ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH DIỆU
BÁO PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ CÔNG CHÚNG ĐỘC GIẢ NỮ
Nghiên cứu trường hợp độc giả nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Báo chí học
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013
MỞ ĐẦU 1
0.1. Tính cấp thiết của đề tài 6
0.2. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
0.3. Mục đích và nhiệm vụ 14
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
0.5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 15
0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 16
0.7. Khung logic tiếp cận của luận văn 17
0.8. Kết cấu luận văn 17
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ
1.1. Lý luận về quan hệ truyền thông, truyền thông đại chúng và công chúng
báo chí 18
1.1.1. Khái niệm truyền thông 18
1.1.2. Truyền thông đại chúng 19
1.1.3. Công chúng báo chí 20
1.1.4. Vai trò của nghiên cứu công chúng báo chí 21
1.2. Đặc trƣng môi trƣờng báo chí thành phố Hồ Chí Minh 23
1.2.1. Vài nét tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh 23
1.2.2. Môi trường báo chí thành phố Hồ Chí Minh 24
1.2.3. Công chúng báo chí thành phố Hồ Chí Minh 26
1.3. Vài nét về Báo Phụ Nữ 28
1.3.1. Sự ra đời và phát triển của Báo Phụ Nữ 28
1.3.2. Cấu trúc nội dung và hình thức thể hiện của Báo Phụ Nữ 33
1.3.3. Thế mạnh và hạn chế của Báo Phụ Nữ 34
1.4. Tiểu kết 38
- trang 2 -
3.3 Đánh giá của độc giả nữ đối với Báo Phụ Nữ 87
3.3.1. Đánh giá về hình thức tờ báo 87
3.3.2. Nhận xét về giá bán báo 89
3.3.3. Đánh giá của độc giả nữ về mức độ quan trọng trong hoạt động cung cấp
thông tin của Báo Phụ Nữ 90
3.4. Đề xuất, kiến nghị nâng cao chất lƣợng Báo Phụ Nữ 95
3.5. Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Hình 9: Đánh giá hình thức Báo Phụ Nữ 88
Hình 10: Nhận xét giá báo 90
Hình 11: Yếu tố quan trọng đối với Báo Phụ Nữ 92
- trang 6 -
MỞ ĐẦU
0.1. Tính cấp thiết của đề tài
Công chúng ngày càng có sự chọn lọc rõ hơn nhu cầu về phạm vi và
nội dung thông tin truyền thông của mình. Do trình độ hiểu biết ngày càng
cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện, công chúng có nhiều cơ hội cũng
như điều kiện để tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này tạo
ra sự thay đổi trong ý thức của công chúng về việc lựa chọn, tiếp nhận, hay
điều tiết mức độ ảnh hưởng cũng như phản ứng của bản thân trước các thông
điệp truyền thông. Mục đích hướng tới của báo chí chính là công chúng, phục
vụ công chúng.
Nghiên cứu công chúng báo chí là công việc quan trọng bậc nhất của
các cơ quan báo chí nhằm xác định nhu cầu, khuynh hướng tiếp nhận thông
tin và phác thảo chi tiết về chân dung các nhóm công chúng có ảnh hưởng
lớn, tác động tích cực đến việc định hướng nội dung, phong cách và công tác
phát hành của báo. Hiệu quả của báo chí phụ thuộc khả năng ảnh hưởng của
là nhóm công chúng đặc thù, nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng
đối với họ sẽ cho thấy những tác động của truyền thông đại chúng và lý giải
những đặc điểm, những vấn đề có tính quy luật trong tâm lý tiếp nhận đối với
nhóm độc giả này.
Trên thực tế, nghiên cứu công chúng báo in ở Việt Nam vẫn còn mới
mẻ, chưa được đầu tư và chú trọng đúng mức. Ngoài ra, trong xu thế phát
triển mới và sự ra đời, cạnh tranh gay gắt của các loại hình báo chí, trong đó
có các trang mạng xã hội, blog, các diễn đàn… Báo Phụ Nữ Thành phố Hồ
Chí Minh (Báo Phụ Nữ) cũng chịu tác động không ít và bị chia sẻ công
chúng.
- trang 8 -
Ngoài ra, từ trước đến nay, Báo Phụ Nữ chưa có công trình nghiên cứu
nào về công chúng độc giả nữ. Vì vậy, công tác nghiên cứu công chúng, nhất
là nghiên cứu về độc giả nữ của Báo Phụ Nữ càng trở nên cấp thiết. Muốn tờ
báo của mình phát triển và cạnh tranh với các tờ báo khác, trước hết Báo Phụ
Nữ phải hiểu rõ về công chúng độc giả nữ của mình: độ tuổi, nghề nghiệp,
nhân khẩu học, nhu cầu, sở thích, thói quen tiếp nhận thông tin, các vấn đề
quan tâm. Tờ báo muốn thành công ngoài các yếu tố tuân thủ tôn chỉ mục
đích của mình, có lực lượng biên tập viên, phóng viên giỏi, chuyên nghiệp…
thì việc hiểu biết sâu sắc về thái độ của công chúng là một trong những yếu tố
dẫn đến sự thành công. Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin chính đáng của
công chúng vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Xuất phát từ
tầm quan trọng của công tác nghiên cứu công chúng báo chí nói chung và
công chúng độc giả nữ của Báo Phụ Nữ, thông qua đề tài “Báo Phụ Nữ
Thành phố Hồ Chí Minh và công chúng độc giả nữ” (Nghiên cứu trường
hợp độc giả nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012), chúng tôi muốn đưa
ra một cái nhìn bao quát về chân dung công chúng độc giả nữ của Báo Phụ
Nữ, từ đó giúp Ban biên tập xác định các nhóm công chúng của mình, nhận
biết được đâu là nhóm công chúng mục tiêu, chủ yếu để ưu tiên ủng hộ và các
kinh tế, xã hội, văn hóa… ảnh hưởng tới thái độ ứng xử của công chúng.
“Truyền thông đại chúng không phải là nguyên nhân cần thiết và đầy đủ của
những thay đổi trong công chúng. Truyền thông đại chúng hoạt động ở giữa
và thông qua các yếu tố, các hiện tượng trung gian. Những yếu tố đó làm
truyền thông đại chúng trở thành yếu tố bổ sung chứ không phải là nguyên
nhân duy nhất trong quá trình củng cố các điều kiện đã có” [27].
- trang 10 -
+ Giai đoạn 3: Từ giữa năm 1960 - cuối thế kỷ 20 (khoảng năm 1995):
Truyền hình phát triển mạnh mẽ, các nhà nghiên cứu đặt lại nghi ngờ về ảnh
hưởng của truyền thông đại chúng. Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều xu
hướng và quan điểm khác nhau, mở rộng lĩnh vực nghiên cứu: ngoài nghiên
cứu công chúng còn tập trung nghiên cứu về thông điệp, các thức tiếp cận và
sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng.
+ Giai đoạn 4: Từ năm 1995 đến nay: Sự ra đời và bùng nổ của mạng
Internet kéo theo hàng loạt thay đổi trong cách trao - nhận - xử lý thông tin.
Thuật ngữ truyền thông đa phương tiện xuất hiện và được xem là sự khởi đầu
kỷ nguyên mới của truyền thông. “Công chúng được xem như những tác nhân
xã hội có khả năng lý giải và phê phán lại sự áp đặt trong quá trình truyền
thông đại chúng” [13]. Truyền thông đại chúng trong giai đoạn này không còn
là lãnh địa riêng của các nhà truyền thông, mà là nơi trình bày ý các kiến thức
của con người và cũng là nơi diễn ra các mối quan hệ tiếp xúc, liên lạc giữa
các tầng lớp, các nhóm xã hội.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối
với công chúng vẫn còn khá mới mẻ. Đến nay, chưa có công trình nào nghiên
cứu độc lập và có hệ thống về những ứng xử của công chúng đối với các
phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên từ năm 1990, các nhà nghiên
cứu khoa học ở Việt Nam đã có những bước tiếp cận vấn đề này khá đa dạng
từ góc độ báo chí học đến bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, nghiên
cứu khảo sát thực nghiệm …
cứu rất cơ bản về mối tương tác hai chiều giữa cơ quan truyền thông với công
chúng của mình. Tác giả đã chú ý tới đặc điểm quá trình hoạt động tiếp nhận
và xử lý thông tin, các cơ chế lây lan, sử dụng thông tin và các chỉ báo cho
phép đánh giá hiệu quả của tờ báo đối với công chúng. Các nghiên cứu khác
- trang 12 -
đăng tải trên tạp chí Xã Hội Học của Mai Quỳnh Nam như: Dư luận xã hội về
số con (tạp chí Xã Hội Học, số 3, 1994); Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận
và phương pháp nghiên cứu (tạp chí Xã Hội Học, số 1, 1995); Truyền thông
đại chúng và dư luận xã hội (tạp chí Xã Hội Học, số 1, 1996)… đã phác thảo
xu hướng phát triển của các nghiên cứu về truyền thông đại chúng và dẫn
chứng bằng các kết quả nghiên cứu khoa học mang tính thực tiễn cao, có tính
đúc kết vấn đề. Cùng với các hoạt động nghiên cứu, công tác đào tạo cũng đã
đạt được một số thành tựu nổi bật trong việc nghiên cứu công chúng dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Luận văn tiến sĩ của Trần Bá Dung “Nhu cầu tiếp nhận thông tin của
công chúng Hà Nội” (2008) đã “mô tả thực trạng nhu cầu thể hiện qua mô
thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, xem xét nhu cầu của
công chúng như là một nguyên nhân chi phối cơ bản đối với quá trình truyền
thông, chỉ ra các mối quan hệ có tính quy luật, những nhân tố tác động tới nhu
cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội” [7].
Luận văn thạc sĩ của Vương Hồng Hà (2005) “Tìm hiểu nhu cầu thông
tin của nữ thanh niên về giai đoạn tiền hôn nhân qua nghiên cứu thư gửi về
chuyên mục “Hòm thư bạn gái” trên Báo Phụ Nữ Việt Nam đã khảo sát tác
động của chuyên mục này trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin về tiêu chí lựa
chọn bạn đời, người yêu, các quan hệ hôn nhân gia đình, tình dục của công
chúng nữ [14].
Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Ngọc Thu (2008) “Vấn đề công chúng
truyền thông chuyên biệt (khảo sát công chúng Hà Nội)”. Tác giả luận văn
đưa ra kiến nghị về việc tiến hành các cuộc điều tra công chúng trước và sau
Trên đây là những công trình có ý nghĩa làm cơ sở lý luận và làm đậm
nét thêm về mối quan hệ tương tác giữa các cơ quan truyền thông đại chúng
- trang 14 -
và công chúng, phác họa hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng đối
với các nhóm công chúng khác nhau. Những công trình trên còn là cơ sở tham
khảo cho việc nghiên cứu công chúng ở các địa phương, các tờ báo giúp việc
hoạch định chiến lược phát triển báo chí ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
Những tư liệu, sách và các khóa luận đều có những giá trị rất quan trọng trong
nghiên cứu về công chúng. Tuy nhiên đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu
về công chúng nữ của Báo Phụ Nữ. Do đó, chúng tôi quyết định nghiên cứu
công chúng nữ của Báo Phụ Nữ thành đề tài bảo vệ luận văn thạc sĩ của mình.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa Báo Phụ Nữ và độc giả nữ.
- Tìm hiểu những đánh giá của độc giả nữ tại thành phố Hồ Chí Minh
đối với Báo Phụ Nữ, từ đó giúp Ban biên tập có sự điều chỉnh nội dung phù
hợp và có bước định hướng phát triển tờ báo ngày càng gần hơn với công
chúng của mình.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Độc giả nữ TP.HCM tiếp nhận thông tin trên Báo Phụ Nữ như thế
nào?
- Ảnh hưởng của Báo Phụ Nữ đối với độc giả nữ TP.HCM trên các
mặt: tiếp nhận, sử dụng thông tin.
- Đánh giá từ độc giả nữ TP.HCM đối với Báo Phụ Nữ.
0.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn này là các nhóm độc giả
nữ trên địa bàn TP.HCM.
- trang 15 -
Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.
Tiến sĩ giáo dục học - cộng tác viên của Báo Phụ Nữ.
Trưởng ban Gia đình - xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Hóc
Môn.
Phương pháp xử lý dữ liệu kết hợp phân tích kết quả khảo sát: Dữ liệu
được xử lý bằng phần mềm SPSS.
0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về
nghiên cứu công chúng các loại hình báo chí ở Việt Nam nói chung và Báo
Phụ Nữ (báo in) nói riêng. Nhất là những đặc điểm tiếp nhận, sử dụng thông
tin đối với nhóm công chúng có những điểm chung và dị biệt liên quan đến
vấn đề giới.
- Trên cơ sở đúc kết những bài học từ lý thuyết và thực tiễn công tác
nghiên cứu công chúng trong hoạt động báo chí truyền thông trên thế giới và
tại Việt Nam; những cơ sở khảo sát hoạt động tiếp nhận thông tin của công
chúng độc giả nữ trên Báo Phụ Nữ sẽ giúp Báo Phụ Nữ tổ chức thông tin một
cách hiệu quả hơn. Ngoài ra, công chúng độc giả nữ của Báo Phụ Nữ cũng là
công chúng của nhiều tờ báo khác, nắm được những nhu cầu về thông tin, sở
thích, nguyện vọng của nhóm công chúng đặc thù này cũng giúp các tờ báo
khác khai thác tốt hơn trong việc tổ chức nội dung thông tin cũng như thu hút
họ đối với tờ báo của mình.
- trang 17 -
0.7. Khung logic tiếp cận của luận văn
Hình 1: Khung logic tiếp cận của luận văn
0.8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu công chúng
Sau đó, nhà toán học Shannon và một số nhà nghiên cứu khác đã bổ sung hai
yếu tố quan trọng là “nhiễu” (noise) và “phản hồi” (feedback) nên quá trình
- trang 19 -
truyền thông trở nên khép kín, có thể xem xét được sự tác động cũng như tính
hiệu quả của thông tin.
1.1.2. Truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt
thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương
tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình, báo điện
tử… (mass media).
Theo tác giả Mai Quỳnh Nam: “Truyền thông đại chúng còn được hiểu
là giao tiếp đại chúng. Đó là quá trình truyền bá với số lượng lớn nội dung
giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội, dựa
vào những kỹ thuật truyền bá tập thể gọi là media” [25, tr. 8 – 10].
Theo tác giả Trần Hữu Quang, truyền thông đại chúng là một quá trình
xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố:
- Hoạt động truyền thông (săn tin, quay phim, chụp hình, viết bài,
biên tập, dựng và cuối cùng là xuất bản, phát hành hay phát sóng).
- Các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông: các tờ
báo, đài phát thanh, đài truyền hình, các nhà báo, phóng viên, biên
tập viên…).
- Công chúng độc giả hoặc khán thính giả.
Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như
một quá trình xã hội, xuất phát từ thiết chế truyền thông đại chúng đến với
công chúng và tạo hiệu quả xã hội trong nhận thức và hành vi của công chúng
theo những hiệu ứng xã hội mà các phương tiện truyền thông đại chúng
hướng tới.
Nhận xét về vị trí, ý nghĩa của truyền thông đại chúng trong đời sống
xã hội, tác giả Trần Ngọc Tăng cho rằng: “Truyền thông đại chúng gắn liền
đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường văn hóa - xã hội cụ thể.
Công chúng của Báo Phụ Nữ (báo in) giao tiếp với kênh truyền thông
đại chúng này bằng hành vi đọc nên còn có thể gọi là độc giả. Độc giả nữ là
sự giới hạn số lượng người đọc là nữ giới. Báo Phụ Nữ hướng tới đối tượng là
phụ nữ. Trong luận văn, chúng tôi muốn khu biệt “độc giả” trong khái niệm
“Công chúng” để xác định chân dung độc giả nữ - đối tượng mục tiêu của Báo
Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.4. Vai trò của nghiên cứu công chúng báo chí
Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng với công chúng là mối quan
hệ giao tiếp mang tính đại chúng giữa nguồn phát thông điệp và công chúng -
đối tượng tiếp nhận. Theo Silbermanm, quan niệm công chúng bao gồm
những cá nhân rời rạc, phân tán nhau thì có thể đi đến sự tách biệt và đối lập
giữa cá nhân và xã hội. Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với công
chúng luôn phụ thuộc vào bối cảnh của điều kiện sống cũng như các mối quan
hệ này của họ.
Nghiên cứu công chúng là nội dung cơ bản, luôn giữ vị trí hàng đầu
trong các ngành báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng. Các nghiên
cứu về công chúng đều hướng đến việc làm rõ chân dung công chúng, các
nhóm công chúng với các đặc điểm về độ tuổi, giới tính, trình độc học vấn,
đặc điểm nghề nghiệp, địa bàn cư trú, thói quen đọc báo… Họ là những cộng
đồng dân cư khác nhau trong cơ cấu xã hội, khác nhau về điều kiện vật chất
và môi trường xã hội. Trong các nghiên cứu về truyền thông đại chúng không
thể tác rời công chúng ra khỏi môi trường xã hội, lịch sử tương ứng mà phải
đặt họ trong bối cảnh của các điều kiện sống cũng như các mối quan hệ của
họ. Từ vị trí xã hội, nhận thức, học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú… của công
- trang 22 -
chúng, truyền thông đại chúng xác định mối quan tâm và thái độ của họ đối
với thông tin. Làm rõ được điều này báo chí sẽ thuyết phục được công chúng
và quá trình truyền thông điệp sẽ đạt được mục đích thay đổi hành vi, nhận
so với nam giới. Chính sự độc đoán của giai cấp phong kiến, cùng với những
tệ nạn xã hội mới là nguyên nhân đẩy phụ nữ vào vị trí lệ thuộc và thấp hèn
trong gia đình và ngoài xã hội. Trong xã hội hiện đại, xã hội thừa nhận vị trí
hết sức quan trọng của phụ nữ, họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn
định của gia đình. Bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ
còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Phụ nữ có mặt trong hầu hết các
công việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng. Ngày càng nhiều người trở
thành chính trị gia, các nhà khoa học nổi tiếng, những nhà quản lý năng động.
Họ bắt đầu khẳng định mình, bắt đầu “vươn xa” khỏi tầm nhìn hạn chế của
người nội trợ, bắt đầu tiếp xúc với tri thức và đòi hỏi được ngang bằng với
nam giới.
Như vậy, khi xem xét mối quan hệ truyền thông đại chúng với công
chúng, cụ thể là công chúng độc giả nữ, chúng ta cần lưu ý đến đặc điểm tâm
sinh lý nữ giới. Bởi những đặc điểm này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
tiếp nhận thông tin, hành vi, thói quen cũng như việc đo lượng mức độ hài
lòng của họ đối với thông tin nhận được, việc sử dụng những thông tin trên
báo vào cuộc sống thực tế của công chúng độc giả nữ.
1.2. Đặc trƣng môi trƣờng báo chí thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1. Vài nét tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 8,3% dân số so với
cả nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế
của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Thành phố Hồ Chí Minh là