VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
TIẾP CẬN CỦA NGƢỜI DÂN VỚI DỊCH VỤ KHÁM, CHỮA
BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ Ở TUYẾN CƠ SỞ VÀ CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƢỞNG (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI HẢI
DƢƠNG VÀ BÌNH ĐỊNH)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2019
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH
Phản biện 1: GS. Trần Hữu Luyến
Phản biện 2: PGS. Nguyễn Kế Hào
Phản biện 3: PGS. Đình Hùng Tuấn
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là yếu tố nền tảng đồng thời cũng là mục tiêu hướng tới trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản
là quyền cơ bản của con người (Tuyên bố Alma Ata, 1978) song không phải lúc
nào và ở đâu điều nàycũng được bảo đảm. Có sự khác biệt về tiếp cận y tế giữa
các khu vực, cộng đồng, cá nhân có đặc điểm nhân khẩu học, quan niệm, nhận
thức và hiểu biết về sức khỏe khác nhau.
Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam, thời gian gần đây chưa có nhiều
nghiên cứu đánh giá một cách tổng hợp tiếp cận của người dân đối với dịch vụ
khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong bối cảnh có nhiều chính sách mới về vấn
đề này. Vai trò của các yếu tố gia đình, cá nhân cũng như yếu tố dịch vụ đối với
tiếp cận của người dân cần được xem xét trong mối liên hệ tổng thể. Hơn nữa,
nghiên cứu mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ của một cộng đồng là chủ đề
được các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm bởi khi chuyển đổi từ hệ
thống kinh tế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường đã kéo theo sự thay đổi
sâu sắc của hệ thống y tế từ chỗ không có hoặc chỉ có một lựa chọn sang nhiều
lựa chọn trong khi nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư cho y tế công. Để sử dụng
nguồn lực hiệu quả, giữ vững ưu thế trong cung cấp dịch vụ, nhất là cho những
đối tượng yếu thế, cơ sở y tế phải thích nghi với tình hình mới. Do đó nghiên
cứu: ''Tiếp cận của người dân với dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở
tuyến cơ sở và các yếu tố ảnh hưởng (nghiên cứu trường hợp tại Hải Dương
và Bình Định)'' được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Mức độ tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế của người
dân tại tuyến cơ sở trên địa bàn nghiên cứu như thế nào?
1
Các yếu tố về thể chế chính sách, cung ứng dịch vụ và đặc điểm
người sử dụng dịch vụ ảnh hưởng như thế nào tới sự tiếp cận dịch vụ khám,
chữa bệnh bảo hiểm y tế của người dân tại tuyến cơ sở?
Đề tài giới hạn địa bàn nghiên cứu tại huyện Tuy Phước và Hoài
Nhơn của tỉnh Bình Định và huyện Gia Lộc và Kim Thành, tỉnh Hải
Dương. Thời gian nghiên cứu tiến hành từ năm 2014 đến 2018. Khảo sát
thực địa được thực hiện trong năm 2014. Nghiên cứu tập trung tìm hiểu việc
tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở của người dân có thẻ bảo
hiểm y tế, nhóm không có thẻ cũng được điều tra để tìm hiểu sự khác biệt.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu trúc chức năng và lý thuyết sự lựa
chọn hợp lý phục vụ cho việc phân tích.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu điều tra một lần theo lát
cắt ngang, kết hợp phương pháp thu thập thông tin định lượng (điều tra
hộ gia đình) và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) .
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận mang tính tổng thể, đó là xem xét
khả năng tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở tuyến cơ sở của
người dân cả từ góc độ cung, cầu và môi trường chính sách chi phối hoạt động
cung, cầu đó. Đây có thể coi như một đóng góp mới về cách tiếp cận giải quyết
vấn đề của luận án. Kết quả chỉ ra rằng: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế
3
tương đối cao song có sự khác biệt theo đặc trưng nhân khẩu học, điều kiện kinh
tế và khu vực sống. Người dân có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế của khu vực tư
nhân nhiều hơn công lập. Mức độ bao phủ bảo hiểm y tế cao không đồng nghĩa
với bao phủ hiệu quả khi tỷ lệ người dân có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi đi
khám, chữa bệnh chưa cao. Tuy nhiên đối với những người đến y tế công lập,
đa phần là đến trạm y tế xã và bệnh viện huyện, đại bộ phận đều sử dụng dịch
vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Với những người có sử dụng dịch vụ khám,
pháp nghiên cứu; Chương 3 trình bày thực trạng tiếp cận dịch vụ khám, chữa
bệnh bảo hiểm y tế tại địa bàn nghiên cứu; Chương 4 phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại địa bàn nghiên cứu.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ
1.1. Quan điểm, chính sách nhằm tăng cƣờng tiếp cận dịch vụ y tế
1.1.1. Xu hướng toàn cầu
Có sự chuyển biến về chất từ quyền tiếp cận theo Tuyên bố Alma Ata về
chăm sóc sức khỏe (CSSK) ban đầu đến công bằng trong tiếp cận theo định
hướng bao phủ CSSK toàn dân để bảo đảm mọi người dân khi cần đều có thể
tiếp cận các dịch vụ y tế (DVYT) và được bảo vệ tài chính trước các rủi ro.
1.1.2. Quan điểm, định hướng chính sách của Việt Nam
Hiến pháp quy định quyền được CSSK của mọi công dân. Quan điểm
công bằng thể hiện trong Nghị quyết số 46 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Nghị quyết số 20
của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm
5
sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới nhấn mạnh “y tế cơ sở là
nền tảng” để xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hội nhập.
Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) triển khai từ năm 1992, Luật BHYT
ban hành năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014. Các quy định, văn bản hướng
dẫn về BHYT, y tế cơ sở, các chính sách hỗ trợ các nhóm đặc thù tương đối
đầy đủ và luôn được điều chỉnh, bổ sung để đảm bảo sự tiếp cận khám, chữa
bệnh (KCB) BHYT của mọi người dân tại tuyến cơ sở. Tuy nhiên vẫn còn
những bất cập ngay trong nội hàm chính sách, thực thi chính sách và tác động
trái chiều, không mong muốn của chính sách.
1.2. Khái quát về hệ thống y tế Việt Nam
1.2.1. Tổ chức hệ thống y tế
sức khỏe, khả năng tài chính, nhận thức, thói quen... ảnh hưởng tới tiếp cận. Các
yếu tố này có liên quan với nhau và đều chịu sự chi phối của thể chế chính sách.
CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Các khái niệm chính liên quan đến đề tài
Các khái niệm chính: (i) Tiếp cận; (ii) DVYT/ dịch vụ KCB; (iii) BHYT,
KCB BHYT; (iv) Y tế cơ sở/ tuyến cơ sở; (v) Yếu tố ảnh hưởng. Tiếp cận, trong
nghiên cứu này, nhìn theo cả góc độ có khả năng tiếp cận và thực sự tiếp cận.
2.2. Các lý thuyết chính đƣợc vận dụng trong nghiên cứu
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý giúp tìm hiểu các yếu tố có ảnh hưởng đến
quyết định của cá nhân khi cân nhắc những mặt thuận lợi và hạn chế của KCB
BHYT ở một dịch vụ cụ thể trước khi đưa ra lựa chọn mà cá nhân cho là có lợi
7
nhất, hợp lý nhất với mình. Lý thuyết cấu trúc chức năng giúp nhận diện và
phân tích các cấu phần của y tế cơ sở trong mối liên hệ của chúng với nhau và
với tổng thể chung dưới sự chi phối của thể chế chính sách và sự tương tác với
bên cung để đạt tới chức năng đích là CSSK và KCB BHYT cho dân.
2.3. Các mô hình/ khung đo lƣờng tiếp cận dịch vụ y tế
Tổng quan mô hình sử dụng DVYT, mô hình 5A, khung đo tiếp cận từ
góc độ cung, cầu và các rào cản tiếp cận, cho thấy có nhiều điểm tương đồng
mà tựu chung đều thừa nhận sự tương tác giữa cung và cầu có thể mang lại
những kết quả khác nhau về mức độ tiếp cận. Trên thực tế, các vấn đề về phía
cung và cầu không dễ gì tách biệt, có liên quan trực tiếp với nhau và đều chịu sự
chi phối chung của môi trường chính sách và điều kiện phát triển kinh tế xã hội.
2.4. Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
2.4.1. Khung phân tích
2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu:
9
địa phương quan tâm đến các hoạt động y tế. Tại mỗi huyện chọn ngẫu nhiên
04 xã/ thị trấn, mỗi xã/ thị trấn chọn ngẫu nhiên 02 thôn/ tổ. Tại mỗi thôn/ tổ, 50
HGĐ được chọn từ danh sách HGĐ theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống.
Cỡ mẫu điều tra trong nghiên cứu mô tả theo công thức tính toán là 1.398
HGĐ. Tổng số hộ được điều tra là 1.600 để đảm bảo cỡ mẫu trong trường hợp
có hộ không đồng ý tham gia hoặc một số phiếu điều tra không đạt. Thực tế
nghiên cứu đã điều tra được 1.588 hộ gia đình.
Mẫu định tính
Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp PVS, TLN gồm: 04 cuộc
PVS bệnh nhân BHYT (mỗi BV huyện một cuộc) và 04 cuộc TLN từ 08-10
bệnh nhân BHYT (mỗi BV huyện một cuộc); 16 cuộc TLN từ 08-10 người dân
có thẻ BHYT (mỗi xã/ thị trấn một cuộc); 16 cuộc TLN từ 08-10 người dân
không có thẻ BHYT (mỗi xã/ thị trấn một cuộc). Cơ quan, ban ngành: 02 cuộc
TLN Lãnh đạo Sở Y tế; 04 cuộc TLN Lãnh đạo và các phòng ban BV huyện;
04 cuộc TLN các cơ quan quản lý tuyến huyện (Phòng Y tế, BHXH); 16 cuộc
PVS Trưởng TYT, 04 cuộc TLN các trưởng TYT xã của huyện điều tra.
2.6. Hệ biến số phân tích và kỹ thuật xử lý số liệu
2.6.1. Hệ biến số phân tích
Biến phụ thuộc
Tham gia bảo hiểm y tế: 1: có; 0: không
Đi khám, chữa bệnh khi bị bệnh/ ốm: 1: có; 0: không
Sử dụng thẻ BHYT khi đi khám, chữa bệnh: 1: có; 0: không.
Có hài lòng khi sử dụng dịch vụ KCB BHYT: 1: có; 0: không
Nơi chữa trị khi không sử dụng dịch vụ KCB ở tuyến cơ sở: 1. Cơ sở y tế
công lập khác; 2. Cơ sở y tế tư nhân; 3.Tự mua thuốc điều trị.
10
phần kiểm chứng tính cần thiết, đúng đắn của các chính sách, quy định mới
cũng như gợi mở sự cần thiết có các đánh giá tác động chính sách, cung cấp
bằng chứng cho sự điều chỉnh và hoàn thiện chính sách.
CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ KCB BHYT Ở TUYẾN
CƠ SỞ TẠI BÌNH ĐỊNH VÀ HẢI DƢƠNG
3.1. Tình hình tham gia BHYT
So với mức bao phủ BHYT của toàn quốc tại cùng thời điểm điều tra
(71,5%), Bình Định có tỷ lệ tham gia BHYT cao hơn (72,9%) và Hải Dương
thấp hơn (68,4%). Quan sát chung ở hai tỉnh, nữ giới tham gia (73,6%) nhiều
hơn nam giới (67,8%), chính sách BHYT được làm tốt với trẻ dưới 6 tuổi, học
sinh sinh viên, hưu trí và người nghèo (trên 98%). Nhóm có trình độ học vấn từ
trung cấp (81,6%), đại học trở lên (95,7%) tham gia nhiều nhất. Vấn đề “khoảng
trống giữa”, nguy cơ “lựa chọn ngược” đáng quan tâm khi tỷ lệ tham gia của
khu vực phi chính thức chỉ ở mức 50%. Cá biệt là nhóm nghề tự do (29,6%). Tỷ
lệ tham gia BHYT khu vực nông thôn (68,4%) thấp hơn thành thị (74,2%).
3.2. Nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế
3.2.1. Tình hình bệnh/ ốm tại địa bàn điều tra
Điều tra cho thấy nhìn chung nữ ốm nhiều hơn nam, nhóm dưới 6 tuổi
và nhóm từ 60 tuổi trở lên ốm nhiều nhất. Nhóm từ 50 - 59 tuổi cũng ghi nhận
có tỷ lệ bệnh/ ốm cao. Tỷ lệ bệnh/ ốm trong số những người có BHYT cao hơn
nhiều so với những người không có BHYT.
3.2.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế
12
Hành vi tìm kiếm DVYT phổ biến nhất của các HGĐ ở Bình Định nếu
bị bệnh/ ốm là ra hiệu thuốc (54,2%), đến YTTN (20,7%), đến BV huyện
(14,3%), chỉ số ít chọn đến TYT (6,5%). Mô hình ở Hải Dương có khác biệt,
vẫn là đến hiệu thuốc nhiều nhất (33,6%) song kế tiếp là đến TYT (26,9%) và
không có BHYT đến TYT xã. Ở Hải Dương, hơn 75% lượt người không có
BHYT đến các cơ sở tư nhân, còn hơn 50% lượt người có BHYT lại đến tuyến
cơ sở (33,1% ở TYT, 20,1% ở BV huyện).
3.4. Thực trạng tiếp cận dịch vụ KCB BHYT
3.4.1. Sử dụng quyền lợi BHYT khi đi KCB
Chỉ có 41,9% lượt sử dụng dịch vụ của người bệnh/ ốm có tham gia
BHYT là có dùng thẻ BHYT khi đi KCB, Bình Định (28,7%) thấp hơn rất
nhiều so với Hải Dương (55,9%).
3.4.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ KCB BHYT
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ KCB BHYT
Mặc dù tỷ lệ sử dụng thẻ khi đi KCB nhìn chung còn thấp song đa phần
những người đến KCB ở các cơ sở công lập, là nơi có triển khai KCB BHYT,
đều sử dụng dịch vụ KCB BHYT (Bình Định: 91,8%; Hải Dương: 89,5%).
Nhóm trẻ dưới 6 tuổi và nhóm từ 60 tuổi trở lên KCB BHYT nhiều nhất, nhóm
tuổi 50-59 cũng KCB BHYT nhiều hơn các nhóm còn lại. So sánh hai tỉnh, tỷ lệ
KCB BHYT của các nhóm tuổi của Hải Dương đều cao hơn Bình Định. Theo
loại thẻ, ở Hải Dương, các nhóm KCB BHYT nhiều nhất là người nghèo, tiếp
đó là hưu trí, người cao tuổi, người có công với Cách mạng. Theo nơi đăng ký
KCB ban đầu, nhóm đăng ký ở TYT xã dùng dịch vụ KCB BHYT nhiều nhất,
14
gần gấp đôi nhóm đăng ký tại BV huyện. Những khác biệt này ở Bình Định là
không rõ ràng. Về nơi sử dụng dịch vụ, người bệnh/ ốm ở Bình Định KCB
BHYT nhiều nhất là ở BV huyện, ở Hải Dương là TYT xã. Về loại dịch vụ sử
dụng, đa phần là ngoại trú (Bình Định: 73,9%; Hải Dương: 81,4%)
Mức độ hài lòng với KCB BHYT
Mức độ hài lòng với dịch vụ KCB BHYT cao (Bình Định:73,9%; Hải
Dương: 88,3%) ở mọi loại hình cơ sở mà người bệnh/ ốm tiếp cận. Lý do chủ
yếu là không phải chi trả nhiều vì có BHYT, thái độ y bác sĩ tốt, thuốc men đầy
đó làm giảm sự tiếp cận dịch vụ KCB BHYT của dân.
4.2.2. Chất lượng dịch vụ
Về chất lượng chuyên môn thể hiện qua năng lực thực hiện các dịch vụ
kỹ thuật, y tế cơ sở cả tuyến huyện và xã đều không triển khai được hết các kỹ
thuật theo phân tuyến do nguồn lực đầu vào hạn chế. Điều này khiến mức độ
tiếp cận DVYT của người có thẻ BHYT tại địa bàn điều tra còn thấp. Một số
khía cạnh của chất lượng dịch vụ như chỉ dẫn và đón tiếp, cải tiến quy trình và
thủ tục đáp ứng sự hài lòng của người bệnh đều được các cơ sở y tế chú trọng
hơn. Các cơ sở y tế đều nhận thức phải phát huy thế mạnh đang có và có sự đầu
tư chiến lược vào nhân lực và phát triển khoa học kỹ thuật để mở rộng loại hình
dịch vụ, tăng cường chất lượng, nâng cao uy tín nhằm thu hút bệnh nhân.
4.2.3. Tính thuận tiện
Vị trí dễ tiếp cận là lý do thường được cân nhắc cho lựa chọn đến đâu để
sử dụng dịch vụ của người dân tại địa bàn nghiên cứu. Đây là lợi thế của hiệu
thuốc, phòng khám tư cũng như cơ sở y tế công lập gần dân. Yếu tố gần nhà là
16
lý do khiến nhiều người có BHYT chọn đến TYT xã và hài lòng với KCB
BHYT. Tuy vậy vị trí dễ tiếp cận là lợi thế song chưa phải là điều kiện bảo đảm
nếu cách thức tổ chức, thủ tục KCB còn phiền hà.
4.2.4. Phương thức chi trả, thanh quyết toán KCB BHYT
Thanh toán theo phí dịch vụ tạo ra cơ chế khuyến khích cơ sở y tế cung
ứng DVYT quá mức cần thiết, phương thức thanh toán theo định suất còn nhiều
điểm hạn chế về thiết kế quỹ (cách tính suất phí không phù hợp) cũng như trong
triển khai thực hiện (giữ bệnh nhân để tránh chi phí đa tuyến, khống chế kinh
phí KCB tuyến xã...) gây ra một số bất cập như mất công bằng giữa các nhóm
bệnh nhân BHYT, giữa các tuyến dịch vụ y tế và giữa các địa phương, kìm hãm
ứng dụng kỹ thuật mới, khiến cơ sở y tế hoạt động cầm chừng, hạn chế quyền
lợi của KCB BHYT, gia tăng vượt tuyến, phá vỡ hệ thống chuyển tuyến.
Kết luận
Tình hình tham gia bảo hiểm y tế
Tỷ lệ bao phủ BHYT tương đối cao ở địa bàn nghiên cứu, tương đương
mức chung toàn quốc vào cùng thời điểm dù có khác biệt giữa các nhóm. Chính
sách BHYT được làm tốt với trẻ dưới 6 tuổi, học sinh sinh viên, hưu trí, người
nghèo song còn có tình trạng tuân thủ Luật chưa cao trong nhóm làm công ăn
lương, là vấn đề “khoảng trống giữa” và nguy cơ “lựa chọn ngược” trong khu
vực lao động phi chính thức và nhóm cận nghèo, là tỷ lệ tham gia BHYT còn
thấp của khu vực nông thôn so với thành thị. Kết quả này khẳng định giả thuyết
thứ nhất của luận án: “Tỷ lệ tham gia BHYT của người dân tại địa bàn nghiên
cứu là tương đối cao song còn nhiều khác biệt về đặc trưng nhân khẩu học, điều
kiện kinh tế và khu vực sống”.
18
Tình hình tiếp cận dịch vụ y tế và KCB BHYT
Mức độ tiếp cận DVYT tại địa bàn điều tra là rất cao dù có nhiều khác
biệt giữa các nhóm xã hội. Người dân có sự đa dạng trong sử dụng DVYT với
xu hướng sử dụng dịch vụ của khu vực tư nhân nhiều hơn công lập.
Mức độ bao phủ BHYT cao không đồng nghĩa với bao phủ hiệu quả vì
người dân không có nhiều lựa chọn khi YTTN chưa tham gia KCB BHYT
nhiều. Tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT đi KCB còn rất khiêm tốn ở tất cả các nhóm, kể
cả đối tượng hưu trí, chính sách dù được hưởng hoàn toàn kinh phí KCB
BHYT. Tuy nhiên, tỷ lệ KCB BHYT lại rất cao đối với những người tiếp cận
cơ sở có KCB BHYT dù có khác biệt về tuổi, khu vực sống, mức độ bệnh,
đặc biệt là nơi đăng ký KCB ban đầu, nơi sử dụng dịch vụ KCB
BHYT. Mức độ hài lòng của họ là rất cao, chủ yếu là vì được BHYT chi trả,
thái độ y bác sĩ tốt, thuốc men đầy đủ, thủ tục thuận tiện và gần nhà.
hạn chế. Tuyến y tế cơ sở chưa làm tốt chức năng KCB BHYT do năng lực
hạn chế, quản trị hệ thống yếu, tài chính y tế còn bất cập. Vị trí dễ tiếp cận có
thể là lợi thế nhưng chưa đủ, chính chất lượng mới tạo nên sự khác biệt, đặc
biệt khi có quy định thông tuyến. Cải thiện chất lượng chuyên môn đòi hỏi
phải có thời gian và nguồn lực, song cải thiện về chất lượng dịch vụ là điều
có thể làm được ngay.
Những phát hiện này góp phần là minh chứng khẳng định sự cần thiết,
tính đúng đắn của các chính sách, quy định ban hành gần đây cũng như các
nỗ lực tăng cường năng lực, cải thiện chất lượng KCB và sự hài lòng của
người dân đang được triển khai những năm qua.
20
Đặc điểm cá nhân và hộ gia đình
Xem xét lựa chọn của người dân qua lăng kính của lý thuyết sự lựa chọn
hợp lý, kết quả thực nghiệm giúp cung cấp bằng chứng khẳng định giả thuyết
thứ sáu là các yếu tố đặc điểm cá nhân, HGĐ và cộng đồng có tác động đến
quyết định tham gia và sử dụng BHYT khi đi KCB của các nhóm đối tượng
khác nhau, cụ thể giới tính, tuổi, học vấn, nghề nghiệp, mức sống, khu vực sống
có mối liên quan với tỷ lệ tham gia BHYT và tuổi, khu vực sống, mức độ bệnh,
đặc biệt là nơi đăng ký KCB ban đầu, nơi sử dụng dịch vụ có mối liên quan với
sử dụng thẻ BHYT khi đi KCB. Rào cản tài chính có thể khiến người dân hạn
chế sử dụng DVYT, dẫn đến hành vi tìm kiếm DVYT thiếu bình đẳng, xuất
phát chủ yếu từ khả năng chi trả hơn là nhu cầu CSSK. Nhận thức của người
dân về lợi ích KCB BHYT chưa được chuyển thành hành vi sử dụng thẻ khi đi
KCB bởi hành vi tìm kiếm DVYT bị chi phối bởi thói quen, định kiến, cảm
nhận chủ quan về tình trạng sức khỏe.
Những kết quả và phát hiện này cũng đặt ra câu hỏi về tính công
bằng trong tiếp cận khi việc tham gia BHYT và KCB BHYT bị tác động
bởi những yếu tố tạo thuận lợi như thu nhập, tình trạng BHYT, nơi cư trú và
tốt là chiến lược quan trọng để tăng tiếp cận DVYT của người tham gia BHYT.
Gói dịch vụ cần được thiết kế phù hợp có sự cân đối cả dịch vụ phòng bệnh và
chữa bệnh như bao gồm tư vấn sức khỏe, quản lý thai sản và dinh dưỡng, quản
lý bệnh không lây nhiễm đã được thực tiễn chứng minh có hiệu quả chi phí cao.
Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra những gợi mở về các can thiệp
chung và riêng phù hợp với đặc thù từng nơi. Với xu hướng và thực tế sử
dụng DVYT tại địa bàn điều tra thiên nhiều về sử dụng dịch vụ tại các cơ sở
tư nhân, các can thiệp có thể áp dụng chung không chỉ là việc tăng cường
thanh kiểm tra, quản lý tốt các hiệu thuốc, phòng khám tư mà còn là tạo điều
22