1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THÙY LINH
HOẠT ĐỘNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Ở ATK TRUNG ƯƠNG NHỮNG NĂM 1947 - 1954 Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.27
Người hướng dẫn khoa học: TS. VĂN THỊ THANH MAI
39
1.2.1.
Chăm lo, củng cố và bồi dưỡng những nhân tố
đảm bảo kháng chiến thắng lợi
39
1.2.2.
Thực hiện chiến tranh nhân dân
45
1.2.3.
Bảo vệ và củng cố sức mạnh nội lực, trường kỳ
kháng chiến
55
Chương 2:
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG HOẠT
ĐỘNG ĐẨY MẠNH VÀ ĐƯA KHÁNG CHIẾN ĐẾN
THẮNG LỢI TRONG NHỮNG NĂM 1951 ĐẾN 1954
69
2.1
Phát huy và tăng cường thực lực của cuộc kháng chiến
69
2.1.1.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền và
phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, quốc tế
69
2.1.2.
Củng cố và tăng cường sức mạnh của hậu phương
kháng chiến
83
2.2
Đẩy mạnh và kết thúc chiến tranh
Cạn - Lạng Sơn - Hà Giang - Tuyên Quang - Thái Nguyên. Đó là địa bàn sau
gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước xa Tổ quốc, khi trở về vào ngày
28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chọn làm điểm dừng chân.
Người chọn Pác Bó (Cao Bằng), và từ đây, cùng với việc trực tiếp lãnh đạo
phong trào cách mạng cả nước, Người chủ trương xây dựng Việt Bắc làm căn
cứ địa cách mạng. Tiếp đó, cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng
Việt Nam, Người chỉ đạo xây dựng con đường “Nam tiến” nối liền căn cứ địa
Cao Bằng với Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Tháng 5/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chuyển về Tân Trào, lập “Thủ đô của Khu giải phóng” lãnh
đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi. Sau đó, ngày 2/9/1945, tại
Thủ đô Hà Nội, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược, Người sớm nhận định: “Cách
mạng đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng
lợi”[9; tr. 14]. Và không chỉ chú trọng xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, Người
còn quan tâm, chỉ đạo việc chuẩn bị và xây dựng các an toàn khu - các ATK
Trung ương trong lòng căn cứ địa Việt Bắc. Khi cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc và ngày một lan rộng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã cùng Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội quay trở lại Việt
Bắc. Việt Bắc - Căn cứ đầu não kháng chiến, vùng rừng núi này đã mở rộng
vòng tay đón Người, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội
cùng hàng vạn cán bộ, chiến sỹ trong điều kiện hết sức thiếu thốn, khó khăn.
Đồng bào các dân tộc Việt Bắc “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” đã đùm
bọc, che trở, bảo vệ các cơ quan đầu não trong suốt hành trình kháng chiến.
7
Vừa là Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ, đồng thời là lãnh tụ của
Đảng, trong những năm sống và làm việc tại ATK Trung ương trên căn cứ địa
Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, góp
phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đó
định chọn đề tài “Hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Trung ương
những năm 1947 - 1954” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Hồ Chí
Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu
ATK Trung ương tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn là vùng đất
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn để xây dựng làm “căn cứ địa”
trong lòng căn cứ địa Việt Bắc. Nghiên cứu chuyên sâu về mảng đề tài này, dù
chưa có một công trình chuyên luận, song ở những góc độ và phạm vi nghiên
cứu khác nhau, cũng đã có những cuốn sách, công trình nghiên cứu, bài báo
khoa học, và các tham luận tại các hội thảo khoa học về Chủ tịch Hồ Chí
Minh, liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ sống và làm việc tại
căn cứ địa Việt Bắc, được chia thành các nhóm sau:
2.1. Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, các cuốn sách như:
Chúng ta có Bác Hồ, tập 2, Nxb. Lao Động, 1970; Những kỷ niệm về Bác của
Triều Ân, Nxb. Việt Bắc, 1973; Chiến đấu trong vòng vây của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, Nxb. Quân đội nhân dân, 1995; Bác Hồ ở Tân Trào, Hội Văn
học nghệ thuật Tuyên Quang, 1995; Căn cứ địa Việt Bắc (1940 - 1945) của
PTS. Hoàng Ngọc La, Nxb. Chính trị quốc gia, 1999; Lịch sử cảnh vệ công an
nhân dân của Lê Văn Kính, Nxb. Công an nhân dân, 1997; Đường tới Điện
Biên Phủ Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb. Quân đội nhân dân,
1999 do Hữu Mai thể hiện; Lịch sử Chính phủ Việt Nam, tập 1, 1945 - 1955
của PGS. Lê Mậu Hãn, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005; Bảo tàng và di tích lưu
niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh Niên,
2009; Từ A.T.K Thái Nguyên đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của Sở
Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, 2009; Hồ Chí Minh Tiểu sử do
9
GS. Song Thành (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, Hồ Chí Minh -
Hành trình từ Làng Sen đến Ba Đình của TS. Văn Thị Thanh Mai, Nxb.
Chính trị quốc gia, 2010, v.v
Đồng Đức Thọ đã giới thiệu ký ức một thời hào hùng của nhân dân các tỉnh
Việt Bắc, và về những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đây…
Các cuốn sách này, ở góc độ này hay góc độ khác đã cung cấp cho
chúng tôi những tư liệu lịch sử chính xác và cách nhìn tổng quan cho vấn đề
đang nghiên cứu…
2.2. Những bài nghiên cứu viết về thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt
Bắc được đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành như: Xây dựng căn cứ địa Việt
Bắc theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946 -
1954) của Lê xuân An, Trần Trọng Thơ, Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 6/1998; Bác
Hồ đi chiến dịch Biên Giới của Hoàng Quốc Việt, Sự kiện nhân chứng, tháng
9/2004; Căn cứ địa ATK Việt Bắc - Một sáng tạo trong kháng chiến chống thực
dân Pháp của Nguyễn Xuân Minh, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 12/2006, Sửa
đổi lối làm việc để huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân của Chu
Đức Tính, Tạp chí Mặt trận, tháng 10/2007; Tân Trào - Thủ đô khu giải phóng
của Đỗ Mạnh Cường, Tạp chí Lịch sử quân sự, 8/2009, v.v
Những bài nghiên cứu này ở các khía cạnh và mức độ khác nhau đã
bước đầu phân tích, làm rõ những sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình
hoạt động chỉ đạo và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
2.3. Các tham luận tại các hội thảo khoa học về Chủ tịch Hồ Chí
Minh, về di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tuyên Quang và Thái
Nguyên được in thành kỷ yếu. Các tham luận đó đã có những phần trình
bày về ATK ở Thái Nguyên, Tuyên Quang như: “Bảo tồn, phát huy giá trị
di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Chợ Đồn, gắn kết với các di tích Chủ
tịch Hồ Chí Minh ở ATK Việt Bắc - Thái Nguyên” của Ma Doãn Kháng;
“Lập hồ sơ khoa học, cắm mốc, bảo tồn các điểm di tích ở ATK Việt Bắc –
11
Thái Nguyên” của Bàn Thị Hà, v.v ; về những nỗ lực hoạt động của Chủ
tịch Hồ Chí Minh trên cương vị là Chủ tịch Chính phủ, đồng thời là Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…đã thiết thực giúp ích cho chúng
căn cứ địa Việt Bắc nói chung và ở ATK Trung ương những năm 1947 - 1954
nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sinh động
trong thời kỳ Người lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược, song Luận văn tập trung nghiên cứu những hoạt
động chính, quan trọng về kháng chiến và kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh từ năm 1947 đến năm 1954 ở căn cứ địa Việt Bắc, nhất là ở ATK Trung
ương tại Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang…
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và lôgíc
- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử danh nhân
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh và hệ thống hoá
5.2. Nguồn tài liệu
- Văn kiện Đảng Toàn tập, từ tập 8 đến tập 16; Hồ Chí Minh Toàn tập,
từ tập 1 đến tập 7; Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, tập 4 và tập 5.
- Một số hồi ký của các đồng chí lão thành cách mạng về giai đoạn 1947 -
1954; các cuốn sách, công trình nghiên cứu khoa học; các bài báo; sách; các
chuyên luận của các nhà nghiên cứu viết về thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt
động ở căn cứ địa Việt Bắc nói chung, ở Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên
13
trong những năm từ 1947 đến 1954 nói riêng, cùng các bài nghiên cứu về Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng Việt Nam đăng trên các tạp chí: Tạp chí
Lịch sử Đảng; Nghiên cứu Lịch sử; Cộng sản, Tuyên giáo, v.v Đó là những
nguồn tư liệu bổ trợ để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến vai trò của Hồ Chí
Minh ở ATK Trung ương từ năm 1947 đến năm 1954.
6. Đóng góp của luận văn
Minh đã phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về công tác xây dựng lực lượng, bao
gồm cả lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và đặc biệt là xây dựng căn cứ
địa - hậu phương cho cách mạng [70; tr.1].
Kế thừa và phát huy truyền thống ông cha về chiến tranh giữ nước, kết
hợp với sự vận dụng một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề căn cứ địa - hậu phương cách mạng lên thành lý
luận mới của cách mạng dân tộc và thuộc địa, để lãnh đạo nhân dân giành
thắng lợi trong tiến trình cách mạng.
Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng các thủ đoạn bạo lực. Vì
vậy, thắng lợi của chiến tranh chủ yếu là do việc quân đội đánh bại kẻ địch
15
trên chiến trường quyết định. Để thực hiện được điều đó, phải làm cho quân
đội của ta có sức mạnh vật chất và tinh thần cao hơn sức mạnh của quân đội
đối phương. Song bản thân quân đội không thể tự tạo ra cho mình tất cả
những sức mạnh đó. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh của lực lượng vũ
trang trên chiến trường phụ thuộc và bắt nguồn cơ bản từ sức mạnh mà nó dựa
vào - tức là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của hậu phương. Học thuyết
quân sự của học thuyết Mác - Lênin coi hậu phương là một trong những nhân
tố thường xuyên, có tác dụng quyết định vận mệnh của chiến tranh.
P.ĂngGhen viết: “Việc tiến hành chiến tranh phải phụ thuộc vào sức sản xuất
và vào phương tiện giao thông ở hậu phương cũng như ở chiến trường. Tóm
lại, bất cứ ở đâu và bao giờ cũng thế, những điều kiện kinh tế và tài nguyên
đều là những cái đã giúp cho “bạo lực” đạt được thắng lợi, nếu không có
chúng thì bạo lực chẳng phải là bạo lực nữa”[4; tr.291-292]. V.I.Lênin cũng
chỉ rõ: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu
phương được tổ chức vững chắc. Một quân đội giỏi nhất, những người trung
thành nhất với sự nghiệp cách mạng, cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt,
nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện một cách đầy
nhấn mạnh).
Biểu hiện tập trung của tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa cách mạng
thể hiện trong công trình “Chiến thuật du kích” của Người [74; tr.504], do
Việt Minh xuất bản năm 1944. Chương XIII - “Căn cứ địa” của cuốn sách tuy
ngắn gọn, nhưng đã thể hiện rõ tư tưởng của Người về vấn đề này. Đó là, sau
khi hình thành hạt nhân chiến đấu là các đội tự vệ chiến đấu, các đội quân du
kích cần xây dựng căn cứ địa theo các nguyên tắc cơ bản: a) Với đường lối
chính trị cứu nước, với phương châm “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”, lại
chưa có chủ quyền lãnh thổ, đất đai, thì trước hết, “Đội du kích trong lúc hoạt
động đánh quân thù, cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội
du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập”;
“Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể
17
trở nên căn cứ địa vững vàng”. b) Nguyên tắc xây dựng căn cứ phải gắn liền
với nguyên tắc lựa chọn địa hình, địa lợi, tức coi trọng yếu tố địa lý. Trong
đó, cùng với “địa thế, địa hình” cần quan tâm tới yếu tố “địa - chính trị”, tức
sự ủng hộ, che chở của quần chúng cách mạng. Về vấn đề này, tác phẩm
“Chiến thuật du kích” nêu rõ: “Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và
quần chúng cảm tình ủng hộ”. c) Nguyên tắc thứ ba là “phải tiến tới xây dựng
được chính quyền cách mạng cho căn cứ địa”. Từ nhiều cơ sở được chọn làm
căn cứ, phải lựa chọn được nơi vững vàng nhất. Ở đó, sau khi đánh đổ được
chính quyền địch phải xây dựng cho được chính quyền cách mạng: “Chưa
thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không
thể củng cố được”. d) Nguyên tắc thứ tư là: Từ căn cứ địa, lực lượng du kích
phát triển, phải tiến tới thành lập được các đội quân chính quy: “Có chính
quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ
đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy” [74; tr.504].
Thấm nhuần lý luận cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc (nhất là
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự, “ATK là khu vực rộng lớn trong khu
vực căn cứ địa cách mạng, có các điều kiện thuận lợi về địa hình, địa thế, dân
cư, chính sách, quân sự được tổ chức bố phòng tốt, bảo đảm bí mật, an toàn
tuyệt đối cho các cơ quan lãnh đạo cách mạng (kháng chiến) đóng tại đó”.
Song không phải nơi nào trong căn cứ địa cũng có thể xây dựng ATK Trung
ương. Trong hoàn cảnh lúc đó, ta không thể có một hậu phương tuyệt đối an
toàn, mọi căn cứ của ta đều có thể bị địch đánh xuyên qua. Do đó, các ATK
Trung ương phải xây dựng ở những nơi tuyệt đối bí mật. Mặt khác, trong điều
kiện chiến tranh mà những phương tiện vũ khí hiện đại của kẻ thù đã “thu dần
khoảng cách không gian”, chúng ta lại không chủ trương một cuộc rút lui
chiến lược (phần lớn các cuộc rút lui của ta là xoay vần với địch), thì các
ATK Trung ương không thể đóng sát Hà Nội, song cũng không thể quá xa
Thủ đô và vùng châu thổ Bắc Bộ quá một ngày hành quân cơ giới, hay một
19
giờ đổ bộ bằng đường hàng không. Trong bối cảnh lúc đó, Việt Bắc, trong đó
có Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang dần trở thành địa bàn thuận lợi để
cách mạng Việt Nam vươn ra thế giới, đồng thời là cửa ngõ để tiếp nhận
những ảnh hưởng của quốc tế và thời đại dội vào Việt Nam đã được chọn để
xây dựng ATK Trung ương.
1.1.2. Địa bàn xây dựng ATK Trung ương
Việt Bắc là tên gọi vùng lãnh thổ thuộc một phần thượng du và trung
du Bắc Bộ; phía bắc và đông bắc giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa;
phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh; phía nam giáp đồng bằng Bắc Bộ; phía
tây giáp các tỉnh Tây Bắc. Khu vực trung tâm của Việt Bắc gồm các tỉnh:
Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang. Khu
vực ngoại vi gồm một số địa phương thuộc các tỉnh: Vĩnh Yên, Phúc Yên,
Phú Thọ, Yên Bái và Bắc Giang [63; tr.5-6].
Rừng núi chiếm khoảng 90% diện tích của khu Việt Bắc, chủ yếu ở các
tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Cạn…Rừng Việt Bắc
Với hệ thống các đường thuỷ, bộ, cùng địa hình dốc, núi rừng hiểm trở,
hoạt động giao thông - nhất là giao thông bằng phương tiện cơ giới trên địa
phận Việt Bắc gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng địa thế đó lại rất thuận
lợi cho hoạt động cách mạng, đặc biệt là cho việc thực hiện chiến tranh du
kích. Dựa vào địa hình phức tạp và hiểm trở của vùng Việt Bắc, phong trào
cách mạng có thể dễ dàng gây dựng cơ sở, phát triển lực lượng; lúc thuận lợi
có thể tiến công, lúc khó khăn có thể lui vào cố thủ, bảo toàn lực lượng.
Thông qua hệ thống các con đường mòn, đường nhỏ xuyên rừng, từ
Việt Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam có thể dễ dàng liên lạc với quốc
tế, trước hết là với cách mạng Trung Quốc. Cũng từ đây, phong trào cách
mạng có thể mở rộng sang hướng Tây Bắc để liên lạc với cách mạng Lào.
Về hướng đông, Việt Bắc nối liền với vùng rừng núi Quảng Ninh,
Đông Triều, kéo dài xuống tận miền duyên hải. Về phía nam, Việt Bắc nằm
21
sát thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Vì thế, xét về mặt quân sự, Việt Bắc
là một nơi dụng binh lợi hại. Nhờ thế hiểm khi phòng thủ và lợi thế khi tiến
công, nên Việt Bắc giữ vị trí chiến lược quan trọng trong tiến trình phát triển
của dân tộc. Đó không chỉ là “bức phên giậu” bảo vệ Thăng Long chống quân
xâm lược phương Bắc thời phong kiến, mà còn có vai trò quan trọng trong
việc tập hợp, phát triển lực lượng trong đấu tranh cách mạng.
Việt Bắc là nơi cư trú của cộng đồng các dân tộc gồm trên hai mươi thành
phần. Trong đó, Tày là dân tộc có số dân đông nhất, sống tập trung ở các tỉnh
Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Các dân tộc Tày, Nùng, Dao
sinh sống ở vùng đất thấp. Người H’Mông sống ở vùng cao, đồng bào Kinh sống
tập trung ở các thị xã, thị trấn của tất cả các tỉnh thuộc Việt Bắc…[63; tr.15-17].
Giữa các dân tộc vùng cao và vùng thấp có khoảng cách chênh lệch khá
lớn về trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Đời sống kinh tế, văn hóa của các
dân tộc còn thấp. Song họ sống chất phác, chân thành, hào hiệp và mến
khách. Nét nổi bật của các dân tộc là tính cộng đồng sâu sắc. Điều đó tạo nên
chúng và phong trào cách mạng phát triển mạnh, cùng với địa thế hiểm yếu có
tác dụng che giấu, bảo vệ lực lượng đã là những yếu tố quan trọng để Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Việt Bắc làm nơi xây dựng căn cứ địa trong
thời kỳ tiến hành cuộc đấu tranh giành chính quyền.
Phát huy vai trò của căn cứ địa Việt Bắc từ những ngày Cách mạng
Tháng Tám, thời kỳ cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn với các huyện
Đại Từ, Võ Nhai, Định Hoá (Thái Nguyên) - nhất là Định Hóa và Chợ Đồn
(Bắc Cạn), Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang) tiếp giáp nhau, có núi non
liên hoàn, hiểm trở, rất thuận lợi cho việc xây dựng khu an toàn - ATK Trung
ương nằm trong lòng căn cứ địa Việt Bắc.
Qua nhiều nguồn tài liệu, Định Hoá [53; tr.33-41] là huyện miền núi ở
phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên; phía bắc giáp huyện Chợ Đồn và Bạch Thông
23
(Bắc Cạn); phía nam giáp huyện Đại Từ (Thái Nguyên); phía đông giáp
huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía tây giáp huyện Sơn Dương và Yên
Sơn (Tuyên Quang) có núi non liên hoàn, hiểm trở, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xây dựng khu an toàn - ATK của các cơ quan đầu não trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Địa thế vùng phía bắc của huyện chủ yếu là rừng già, hệ thống khe suối
nhỏ chằng chịt như bàn cờ, đồng ruộng ít, dân cư thưa thớt. Các xã phía bắc
của huyện (Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vỹ, Tân Thịnh, Kim Phượng, Kim
Sơn, Phúc Chu và Bảo Linh) thuộc vùng có địa hình núi cao, độ dốc lớn theo
hướng tây bắc xuống đông nam, có dãy núi đá vôi thuộc phần cuối của cánh
cung sông Gâm chạy từ phía bắc qua trung tâm huyện dài khoảng 30 km, tạo
nên bức tường thành phía đông Chợ Chu, điểm dừng ở xã Trung Hội. Dãy núi
này có độ cao từ 200m - 400m, có nhiều hang động với sức chứa từ vài chục
đến vài trăm người, rất thuận lợi cho việc cất giấu quân hoặc đặt kho tàng,
xưởng quân giới.
huấn luyện hoặc phục kích, đồng thời ngăn chặn các cuộc càn quét của kẻ
địch mạnh hơn, đông hơn.
Đặc biệt, Định Hoá có nguồn tài nguyên rừng, nước, lương thực, thực
phẩm của nền kinh tế tự nhiên có thể tự cung, tự cấp làm hậu phương căn cứ
địa Từ núi rừng Định Hoá, có thể xuất phát tấn công địch ở các địa phương,
khi thắng lợi có thể tiến về châu thổ sông Hồng; nếu khó khăn, hoặc bị bao
vây tấn công có thể lùi về vùng núi để bảo toàn và xây dựng lực lượng.
Địa thế hiểm trở, núi rừng bạt ngàn; xen kẽ giữa các thôn, bản là những
đồi cây rậm rạp, tạo thành bức màn phủ kín “đường đi lối lại và nhà dân” là
một trong những yếu tố đảm bảo cho huyện Định Hoá nói riêng và tỉnh Thái
Nguyên nói chung trở thành địa điểm “lý tưởng” để xây dựng ATK Trung
ương. Các xã Phú Đình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên của huyện Định
25
Hóa - Thái Nguyên đều cách xa trục đường giao thông chính. Phía tây có dãy
núi Hồng án ngữ, tạo nên bức trường thành kiên cố. Nối liền các xã là những
con đường mòn nhỏ hẹp, kín đáo. Địa bàn khu vực bốn xã có nhiều khe suối
chảy qua, rất thuận lợi cho việc sinh hoạt và trồng trọt. Như Đại tướng Võ
Nguyên Giáp từng kể lại: Tôi còn nhớ khi Bác Hồ về nước, trong thời gian
hoạt động ở Cao Bằng, tại một cuộc họp, Bác nói: Hôm nay, ta có hai chỗ
đứng chân là căn cứ Cao Bằng, và căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn), ta phải củng
cố cả hai căn cứ đó, mở rộng thành căn cứ Cao - Bắc - Lạng, Cao Bằng có
truyền thống cách mạng, thuận tiện cho việc liên lạc với quốc tế, nhưng ở vị
trí xa Trung ương quá; vì vậy, cần thiết phải chọn một nơi để xây dựng thành
trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc. Nơi ấy phải có nhân dân tốt, cơ sở chính
trị tốt và ở đó “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Cuối cùng, Người đã quyết
định chọn tỉnh Thái Nguyên và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc bao gồm 6 tỉnh
Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn - Hà Giang - Tuyên Quang - Thái Nguyên.
Kề sát với khu vực bốn xã của huyện Định Hoá, về phía tây, vượt qua
dãy núi Hồng là huyện Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) và về phía bắc,
chiến tự cấp tự túc, đáp ứng một phần nhu cầu vật chất cho kháng chiến, đảm
bảo cho lực lượng kháng chiến có thể tồn tại và phát triển. Ruộng đất canh
tác ở những vùng này tuy không nhiều và không tốt như vùng đồng bằng,
nhưng do mật độ dân cư thấp, nên diện tích bình quân theo đầu người cao
hơn. Ngoài ruộng vườn, nơi đây còn có nhiều đồng cỏ, nương rẫy có thể tận
dụng để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu, cây ăn quả và chăn nuôi
gia súc, gia cầm. Hệ thống sông suối ở đây đảm bảo nhu cầu canh tác và sinh
hoạt của con người, đặc biệt là cung cấp nguồn thuỷ sản phong phú. Đối với
nước ta, trong điều kiện chưa có kinh tế hàng hoá, giao thông khó khăn, lại bị
đế quốc bao vây, phong tỏa, thì những thuận lợi để phát triển nền kinh tế tự
nhiên như ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn trong chừng mực nhất
định, có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của cuộc kháng chiến.
1
Khu vực ba xã trên, nay thuộc địa phận của bảy xã nối liền nhau: Bình Trung, Lương Bằng,
Nghĩa Tá, Nam Bằng Lũng, Yên Thịnh, Yên Thượng và bản Ty.
27
Không chỉ có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, mà các tỉnh
này còn có cơ sở và phong trào quần chúng vững mạnh. Người dân nơi đây
sớm có truyền thống yêu nước và cách mạng, một lòng trung kiên, quyết tâm
xả thân với nước để chống giặc ngoại xâm. Định Hoá (Thái Nguyên) và Sơn
Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) là những địa phương sớm có đảng viên
Cộng sản đến hoạt động. Cuối năm 1937, một cơ sở cách mạng ra đời ở Quán
Vuông, gồm 7 người, do hai đảng viên lãnh đạo, trong đó có đồng chí Vũ
Hưng
2
. Bước sang năm 1938, cơ sở cách mạng lan sang Bảo Cường. Từ
Quán Vuông - Bảo Cường, đường dây liên lạc được nối liền với cơ sở La
Bằng (Đại Từ - Thái Nguyên). Trong những năm 1939 - 1945, Sơn Dương và