Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hoá Đông Nam Bộ trên các chương trình truyền hình - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

…………*……………
ĐINH DUY HẢO

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA ĐÔNG NAM

BỘ TRÊN CÁC CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

(Khảo sát trên các chƣơng trình của Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Nai từ
2002 đến năm 2005)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ : 60. 32.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS Báo chí: Tạ Bích Loan

TP. HỒ CHÍ MINH 2006

131
MỤC LỤC


II. 1/ Những chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc: 44
II.2/ Những chủ trƣơng chính sách của Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Đồng nai về
việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống ở Đồng nai:
47
CHƢƠNG HAI: KHẢO SÁT VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
VĂN HOÁ ĐẶC SẮC ĐỒNG NAI TRÊN CÁC CHƢƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH ĐÀI ĐỒNG NAI

I/ Tổng quát về Đài Phát thanh Truyền hình Tỉnh Đồng Nai: 53

I.1/ Về nội dung:
I.2/ Về cơ sở vật chất-kỹ thuật: 58
I.2.1/ Phát thanh:
I.2.2/ Truyền hình:

II. Những nội dung chính của các chƣơng trình của Đài Truyền hình Đồng nai
nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá Đồng nai. 60

II.1/ Những chƣơng trình ghi lại các hoạt động văn hoá truyền thống, các
di tích cần gìn giữ:
61

II.2/ Những chƣơng trình đã đánh động về sự xuống cấp của những di
tích, sự mai một của những làng nghề, lễ hội: 66

II.3/ Những chƣơng trình đã nêu bật đƣợc giá trị và ý nghĩa của những
công trình văn hoá cần tôn tạo và tuyên truyền: 69

II.4/ Những chƣơng trình đã góp phần tạo đƣợc sức hấp dẫn du lịch: 81

Cao Tự Thanh 110
3/ GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Nguyễn Thế Nghĩa 116

4
PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài:

Ngày nay, xu thế hội nhập toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thời đại. Đây là
vấn đề không riêng chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề rất được quan tâm đối với các
nước đang phát triển, đang trên đường hòa nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để
hòa nhập mà không bị hòa tan trước sự du nhập ồ ạt của nhiều nền văn hóa trên thế
giới, chúng ta phải giữ gìn 1 nét văn hóa riêng, có bản sắc riêng của mỗi dân tộc.
Sau khi mở cửa, nhiều luồng văn hóa trên thê giới ùa vào nước ta, mang theo
những hơi thở mới, giúp cho nền văn hóa của ta thêm phong phú đa dạng. Mở cửa
cũng giúp ta giới thiệu với thế giới nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc, là bước
đệm để nền văn hóa nước ta dần hội nhập và hội nhập nhanh hơn. Thế nhưng một
nguy cơ đặt ra cũng thật bức xúc của những người tâm huyết, đó là nguy cơ đi
chệch hướng, nguy cơ làm mất đi nét đặc sắc riêng của văn hóa dân tộc.
Do vậy tuyên truyền, giáo dục về ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc là một trong những chương trình hành động trọng điểm của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay.
Trong những năm gần đây, khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia nào
đó, người ta không chỉ quan tâm đến chỉ số tăng trưởng kinh tế mà còn rất chú
trọng đến các chỉ tiêu văn hóa. Cụm từ “Chất lượng cuộc sống” ngày nay được
dùng nhiều trên các văn bản cũng chính là muốn nhấn mạnh đến cuộc sống con
người trong thế kỷ 21 không chỉ đơn thuần là vật chất mà mặt tinh thần, trong đó
bao gồm: môi trường sống, môi trường làm việc, môi trường thiên nhiên, môi

bền đều phải xác định, ngoài yếu tố vật chất, phải đi tìm những mục tiêu, động lực
từ những yếu tố tinh thần, yếu tố văn hóa. Phát triển văn hóa chính là quá trình tạo
nguồn lực con người, tạo nội lực cho sự phát triển, là mục tiêu và cũng là nguồn
lực vô cùng quan trọng cho việc thực hiện chính sách kinh tế-xã hội.

6
Truyền thống và hiện đại là 2 mặt cần có và đủ trong đời sống xã hội. Hai
yếu tố này luôn hổ trợ và bổ sung cho nhau để cùng phát triển theo hình trôn ốc. Cả
hai hoà quyện cùng nhau, đan xen nhau làm nên diện mạo văn hóa của từng dân tộc
trong từng giai đoạn cụ thể. Sự dung nạp những luồng văn hoá mới sao cho phù
hợp là quá trình tất yếu, bởi nó sẽ quyết định con đường phát triển, sự hưng suy của
mỗi dân tộc.
Đồng nai là một Tỉnh công nghiệp, với 21 khu công nghiệp được cấp phép
(cao nhất nước), với 825 dự án của 31 quốc gia và vùng lãnh thổ đang được triển
khai. Hàng ngàn nhà máy được xây dựng tại đây, sự phát triển kinh tế, công nghiệp
nhanh chóng kéo theo sự du nhập nhiều luồng văn hóa khác nhau đã và đang tạo ra
sự thay đổi quá nhanh về diện mạo văn hóa truyền thống Đồng nai. Trong qúa trình
hội nhập về kinh tế, không thể phủ nhận sự giao lưu, giao thoa về văn hóa. Tỉnh ủy
và UBND Tỉnh Đồng nai đã nhận thức rất sâu sắc sự việc này và có chỉ đạo sâu sát
việc giữ gìn hệ giá trị văn hóa truyền thống của Đồng nai. Công cụ tuyên truyền
đắc lực cho công tác này là các cơ quan truyền thông đại chúng, trong đó Đài Phát
thanh Truyền hình Đồng nai, với ưu điểm của truyền hình, là một kênh quan trọng.
Những năm qua, Đài Phát thanh Truyền hình Đồng nai đã đề ra những chương
trình cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trên, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chưa như
mong muốn. Cũng chưa có tổng kết những gì đã làm và chưa làm được. Nhận thức
được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của Tỉnh
nhà trong giai đọan mới, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vấn đề bảo tồn và phát huy
văn hóa Đông Nam bộ trên các chương trình truyền hình” để viết luận văn tốt
nghiệp này.


-Biên hoà-Đồng nai 300 năm hình thành và phát triển.
-Phát thảo văn hoá dân gian Nam bộ- của Nguyễn Như Thảo.
-Bản sắc văn hoá dân tộc ở Đồng nai- của Huỳnh Văn Tới.
-Di tích lịch sử Đồng nai-của Trần Quanh Tọai (Chủ biên)
-Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá miền Đông Nam bộ-Nhà xuất bản
Đồng nai. Nhiều tác giả.

8
-Văn hoá dân gian trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á. NXB Khoa học xã
hội. Đinh Gia Khánh 1993.
-Việt Nam văn hoá sự cương. NXB Bốn phương Sài gòn 1951. Đào Duy
Anh.
-Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam ( tập thể tác giả, Trần
Quốc Vượng chủ biên) NXB khoa học xã hội 1996.
-Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt nam. Ngô Đức Thịnh chủ biên.
NXB Khoa học xã hội 1993.
Việt nam phong tục. Phan kế Bính. NXB TP HCM 1990.
-Văn hoá Việt nam và cách tiếp cận mới. Phan Ngọc. NXB Văn hoá-Thông
tin 1994.
-Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Trần Ngọc Thêm. NXB TP HCM 1996.
-Cơ sở văn hoá Việt Nam. Trần quốc Vượng (Chủ biên) . NXB Đại học quốc
gia Hà nội 1997.
-Văn hoá Việt Nam, xã hội và con người. Vũ Khiêu (Chủ biên). NXB Khoa
học xã hội 2000.
Trong lĩnh vực công tác chuyên môn, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, văn
nghệ sĩ đã có bước vận dụng quan điểm của Đảng, tìm hiểu bản sắc văn hóa dân
tộc trongphạm vi chuyên môn của mình. Nhiều cuộc thảo luận, hàng trăm bài báo,
bài tham luận của nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, trình bày ý kiến của mình về
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. 50 bài trong số đó được tạp chí
Văn hóa nghệ thuật tuyển chọn in trong tập sách “Tìm về bản sắc văn hóa dân

nhằm xem sức sống của nó bám rễ vào nhân dân như thế nào? Sắc thái riêng -
chung ra sao? Còn những vấn đề gì thực tế đặt ra cần phải nghiên cứu, bổ sung cho
lý luận?
Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu về việc bảo tồn giá trị văn hóa dân
tộc khác nữa. Giá trị những công trình trên, chúng tôi dùng làm tài liệu tham khảo,
và sử dụng những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước làm cơ sở
nghiên cứu để viết Luận văn này.

10
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về “Tác dụng của Truyền hình với công tác Bảo
tồn và phát triển văn hóa dân tộc” còn là vấn đề mới và chưa có một luận văn thạc
sĩ báo chí nào nghiên cứu toàn diện về lĩnh vực nầy. Vì vậy, với sự giúp đỡ tận tình
của Tiến sĩ Báo chí Tạ Bích Loan, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài nầy với mục đích
tìm hiểu cơ sở lý luận, sau đó có tổng kết qua thực tiễn, đưa ra nhận xét tổng quát
về tình hình thực tế việc Bảo tồn và phát triển văn hóa đặc sắc của Đồng nai qua
các Chương trình truyền hình của Đài truyền hình Đồng nai.

3/Mục đích của Luận văn:

Nghiên cứu đề tài nầy với mục đích đưa ra một tổng kết về tình hình tuyên
truyền việc giáo dục về ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Dân tộc Đồng
nai qua các chương trình truyền hình của Đài Đồng nai đã phát sóng, qua đó rút ra
những kinh nghiệm, bài học thiết thực trong hoạt động nghề nghiệp cho bản thân,
sao cho việc tác nghiệp sau nầy có hiệu quả hơn, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo
của Đảng, Nhà nước và các cơ quan đoàn thể, đúng tôn chỉ của tờ báo hình địa
phương. Cũng là để đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền những chính sách,
chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác bảo tồn và phát huy văn hoá dân
tộc, khơi gợi ý thức của mỗi người để công việc thật sự có hiệu quả và nhanh
chóng hơn.
Trên cơ sở khảo sát các thể loại tác phẩm báo hình có mang nội dung: Bảo

trình truyền hình của Đài truyền hình Đồng nai có liên quan đến các vấn đề sau:
-Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá đặc sắc Đồng nai. Cả văn hóa vật thể
và phi vật thể.
-Những chương trình nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất cả tinh thần
cho người dân đồng bào dân tộc ở địa phương.
-Những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, các cơ quan đoàn thể
liên quan đến các vấn đề trên.

12
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Các chương trình đã phát sóng của Đài truyền
hình Đồng nai liên quan đến đề tài trong khõang thời gian từ 2002 đến tháng 6-
2005

5/ Đóng góp của luận văn:
Qua luận văn này tác giả rút ra những kinh nghiệm, bài học thiết thực trong
hoạt động nghề nghiệp của Đài truyền hình Đồng nai , sao cho việc tác nghiệp sau
nầy có hiệu quả hơn, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các
cơ quan đoàn thể, đúng tôn chỉ của tờ báo hình địa phương. Luận văn có thể có
những đóng góp mang tính lý luận về vai trò của báo chí, của truyền hình trong
việc tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của văn hóa và phát huy bản sắc dân
tộc trong thời đại toàn cầu hoá.

và thói quen khác mà con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên xã hội”. Đây
là định nghĩa được nhiều nhà khoa học chấp nhận và dùng tham khảo. Sau ông

14
Tylor có hàng trăm định nghĩa khác. Năm 2001, Viện Thông tin khoa học xã hội đã
thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng tựu chung ta vẫn có
thể thấy nổi lên 4 đặc trưng cơ bản nhất, là những đặc trưng cần và đủ cho phép
phân biệt văn hóa với những khái niệm có liên quan (như: văn minh, văn hiến, văn
vật…).
-Tính Hệ thống: văn hóa luôn có có 1 bề dày, lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Quá trình này tạo những mối quan hệ mật thiết của những hiện tượng,
sự kiện của một nền văn hóa nào đó, giúp phát hiện những đặc trưng, những quy
luật hình thành và phát triển của văn hóa.
-Tính giá trị: Đặc trưng này hàm ý nói đến cái Đẹp, cái Mỹ của Văn hóa.
Cái giá trị và cái phi giá trị trong đời sống con người. Những hoạt động tiêu cực
trong đời sống con người, vẫn thường xuyên xảy ra không được xem là văn hóa
(Thí dụ: buôn lậu, chửi bới, ẩu đã nhau…). Tuy vậy, có nhiều hiện tượng ở vào giai
đoạn lịch sử này được xem là có văn hóa, nhưng trong một giai đoạn khác lại được
đánh giá ngược lại. (Thí dụ: Trong chế độ phong kiến, tư tưởng “Vua xử thần tử
thần bất tử bất trung” được đề cao, nhưng ngày nay tư tưởng này không còn phù
hợp nữa.
-Tính nhân sinh: Đặc trưng này cho phép phân biệt các giá trị văn hóa do
con người tạo nên và mang tính tích cực với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Do vậy
văn hóa trở thành sợi dây nối các hoạt động của con người lại với nhau, liên kết
con người lại với nhau.
-Tính lịch sử: Đặc trưng này chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn,
tính lịch sử tạo cho văn hóa có một bề dày phát triển, một chiều sâu. Văn hóa như
là sản phẩm của một quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ, tích tụ lại thành
truyền thống văn hóa.

yếu tố tĩnh mà là yếu tố động. Luôn luôn động. Văn hóa là nền tảng yếu tố tinh
thần của dân tộc, giữ lại những cái cốt lõi vững bền, nhưng vừa tiếp thu cái mới,

16
gạn lọc tinh nhạy những giá trị văn hóa từ bên ngoài phù hợp để trở thành cái của
mình, thành văn hóa đặc thù của riêng mình.
Vậy "bản sắc văn hóa dân tộc" là gì? Nhiều người cho rằng đó được xem
như là "căn cước" của một dân tộc, không thể nhầm lẫn với các dân tộc khác.
Quang Đạm thì cho rằng: "Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát một cách uyển
chuyển linh hoạt những đặc điểm của một dân tộc tạo nên diện mạo và dạng hình
riêng của dân tộc ấy. Không thể đồng nhất với các dân tộc khác trong một cộng
đồng khu vực hay cộng đồng loài người”. Nhà thơ Huy Cận quan niệm: "Bản sắc
văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc. Bản sắc văn hóa là hạt
nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này sang đời
khác”. Với phương pháp tiếp cận mới, Phan Ngọc xem xét bản sắc văn hóa không
phải ở sản phẩm mà là ở tính chất, đó là tập hợp của những cách ứng xử
(compartment), là linh hồn của văn hóa, nói cách khác là cái phần ổn định trong khi
biểu hiện của văn hóa là vô cùng đa dạng, thay đổi theo thời gian, kinh tế, chế độ
chính trị. Quan điểm này thống nhất với ý kiến của Hoàng Vinh trong bài giảng về
văn hóa cho nghiên cứu sinh Viện văn hóa - nghệ thuật. Hoàng Vinh cho rằng bản
sắc văn hóa thể hiện trong những chùm đặc điểm mang sắc thái, tính chất, kiểu tổ
chức của riêng mỗi dân tộc chứ không phải là những mặt cụ thể: lòng yêu nước,
tâm hồn bình dị, quan hệ tình nghĩa mà nhiều dân tộc khác trên thế giới cũng có.
[10 tr 34].
Những lập luận nêu trên tuy còn khác nhau trong cách diễn đạt nhưng đều
hướng đến ý tưởng chung về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của bản sắc văn
hóa dân tộc trong đời sống kinh tế - xã hội.
Năm 1946, trong kế hoạch kiến quốc đầu tiên của nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề ra năm quan điểm lớn để xây dựng nền văn hóa dân tộc:
-Xây dựng tâm lý, tính cách tinh thần tự lập tự cường.

gì là bản lĩnh của dân tộc ta đã được khẳng định và chứng thực trong lịch sử. Đồng
thời phải nghiên cứu những nét độc đáo sáng tạo của Việt nam cả trong sản xuất,
trong cách tổ chức cộng đồng, giáo dục cộng đồng, trong các lĩnh vực quân sự,

18
ngoại giao. Tuy nhiên cũng cần tìm hiểu cho kỹ những nhược điểm trong cách sống
và trong cách nghĩ, cách sáng tạo của chúng ta mà khắc phục.

I.2/ Khái niệm về văn hóa Việt Nam:

I.2.1/ Khái niệm:

Như trên đã nói, mỗi xã hội người, do đặc thù riêng được quy định bởi
những mối quan hệ riêng nên có những nền văn hóa riêng biệt, khác với những nền
văn hóa khác, gọi là bản sắc của nền văn hóa đó.
Văn hóa Việt nam ở Đông Nam Á, thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
mà điển hình là văn hóa lúa nước. Môi trường thiên nhiên với những vùng đồng
bằng phì nhiêu, mưa nhiều, ẩm ướt, đã định hình cho người Việt nghề trồng trọt để
sống. Nó cũng buộc người Việt phải định cư để chờ cho cây trồng lớn lên, cho trái
mà thu hoạch. Nghề nông nói chung hay trồng lúa nước nói riêng, phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên. Mưa thuận gió hòa thì cây trái tốt tươi, mùa màng bội thu, bằng
nếu mưa dầm nắng hạn, lụt lội dông bão thì mất trắng. Sống phụ thuộc hoàn toàn
vào thiên nhiên nên người làm nông luôn mong ước được sống hoà cùng thiên
nhiên, tôn trọng thiên nhiên, thậm chí thần thánh hóa thiên nhiên (Thần Sấm, Thần
Mưa, Thần Mặt trời, bà Thủy, hạn bà Chằn…). Trong quá trình lao động, người
Việt đã tích lũy những kinh nghiệm từ những hiện tượng thiên nhiên, tổng hợp lại
và rút ra những quy luật của thiên nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của
mình và truyền lại cho đời sau: Móng dài thì nắng móng ngắn thì mưa, Chuồn cuồn
bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì khô; Quạ tắm thì ráo sáo tắm thì
mưa… Do đời sống định cư nên người Việt rất coi trọng cái nhà: sống có cái nhà

cận thân nhì cận lân. Mặt trái của lối sống trọng tình là thói xem thường pháp luật,
làm cho tính tổ chức của người làm nông nghiệp kém hơn so với cư dân các nền
văn hóa khác.
Tất cả đã tạo thành một bản sắc riêng của văn hóa Việt nam. Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng từng nói: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của

20
dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt nam vượt qua
biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không
ngừng phát triển và lớn mạnh”. Hiện trạng văn hóa Việt nam là kết quả của một
tiến trình phát triển lịch sử lâu dài bắt đầu từ khi hình thành những nền tảng văn
hóa thời tiền sử và sơ sử cho tới ngày nay. Trong tiến trình văn hóa ấy, những hằng
số văn hóa tạo nên văn hóa Việt nam vốn đã hình thành từ lớp văn hóa bản địa
nhiều ngàn năm trước Công nguyên.
Ngày nay với thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, thế giới đang phát
triển theo xu hướng "thế giới hóa", "đồng dạng hóa” về kỹ thuật và công nghệ;
nhưng ai cũng rõ nếu văn hóa của các dân tộc đều giống nhau thì thật là buồn cho
nhân loại. Cho nên: UNESCO đang khuyến nghị: Giữ gìn, bảo vệ bản sắc dân tộc
của các nền văn hóa. Khuyến nghị ấy được nhiều quốc gia ủng hộ. Nhưng đó chỉ
mới là mục đích làm đa dạng, nhiều màu sắc cho vườn hoa văn hóa của nhân loại.
Đối với Việt Nam, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc còn có ý
nghĩa sâu sắc hơn, liên quan đến vận mệnh và sức sống của dân tộc mình. Việt nam
đang còn nghèo, đang mở rộng giao lưu quốc tế để xây dựng và phát triển theo
định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Các nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế, âm
mưu diễn biến hòa bình, chệch hướng chủ nghĩa xã hội đang treo trước mắt. Chỉ
có củng cố nội lực cho mạnh lên mới đủ sức tiếp nhận các "yếu tố ngoại sinh" trong
giao lưu với thế giới để tạo cho chất lượng cuộc sống cao hơn mà không tự đánh
mất mình, không xa rời mục tiêu đã chọn. Bản sắc văn hóa dân tộc như là một thứ
"gien nội sinh" trong quá trình đổi mới. Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc được xác định là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; vừa là động lực bên

Indonésien. Chính điều đó đã tạo nên tính thống nhất cao của con người và văn hóa
Việt nam, và rộng hơn là toàn vùng Đông Nam Á. Trong sự đa dạng chung đó lại
luôn có tính thống nhất bộ phận: của người Việt và Mường, của người Việt-Mường
và các dân tộc cùng gốc Nam Á-Bách Việt (Cơ sở văn hoá Việt nam, Phó Giáo sư-
Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, NXB Giáo dục 1999).

22
Việt nam vào khỏang thiên niên kỷ thứ 2 trước CN, do sức ép của của sự
phát triển dân số, các cư dân Môn-Khơmer ở phía bắc (tức người Việt-Mường) đã
ào ạt xuống đồng bằng Châu thổ trũng xung quanh Hà nội, cộng cư với người Tày,
người Thái ở đây. Đã áp dụng mô hình kinh tế lúa nước của người Tày, Thái trong
quá trình khai thác vùng đồng bằng sông Hồng. Quá trình hội tụ, tộc người ấy tạo
nên một nhóm cư dân mới đó là cư dân Việt-Mường. Do sinh tồn, họ phải đắp đê
bảo vệ mùa màng, họ đã liên kết lại để chống ngoại xâm từ phương Bắc tràn
xuống. Họ đề cử một người tù trưởng lớn có ưu thế về kinh tế và quân sự đứng đầu.
Theo truyền thuyết người tù trưởng ấy là Vua Hùng.
Ngày nay sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vực không chỉ do vấn đề
không gian địa lý mà cao hơn là còn do có cùng một nền tảng văn hóa thống nhất.
Sự đa dạng và phong phú của của những nền văn hóa trong các nước ở khu vực
Đông Nam Á phát triển trên một tầng văn hóa chung, gọi là văn hóa Đông Nam Á
bản địa. Ngày nay Việt nam là một thành viên của Asean và đang hội nhập toàn
diện vào khu vực, vì vậy chúng ta một mặt rất cần ý thức về bản sắc văn hóa riêng
của Việt nam, nhưng mặt khác cũng rất cần để tìm hiểu về cơ tầng Văn hóa Đông
Nam Á để tìm thấy một sự gắng bó sâu sắc cho việc hội nhập thành công vào cộng
đồng khu vực.
Văn hóa lúa nước đã trở thành đặc điểm chính của của nền văn hóa bản địa
Đông Nam Á. Điều này được minh chứng bằng hàng loạt các loại công cụ chuyên
dùng như: Cuốc, lưỡi cày, nhíp, dao gặt…đồ dùng hàng ngày để nấu cơm như: nồi,
chõ…đã đào được trong thời kỳ này. Sách cổ Trung quốc, cuốn “Nam phương thảo
mộc trạng” có ghi rằng: thời kỳ đầu Công nguyên, người Bách Việt có trồng lúa

con người ở đây rất cần cù, hiếu học. Họ thạo nghề đi biển, trong bửa ăn cũng giàu
chất biển, thích ăn cay (có thể do để làm mất mùi tanh của cá biển). Trước kia nơi
đây từng là điạ bàn cư trú của người Chăm với một nền văn hóa khá đặc sắc. Đến
nay di tích còn để lại là những tháp Chàm.

Trích đoạn Khơng gian văn hố Đồng nai: Những đặc điểm về văn hĩa Đồng nai: Tiếp tục mở rộng giao lƣu văn hĩa với quốc tế: Về nội dung: Những nội dung chính của các chƣơng trình của Đài Truyền hình Đồng nai nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hĩa Đồng nai:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status