4
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ TUYẾT MAI
HIỆN ĐẠI HOÁ QUÂN SỰ TRUNG QUỐC
HAI MƯƠI NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
Mã số: 60.31.50
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Đỗ Minh Cao
HÀ NỘI - 2010
6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI HÓA
QUÂN SỰ TRUNG QUỐC 12
1.1. Những yếu tố chi phối đến tiến trình hiện đại hóa quân sự của trung
quốc 12
1.2. Khái quát tiến trình hiện đại hóa quân sự của trung quốc đến năm
1991 24
1.3. Quá trình phát triển tư tưởng hiện đại hoá quân sự của các thế hệ lãnh
đạo gần đây 32
Thời gian gần đây, với sự nỗ lực của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai
nước, quan hệ Việt – Trung đã có bước phát triển vượt bậc, quan hệ “đối tác
hợp tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở “phương châm 16 chữ” và “tinh thần
4 tốt” ngày càng đi vào chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước.
Quan hệ quốc phòng hai nước cũng có những bước phát triển cần ghi nhận.
Thêm vào đó, sự tương đồng về thể chế chính trị cũng như việc cả hai nước
Việt Nam và TQ cùng lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội như
hiện nay cũng làm cho mối quan hệ giữa hai quốc gia trở nên đặc biệt. Theo
đó, những bước phát triển của TQ luôn có giá trị tham khảo lớn đối với Việt
Nam.
Nghiên cứu đề tài “Hiện đại hoá quân sự Trung Quốc 20 năm đầu thế
kỷ 21” nhằm đưa ra được bức tranh tương đối hoàn thiện về hiện đại hoá quân
5
sự của TQ trong những năm đầu thế kỷ 21, cũng như thấy được những ảnh
hưởng nhiều chiều của công cuộc này đối với tình hình an ninh trong khu vực
nói riêng và trên thế giới nói chung. Qua một số bài học được và chưa được
của công cuộc hiện đại hoá quân sự của TQ, những nước có quan hệ với nước
này có thể có những bước đi phù hợp trong quan hệ với TQ trong thời kỳ
ngắn, trung và dài hạn trong đó có Việt Nam. Đồng thời, phát huy những bài
học tích cực trong xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, đặc biệt trong công
nghiệp quốc phòng “kép” – “quân sự - dân sự”, giúp một số nước, trong đó có
Việt Nam tăng cường hiệu quả của chính sách và việc thực hiện đường lối kết
hợp quân, dân thúc đẩy phát triển chung của đất nước. Đề tài hoàn thành có
thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nhận diện TQ nói chung, tài liệu
tham khảo giảng dậy về TQ hiện đại tại các trường đại học Việt Nam, đặc biệt
là các trường quân sự.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
TQ hiện đại hoá toàn diện thành công là một hiện tượng được giới
nghiên cứu quốc tế, trong nước đặc biệt quan tâm từ cuối thế kỷ 20 cho đến
quốc tế và cuộc cải cách quân sự mới” của Hùng Quang Khải (nguyên Phó
Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân TQ) xuất bản năm 2003,
tác giả đã dành trọn Phần II bàn về chính sách quốc phòng của TQ những năm
đầu thế kỷ 21 và yêu cầu xây dựng quân đội phù hợp với xu thế an ninh quốc
tế.
Ở Đài Loan, các học giả Đài Loan cũng dày công nghiên cứu về quá
trình hiện đại hoá quân sự của TQ và đề xuất các biện pháp đối phó trong
chiến tranh tương lai. Có thể kể đến “Tìm hiểu sức mạnh quân sự TQ thế kỷ
21: đi theo con đường đánh thắng cuộc chiến tranh công nghệ cao” của tác
giả Trần Mạnh Hào xuất bản năm 2000. Tác giả dành 3 chương đầu của cuốn
7
sách lý giải tại sao TQ hiện đại hoá quân sự và sức mạnh quân sự của TQ
trong thế kỷ 21 sẽ đạt được tới mức nào. Chương 4, tác giả đặt tưởng định về
một số cuộc chiến mà TQ sẽ tham gia và đưa ra những đối sách của quân đội
TQ. Tác giả kết thúc công trình nghiên cứu của mình bằng những suy ngẫm
của mình về ngoại giao phòng ngự và an ninh khu vực. Trong ấn phẩm “Hiện
đại hoá quân sự TQ: lộ trình, thách thức và triển vọng” của David
Shambaugh phát hành năm 2004, tác giả đã giúp người đọc hiểu được tầm
quan trọng và tính phức tạp của quân đội TQ, hiểu được thực chất việc cùng
tồn tại như là một tất yếu của Mỹ và các quốc gia láng giềng ở khu vực Đông
Á và Nam Á của TQ với quân đội TQ hùng mạnh. Đồng thời, tác giả cũng
phần nào lý giải các vấn đề mọi người hoài nghi về quân đội TQ như hiện đại
hoá với nhịp độ ra sao, sử dụng sức mạnh quân sự mới như thế nào
Tình hình nghiên cứu hiện đại hoá của quân đội TQ ở Việt Nam cũng rất
sôi nổi. Có rất nhiều các bài viết ở góc độ nghiên cứu một vấn đề, một mặt
của quá trình hiện đại hoá và cũng có những ấn phẩm nghiên cứu quá trình
hiện đại hoá quân sự TQ ở các giai đoạn khác nhau hoặc lồng ghép hiện đại
hoá quân sự trong các vấn đề khác lớn hơn. Hàng năm, Viện nghiên cứu TQ
thường xuất bản cuốn sách toàn diện về các mặt của TQ, trong đó bao giờ
ĐCS TQ, nghiên cứu về quan hệ quốc tế của TQ với các nước có thể phân kỳ
theo cách lựa chọn mốc từ cải cách mở cửa đến nay (từ năm 1978 đến nay)
hoặc từ những mốc có những dấu ấn đặc biệt giữa hai nước. Cũng có thể áp
dụng tất cả các dạng phân kỳ này cho một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Tuy
nhiên, tác giả luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu hiện đại hoá quân sự của
TQ trong 20 năm đầu thế kỷ 21 và lựa chọn làm sáng tỏ quá trình hiện đại hoá
quân sự từ năm 1991 đến nay bởi một số lý do: thứ nhất, tình hình thế giới,
khu vực có nhiều biến chuyển sau sự sụp đổ của Liên Xô; thứ hai, hình thái
9
chiến tranh trên thế giới có những đổi mới (sự xuất hiện hình thái chiến tranh
cục bộ trong điều kiện công nghệ cao hiện đại); thứ ba, TQ đẩy mạnh hơn nữa
quá trình cải cách mở cửa, thu được nhiều thành tựu đáng kể và cuối cùng là
“thập kỷ 1990 là thời kỳ PLA bắt đầu thực hiện hàng loạt cuộc cải cách với
mục tiêu nâng lực lượng vũ trang tương lai của TQ lên thành một lực lượng
chuyên nghiệp hơn và có năng lực tác chiến hơn” [33,tr.15] “PLA thực hiện
chương trình cải cách và hiện đại hoá sâu sắc hơn, phạm vi bao trùm lên toàn
bộ các khía cạnh hoạt động (phát triển khái niệm tác chiến mới và kỹ thuật
tiến hành chiến tranh; hiện đại hoá vũ khí, công tác tuyển quân, giữ và quản lý
quân, huấn luyện, điều chỉnh cơ cấu lực lượng ) và qui mô được đo bằng
bước ‘nhảy vọt’ về trí tuệ, khả năng chuyên nghiệp và về khái niệm phải gạt
sang một bên những quyền lợi cục bộ lâu đời cũng như những tư duy thiển
cận để đưa quân đội TQ tiến vào thế kỷ 21.” [33,tr.17]
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn sử liệu
Đề tài thuộc lĩnh vực quân sự, mang tính bao quát cao do vậy những
phương pháp nghiên cứu sau đây đã được áp dụng:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: để có cái nhìn chung toàn diện về
bức tranh hiện đại hóa quân sự tại TQ.
- Phương pháp lịch sử: Để những sự kiện diễn ra theo trình tự đem lại sự
rõ ràng, rành mạch cho độc giả.
đầu thế kỷ 21 và ảnh hưởng tới thế giới, khu vực và Việt Nam. Đồng thời, nêu
ảnh hưởng, một số kinh nghiệm và bài học của hiện đại hóa quân sự của TQ
đối với Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo gồm các ấn phẩm, tài
liệu, tạp chí trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề cải cách quân sự trên
thế giới, cải cách quân sự của TQ, cải cách học thuyết quân sự của TQ
11
Chương 1
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN SỰ
TRUNG QUỐC
1.1. NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI ĐẾN TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
QUÂN SỰ CỦA TRUNG QUỐC
1.1.1. Yếu tố bên ngoài – làn sóng cải cách quân sự trên thế giới
Sự phát triển của TQ không tách rời thế giới. Hiện đại hóa quân đội TQ
cũng không nằm ngoài trào lưu cải cách quân sự thế giới. Từ những năm 60,
70 của thế kỷ 20, cùng với việc ứng dụng rộng rãi cuộc cách mạng công nghệ
mới vào lĩnh vực quân sự, lĩnh vực quân sự thế giới đã có một cuộc cải cách
sâu sắc – từ chiến tranh cơ giới hóa từng bước chuyển sang chiến tranh thông
tin hóa. Có thể nói, đây là một cuộc cách mạng thực sự về chiến tranh, là một
cuộc cải cách sâu sắc, rộng rãi mà tới nay vẫn chưa kết thúc trong lịch sử
quân sự nhân loại.
(1) Cuộc cải cách quân sự trên thế giới là một cuộc cải cách xuyên thế
kỷ, ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trong đó có Trung Quốc
Alvin Toffler - học giả người Mỹ chia sự phát triển của xã hội loài người
thành ba giai đoạn xã hội nông nghiệp, xã hội công nghiệp và xã hội thông tin,
tương ứng với đó, lĩnh vực quân sự của loài người cũng trải qua một số giai
đoạn mang tính lịch sử - chiến tranh bằng vũ khí lạnh, chiến tranh bằng vũ khí
nóng, chiến tranh cơ giới hóa và chiến tranh thông tin.
cũng tập trung nghiên cứu chế tạo hệ thống chỉ huy tự động hóa C
3
I (chỉ huy,
kiểm soát, thông tin liên lạc và tình báo), những năm 70 về cơ bản đã thực
hiện tự động hóa chỉ huy. Như vậy, phát triển vũ khí dẫn đường thông minh
13
và hệ thống tự động hóa chỉ huy là trụ cột công nghệ vật chất cơ bản nhất để
thai nghén cuộc cải cách quân sự mới.
Mười năm đặt nền móng là khoảng thời gian từ khi đưa ra “Dự báo
Ogarkov” tới cuối những năm 80. Năm 1979, Tổng tham mưu trưởng Liên Xô
cũ đã nhìn thấy những đổi mới bất ngờ xảy ra trong lĩnh vực quân sự, dự báo
sự xuất hiện công nghệ tiên tiến tất sẽ dẫn đến “cuộc cách mạng công nghệ
quân sự mới”. Ông chỉ rõ, công nghệ thông tin với máy tính điện tử là cốt lõi
phát triển nhanh chóng, vũ khí dẫn đường chính xác ra đời số lượng lớn, tất
yếu sẽ phá vỡ mô hình phát triển cũ của quân đội, thúc đẩy nổ ra cuộc cải
cách mới về quân sự. “Dự báo Ogarkov” gây được sự chú ý trong lĩnh vực
quân sự thế giới, nghiên cứu chế tạo công nghệ mới dần hình thành làn sóng
ảnh hưởng tới sự phát triển quân sự. Đặc biệt Mỹ đã hình thành Ủy ban
chuyên nghiên cứu và đánh giá vấn đề cải cách quân sự mới mà “Dự báo
Ogarkov” nêu ra. Quân đội Mỹ đã nghiên cứu đưa ra lý luận mới tác chiến
“nhất thể trên không và mặt đất”, tích cực phát triển nhiều hệ thống vũ khí
thông tin hóa như tên lửa “Patriot”, máy bay trực thăng “Apache”, hệ thống
liên hợp theo dõi và tấn công mục tiêu, đồng thời cải cách biên chế quân đội
tương ứng. Thời kỳ này, cải cách quân sự mới trên phạm vi toàn thế giới bước
đầu lộ rõ.
Mười năm phát triển là chỉ khoảng thời gian từ khi nổ ra chiến tranh
vùng Vịnh tới cuối thập kỷ 90. Năm 1990, chiến tranh vùng Vịnh lần thứ
nhất nổ ra, vũ khí công nghệ cao mới được sử dụng với số lượng lớn, một loạt
phương pháp tác chiến công nghệ cao như chiến tranh điện tử, chiến tranh
Sự thúc đẩy của cải cách quân sự mới trên thế giới khiến diện mạo chiến
tranh hiện đại đã có một loạt thay đổi mang tính cách mạng như trang bị vũ
khí xuất hiện xu thế thông tin hóa, nhất thể hóa, các loại trang bị vũ khí liên
kết thành một chỉnh thể hữu cơ; tấn công tầm xa được tăng cường, độ chính
xác được nâng cao chưa từng thấy, khả năng sát thương tăng gấp bội phần; tác
15
chiến tung thâm toàn diện, tác chiến phi chiến tuyến… dần trở thành phương
thức giao chiến cơ bản của chiến tranh hiện đại.
Trang bị vũ khí thông tin hóa từng bước trở thành yếu tố quan trọng
trong khả năng tác chiến của quân đội, xây dựng quân đội thông tin hóa trở
thành mục tiêu của quân đội các quốc gia chủ yếu trên thế giới. Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của các quần thể công nghệ cao mới với công nghệ thông
tin là cốt lõi và ứng dụng rộng rãi của những công nghệ này vào lĩnh vực quân
sự, mức độ thông tin hóa trang bị vũ khí ngày càng cao. Một số cuộc chiến
tranh cục bộ gần đây cho thấy, trang bị vũ khí thông tin hóa phát huy vai trò
rất quan trọng trong chiến tranh, ảnh hưởng lớn tới kết cục chiến tranh. Quân
đội các quốc gia chủ yếu đẩy mạnh nhịp độ xây dựng trang bị vũ khí thông tin
hóa, triển khai một vòng cạnh tranh mới xoay quanh việc xây dựng đội quân
thông tin hóa. Trong cuộc cạnh tranh này, quân đội Mỹ đi tiên phong. Đầu tư
của BQP Mỹ lớn, tập trung xây dựng một đội quân toàn cầu có hệ thống
C
4
ISR, để nâng cao hơn nữa trình độ thông tin hóa quyết sách chỉ huy. Hiện
nay, 53% trang bị vũ khí Lục quân Mỹ đã thực hiện thông tin hóa, trang bị
thông tin hóa của Hải quân và Không quân đạt tới 70%. Trang bị thế hệ đầu
tiên của quân đội Mỹ đã đào thải toàn bộ; tỉ lệ trang bị chủ chiến thế hệ thứ ba
của Hải quân và Không quân là trên 90%, Lục quân là 52%; trang bị thế hệ
thứ 4 và thứ 5 cũng đang trong giai đoạn phát triển tích cực. Nội hàm hiện đại
hóa quân đội của Mỹ đã thay đổi sâu sắc.
nghệ cao với công nghệ thông tin là chủ đạo, “tác chiến phi tiếp xúc” không
chỉ là phối hợp các mặt quan trọng của “tác chiến tiếp xúc”, hơn nữa đã từng
bước phát triển thành một kiểu tác chiến độc lập. Dưới tác dụng của công
nghệ quân sự cao mới, các bước như tình báo trinh sát, định vị mục tiêu, chỉ
huy kiểm soát tới đánh giá hiệu quả đều có thể làm rất chính xác. Hệ thống
17
trinh sát công nghệ cao toàn phương vị, trong mọi điều kiện thời tiết và các
dải tần có thể cung cấp các dữ liệu đáng tin cậy về tình hình chiến trường toàn
diện, kịp thời cho người chỉ huy. Hệ thống định vị dẫn đường toàn cầu hiện
đại có thể tự động hiển thị tọa độ ba chiều của mục tiêu, tốc độ vận động và
thời gian chính xác, cung cấp thông tin định vị với độ chính xác cao. Dưới sự
giúp đỡ của hệ thống C
4
ISR, độ bắn trúng của vũ khí dẫn đường chính xác
không ngừng nâng lên, từ đó khiến tấn công chính xác tầm xa ngoài khu vực
phòng ngự “phi tiếp xúc” trở thành phương thức tác chiến tương đối thông
thường.
Diễn biến chiến tranh là sự đối kháng giữa hệ thống và hệ thống, vũ trụ
trở thành điểm cao chiến lược mới trong cạnh tranh quân sự quốc tế. Trong
chiến tranh thời đại thông tin, nếu không có sự vận hành hiệu quả của hệ
thống tác chiến thông tin hóa thì trang bị vũ khí hiện đại cũng khó phát huy
tác dụng. Do đó, quân đội các nước phát triển phương Tây đều tập trung vào
xây dựng hệ thống tác chiến, không ngừng sử dụng công nghệ số hóa để nhất
thể các lực lượng tác chiến với các loại vũ khí trang bị, nỗ lực xây dựng hệ
thống tác chiến liên hợp ba quân, hệ thống tác chiến liên hợp giữa các lực
lượng tác chiến và hệ thống tác chiến liên hợp giữa các đơn nguyên tác chiến.
Trong tương lai gần, trang bị công nghệ số hóa sẽ trở thành nền tảng vật chất
khách quan của đối kháng hệ thống, lực lượng số hóa sẽ trở thành chủ thể của
đối kháng hệ thống. Quân đội Mỹ đã khởi động xây dựng chiến trường số hóa.
về tổng thể quân sự TQ vẫn ở vào giai đoạn cơ giới hóa và bán cơ giới hóa,
chưa tương xứng với yêu cầu đánh thắng cuộc chiến tranh cục bộ thông tin
hóa, quốc phòng và quân đội đang ở vào giai đoạn phát triển lấy xây dựng
hiện đại hóa là trọng tâm, đi theo con đường tinh luyện lực lượng mang màu
sắc TQ. Đối diện với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cải cách quân sự mới
19
trên thế giới, một mặt nếu TQ nhìn thiển cận, hành động chậm chạp, không
tích cực thúc đẩy hiện đại hoá quân sự trong nước sẽ bị làn sóng phát triển
quân sự thế giới bỏ lại đằng sau, rơi vào cục diện bị động; mặt khác, nếu TQ
mù quáng chạy theo, rất có thể kéo tụt nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng đến
chiến lược phát triển đất nước.
Tuy nhiên, cải cách quân sự mới trên thế giới lại là một thời cơ lịch sử
hiếm có để TQ bắt kịp trình độ tiên tiến trên thế giới. Trước tiên, so với xã hội
công nghiệp, những yêu cầu tích lũy của xã hội thông tin tương đối thấp. Rất
nhiều nhà khoa học cho rằng, so sánh với chuyển đổi mô hình thời kỳ trước,
những yếu tố cơ bản hình thành xã hội thông tin là coi các công nghệ như
công nghệ máy tính, công nghệ mạng, công nghệ thông tin … là cốt lõi, đối
với những yêu cầu cơ bản tích lũy vốn có của thời đại công nghiệp thì chúng
không quá cao. Học giả tương lai nổi tiếng của Mỹ Alvin Toffler cho rằng,
yêu cầu tích lũy của thời đại thông tin đối với thời đại công nghiệp chỉ chiếm
30%, rất nhiều quốc gia lạc hậu ở thời đại công nghiệp có thể lợi dụng thời cơ
chuyển đổi mô hình thời đại, tiến sang thời đại thông tin. Bộ Quốc phòng Mỹ
từng tiến hành một cuộc điều tra phạm vi lớn, kết quả cho thấy: có 100 quốc
gia trên thế giới có điều kiện đẩy nhanh xây dựng thông tin hóa, từ đó có khả
năng thực tế và khả năng tiềm tàng tiến hành tác chiến thông tin. Thứ hai,
phạm vi ứng dụng công nghệ thông tin rộng, ở trình độ tương đương nhau,
giữa các nước trên thế giới có thể sử dụng và cùng hưởng thành quả công
nghệ thông tin tương đối hiện đại. Mặc dù các nước phương Tây đứng đầu là
Mỹ kiểm soát công nghệ thông tin, tuy nhiên nếu kiểm soát quá nhiều sẽ ảnh
lược lớn, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các quần thể công nghệ cao
mới với công nghệ thông tin là cốt lõi. Hiện nay, công nghệ thông tin của TQ
đã đạt được mức độ tương đối, thu hẹp khoảng cách với trình độ hiện đại của
21
thế giới. Đặc biệt là mấy năm gần đây, TQ đã đạt được một loạt các đột phá
lớn về công nghệ máy điện toán. Ngoài ra, ở các lĩnh vực có liên quan đến
chiến tranh tương lai như vật lý ứng dụng, công nghệ vật liệu mới, công nghệ
năng lượng, công nghệ sinh học, khoảng cách của TQ với các quốc gia phát
triển phương Tây rất hẹp. Nguồn lực con người dành cho các lĩnh vực có liên
quan đến công nghệ thông tin quân sự tương đối dồi dào và đang tiếp tục phát
triển mạnh mẽ. Bốn là, đã đặt nền tảng hệ thống công nghiệp quốc phòng
hoàn thiện. Cơ sở vật chất thời kỳ nước TQ thành lập kém xa các nước
phương Tây, công nghiệp quốc phòng của TQ chỉ là con số 0. Qua mấy chục
năm xây dựng, TQ đã có hệ thống công nghiệp quốc phòng quy mô tương đối,
kết cấu khoa học, phân bố hợp lý và có khả năng sáng tạo tự chủ tương đối
mạnh. Đây là điều kiện vật chất kỹ thuật đáng tin cậy và lực lượng trụ cột
không thể thiếu trong xây dựng quân đội cơ giới hóa và thông tin hóa.
1.1.2. Yếu tố nội tại của TQ – phù hợp với tư duy nước lớn của TQ
(1) Sức mạnh quân sự bảo đảm cho mục tiêu kinh tế - xã hội của nước lớn
Thế kỷ mới, giai đoạn mới, Đại hội Đảng lần thứ 16 đã đưa ra mục tiêu
phấn đấu xây dựng xã hội “khá giả” toàn diện. Thực hiện mục tiêu này, một
mặt phải bảo đảm sự phát triển nhanh chóng liên tục của kinh tế xã hội, tranh
thủ vượt qua một nấc thang dài vài năm; một mặt phải bảo đảm sự phát triển
hài hoà giữa xây dựng kinh tế và xây dựng quốc phòng, tích cực thúc đẩy cải
cách quân sự để phát triển nhảy vọt trong xây dựng hiện đại hoá quân đội và
quốc phòng, từ đó bảo đảm an ninh cho việc xây dựng xã hội “khá giả” toàn
diện. Như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Tích cực thúc đẩy cải cách quân
sự là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong xây dựng hiện đại hoá quân
đội, có thể hoàn thành thắng lợi được nhiệm vụ chiến lược này không liên
23
dựng quân đội. Muốn nâng cao khả năng chiến lược của quân đội thì phải tích
cực thúc đẩy hiện đại hoá quân đội.
Ngoài ra, vấn đề thống nhất Đài Loan cũng là một mục tiêu mà chính
phủ TQ đang tiếp tục theo đuổi. Bên cạnh việc sử dụng các biện pháp ngoại
giao, chính trị, kinh tế thì TQ cũng không từ bỏ việc sử dụng vũ lực để thống
nhất tổ quốc. Chính vì vậy, hiện đại hoá quân sự TQ được chính phủ TQ coi
là một biện pháp cần thiết để sẵn sàng trong giải quyết vấn đề Đài Loan.
(2) Hiện đại hoá quân sự là yêu cầu của quân đội trong thời đại mới
Sứ mệnh của quân đội cũng phát triển theo sự phát triển của lịch sử.
Bước vào thế kỷ mới, giai đoạn mới, môi trường trong nước và quốc tế có
những thay đổi lớn, sứ mệnh lịch sử của quân đội TQ cũng có những nội dung
mới. Ngày 13 tháng 3 năm 2005, phát biểu tại hội nghị toàn thể đoàn đại biểu
Quân giải phóng tham gia kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 10 của TQ, Hồ Cẩm
Đào nói, yêu cầu quân đội tập trung sức mạnh và ý chí của toàn quân để thực
hiện sứ mệnh lịch sử của quân đội trong thế kỷ mới, giai đoạn mới, đó là:
“Bảo đảm là sức mạnh quan trọng để ĐCS củng cố địa vị cầm quyền, bảo
đảm an ninh vững chắc duy trì thời cơ chiến lược quan trọng phát triển đất
nước, giúp đỡ có hiệu quả duy trì lợi ích quốc gia, phát huy vai trò quan trọng
gìn giữ hoà bình thế giới và sự phát triển chung. Đương nhiên, thực hiện tốt
sứ mệnh lịch sử mới này, quân đội phải không ngừng nâng cao khả năng đánh
thắng và giữ nguyên bản chất, phải tích cực thúc đẩy hiện đại hoá quân đội để
quân đội TQ trở thành quân đội cách mạng chính quy hoá, hiện đại hoá có sức
chiến đấu hùng mạnh, tương xứng với địa vị cường quốc.”
Xem xét những thay đổi phát triển của tình hình trong và ngoài nước,
20 năm đầu thế kỷ 21 là thời cơ chiến lược quan trọng để TQ phát triển. TQ
phải nắm được thời cơ hiếm có này đẩy nhanh phát triển. Nhưng cũng phải
thấy rằng, những yếu tố ảnh hưởng và gây nhiễu thời cơ chiến lược còn rất
24
Công nguyên, người châu Á dẫn đầu việc chế tạo ra các vũ khí lạnh, đồng
thời sử dụng trong chiến tranh, thực hiện cuộc cánh mạng lần thứ nhất trong
lịch sử quân sự. Thời kỳ vũ khí lạnh, lúc đầu chỉ có bộ binh. Khoảng 400 năm
trước Công nguyên xuất hiện kỵ binh. Trong điều kiện thời đó, kỵ binh là lực
lượng có khả năng tấn công lớn nhất và khả năng cơ động nhanh và xa, do đó
Anghen đã nói kỵ binh là binh chủng có ý nghĩa quyết định. Ai có đội kỵ binh
hùng mạnh, người đó sẽ có sức mạnh quân sự lớn nhất.
Trên đất Hoa Hạ, đội kỵ binh sớm nhất xuất hiện ở Hung Nô vùng
Ngoại Mông thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên (thời Chiến quốc). Năm 302
trước Công nguyên, vua nước Triệu ở phía Bắc TQ Vũ Linh Vương đã thực
hiện cải cách quân sự, lần đầu tiên tập trung xây dựng kỵ binh trong dân tộc
Hoa Hạ, trở thành đối thủ mạnh nhất của nước Tần trong sự nghiệp thống
nhất TQ.
Sau khi Tần sụp đổ đến triều Hán, hệ thống quốc phòng của triều Hán
cơ bản dựa theo triều Tần, phòng thủ với bên ngoài chủ yếu là chống lại sự
tấn công của Hung Nô – dân du mục phương bắc. Kể từ thế kỷ 2 trước Công
nguyên, triều Hán và Hung Nô chiến tranh liên miên, một trận đánh quy mô
lớn nhất là dùng 140.000 kỵ binh, còn dùng 100.000 con ngựa vận chuyển, là
một trong những trận chiến kỵ binh lớn nhất trong lịch sử cổ đại trên thế giới.
Sau hàng trăm năm chiến đấu, triều Hán đã đánh bại được Hung Nô, khiến
một phần quân quy hàng, một phần chạy theo phương Tây. Sự kiện này cho
thấy, triều Hán thời đó có quân đội lớn mạnh nhất trên thế giới. Triều Hán đã
xây dựng được đội kỵ binh hùng mạnh và đánh bại Hung Nô, bảo vệ sự phát
triển kinh tế nông nghiệp, làm cho TQ cổ đại bước vào một thời kỳ hoàng kim,
phát triển lớn mạnh lần thứ nhất.