tất cả quan hệ ngổn ngang,
chồng chéo, phức tạp của nó. Con người là đối tượng để khám phá không còn
và không thể được quan niệm như trước. Đó là con người trong mối quan hệ
đa chiều lịch sử, xã hội, gia đình và với chính mình, là con người trong tính
toàn vẹn phong phú và phức tạp, có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp
hèn, bóng tối lẫn ánh sáng. Con người, đó là một luận đề lớn, ngày càng được
nhận thức, chiêm nghiệm với chiều sâu triết học, xã hội học, văn hóa học và
tâm lý học nghệ thuật, với Ma Văn Kháng.
Đi thật sâu vào tận cùng đáy hồn người để khám phá, phát hiện là quan
niệm viết có phần mới của nhà văn: “Văn chương là chuyện đời thường thông
qua việc đào bới bản thế mình ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâu phải là đi hớt lấy
cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật” – một nhân vật ở Trăng soi sân nhỏ
của Ma Văn Kháng đã nghĩ như vậy. Trong bộ tiểu thuyết hình sự mới đây
của nhà văn, trữ tình ngoại để cũng nói rõ hai thái cực thiện và ác trong nhân
25
cách. Đó là sự phân tích sâu sắc mang đậm chất nhân bản: “Con người không
hướng về cái ác, cái xấu… Rằng con người đã đẹp lên, đã tốt lên, chẳng còn
xấu xa nữa; trong khi về căn bản con người vẫn đang trong vòng luẩn quẩn
chưa hoàn thiện, ích kỷ, tà dục, độc địa và vẫn tham lam”. Nếu dõi theo sẽ