Chính sách ngoại giao công chúng của Hàn Quốc ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Hồng Hải
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CÔNG CHÚNG
CỦA HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 603140
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM MINH SƠN

Kết luận 87
Tài liệu tham khảo 91
Phụ lục 95

2 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Chương 1
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức 21
Chương 2
Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu phim Hàn Quốc sau Worldcup 2002 33
Bảng 2.2: Tín nhiệm quốc gia của Hàn Quốc theo đánh giá của Moody’s 34
Bảng 2.3: Lịch phát sóng của đài KBS ở Đông Nam Á 43
Bảng 2.4: Hiệu quả trực tiếp của Làn sóng Hàn Quốc 50
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng xuất khẩu phim truyền hình theo quốc gia 50
Bảng 2.5: Các học bổng của Hàn Quốc 53
Bảng 2.6: Mạng lưới nghiên cứu toàn cầu 57
Chương 3
Bảng 3.1: Các cơ sở dạy tiếng Hàn Quốc tại Đông Nam Á năm 2008 69
Bảng 3.2: Các trường đại học ở Việt Nam có khoa dạy tiếng Hàn Quốc 70
Bảng 3.3: Kết quả điều tra ảnh hưởng Hàn Quốc đối với sinh viên Việt
Nam 74
Biểu đồ 3.1: Mức độ yêu thích văn hoá Hàn Quốc 75
Biểu đồ 3.2: Các lĩnh vực của văn hoá Hàn Quốc được yêu thích 76
Biểu đồ 3.3: Lý do xem phim Hàn Quốc 76
Biểu đồ 3.4: Mức độ quan tâm đến văn hoá Hàn Quốc 77
Bảng 3.4: Mua bán bộ phim Hàn Quốc 77
Bảng 3.5: Mua bán sản phẩm âm nhạc Hàn Quốc 78

văn hoá toàn cầu. Công chúng ngày càng mong muốn được ảnh hưởng, được tham
gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách.
Hàn Quốc đang ngày càng chú trọng đến việc tăng cường quan hệ quốc tế.
Nhờ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những thập niên qua, “Con hổ Châu Á” -
Hàn Quốc - đang nắm giữ vai trò quan trọng trong khu vực Đông Á nói riêng và
4 Châu Á nói chung. Để tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, uy tín,
tầm ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, những năm gần đây, Hàn Quốc đã đẩy
mạnh tiến hành các chính sách quảng bá hình ảnh văn hoá quốc gia qua các hình
thức như phim ảnh, âm nhạc… Hình ảnh Hàn Quốc từ mờ nhạt trên thế giới đã trở
nên rõ nét, thậm chí có lúc có nơi trở nên rực rỡ với những thành công đến mức tạo
thành một làn sóng Hàn Quốc (Korea Wave, Hallyu) tại các nước mà văn hoá Hàn
Quốc xuất hiện.
Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ hữu nghị với Hàn Quốc đã được 18 năm
kể từ năm 1992 đến nay, tuy nhiên, chỉ đến khi các bộ phim truyện nhựa và phim
truyền hình Hàn Quốc có mặt ở nước ta vào khoảng năm 1998 thì mối quan hệ này
thực sự phát triển nhanh chóng. Trong tất cả các sản phẩm văn hoá của Hàn Quốc
xâm nhập vào Việt Nam có thể nói phim truyền hình là hình thức gây ảnh hưởng rõ
ràng nhất. Khi làn sóng Hàn Quốc bùng nổ tại nhiều quốc gia Châu Á, Việt Nam
cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của làn sóng ấy. Chúng ta bị ảnh hưởng về
mọi mặt theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực. Khắp nơi tràn ngập hình ảnh
những diễn viên được yêu thích, mỹ phẩm, điện thoại, ẩm thực, thời trang Hàn
Quốc,… thậm chí ngay cả nội dung một số phim, nhạc bài hát của Việt Nam cũng
có xu hướng na ná của Hàn Quốc.
Tại sao làn sóng Hàn Quốc lại thành công đến vậy? Nó ảnh hưởng như thế
nào đến giới trẻ, đặc biệt sinh viên Việt Nam hiện nay? Và chúng ta nghĩ gì về cách
thức quảng bá văn hoá, cách tiếp cận công chúng ở nước ngoài của Hàn Quốc– một
cách thể hiện của ngoại giao công chúng hiện đại?

hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995. Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Sổ tay
kiến thức đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Ngoại giao Việt Nam
1945 -2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Hoạt động đối ngoại nhân dân
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, v.v…
Các cuốn sách nêu trên chủ yếu nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Đảng
và hoạt động ngoại giao nhà nước, còn hoạt động đối ngoại nhân dân hầu hết mới
chỉ dừng lại ở một số khía cạnh của hoạt động đối ngoại nhân dân như quan hệ hữu
nghị, hợp tác của nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, hoạt động viện trợ
phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam.
6 - Các bài viết: Ngoại giao Việt Nam năm 2008 và phương hướng năm 2009
của Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Cục diện thế
giới hiện nay và hoạt động đối ngoại của Việt Nam của tác giả Vũ Khoan, Tạp chí
Thông tin đối ngoại, số 10/1995. Đối ngoại nhân dân trong nền ngoại giao hiện đại,
của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, báo Sài Gòn giải phóng ngày 20-6-1996. Công tác
đối ngoại nhân dân trong sự nghiệp đổi mới của tác giả Hồng Hà, Tạp chí Hữu
Nghị số 34/2002. Đối ngoại nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Những định
hướng cơ bản và thành tựu của tác giả Hà Văn Thầm, Thông tin Nghiên cứu quốc
tế số 3/2002. Đảng lãnh đạo công tác ngoại giao nhân dân qua các thời kỳ cách
mạng của tác giả Lê Thị Tình, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2002. Vài suy nghĩ về
ngoại giao nhân dân với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong thời kỳ mới của tác giả
Phạm Quốc Trụ, Tạp chí Hữu Nghị số 1/2003. Hoạt động đối ngoại nhân dân với
công tác thông tin đối ngoại của tác giả Hồ Anh Dũng, Thông tin đối ngoại, số
7/2004. Đối ngoại nhân dân góp phần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong tình hình mới, của tác giả Vũ Xuân Hồng, Tạp chí Hữu Nghị số
14/2004. Phát triển ngoại giao nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng của

số bài viết nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu được đăng trên các trang điện tử nước
ngoài viết bằng tiếng Anh. Đó là các bài viết: Public Diplomacy is Efficient
Diplomacy Tool, của tác giả Yoon Won-sup, Tạp chí The Korea Times (Seoul), số
4 tháng 9/2006, Branding Korea của By Sung - Ah Lee, đang làm việc ở
International Trade Centre, International Trade Forum số 4/2005 실용과 관념사이-
이명박정부의 대중 관념외교(Định nghĩa ngoại giao công chúng của Lee Myung
Bak – từ khái niệm đến thực tiễn), của tác giả Bak Hong Seo, đăng trên trang điện
tử www.knsi.org, ngày 02/9/2009, bài phỏng vấn của phóng viên Na Jeong-ju với
Euh Yoon-Dae, Chủ tịch Uỷ ban Hình ảnh quốc gia thuộc Văn phòng Tổng thống
Hàn Quốc (Presidential Council on Nation Branding), đăng trên trang điện tử
www.nation-branding.info, số 8/2009. Một bài báo thông tin tổng quát về South
Korea đăng trên trang giới thiệu sơ lược về 5 mục tiêu
của chính phủ Hàn Quốc trong chính sách ngoại giao và cung cấp đường liên kết tới
địa chỉ của các báo, đài ở Hàn Quốc.
8 Tuy nhiên, các bài báo viết về ngoại giao công chúng của Hàn Quốc chủ yếu
mới dừng lại việc đề cập đến một số tầm quan trọng của ngoại giao công chúng
trong thời kỳ hiện đại, và Hàn Quốc cần thiết cải tổ hình ảnh, vị trí của quốc gia trên
trường quốc tế,v.v…, nhưng chưa có những bài viết hoặc công trình khoa học phân
tích các hoạt động ngoại giao công chúng của chính phủ cũng như những nội dung
chính sách cụ thể và công bố rộng rãi trên thông tin đại chúng.
Thứ 3, những năm gần đây, ngoại giao văn hoá bắt đầu được quan tâm. Một
số công trình tiêu biểu về vấn đề này là Cultural Impact on International Realations,
Beijing của tác giả Yu Xintian, Culture in International Relations, Washington
Quarterly Spring, 1996 của Mazarr, Michael J. , The Clash of Civilizations and the
Remaking of World Order, Simon & Schster, Canada, 2001 của Hungtington,
Samuel. Vai trò của nhân tố văn hoá trong nền văn minh của tác giả Hồ Sĩ Quý,
đăng trên Tạp chí Triết học, số 02/2006.

bản của chính sách ngoại giao công chúng của Hàn Quốc
- Phân tích các hoạt động ngoại giao công chúng của Hàn Quốc ở Việt Nam
và những ảnh hưởng của nó đến sinh viên Việt Nam
- Tổng hợp, rút ra những kinh nghiệm cho công tác đối ngoại của Việt Nam
hiện nay
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Chính sách ngoại giao công chúng của Hàn Quốc và những hoạt động nhằm
thực hiện chính sách này ở Việt Nam.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đánh giá tất cả các mặt ảnh hưởng của chính sách ngoại giao
công chúng của Hàn Quốc mà chỉ giới hạn ở việc làm rõ quá trình phát triển ngoại
giao công chúng Hàn Quốc, những chính sách cụ thể trong lĩnh vực văn hoá, điện
ảnh đang được áp dụng đối với Việt Nam và ảnh hưởng của chính sách ngoại giao
này đối với sinh viên Việt Nam. Luận văn nhìn nhận, đánh giá những tác động của
làn sóng Hàn Quốc theo tính tiêu cực hay tích cực đối với sự phát triển và rút ra bài
học cho công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu các vấn đề từ khi Việt Nam và Hàn Quốc
thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 đến nay, đặc biệt tập trung nghiên cứu về
những sự kiện, diễn biến trong những năm gần đây.
10 5.Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích – tổng hợp,
phương pháp so sánh – lịch sử và phương pháp nghiên cứu liên ngành, thông qua
nghiên cứu lịch sử kết hợp với tập hợp tài liệu, tư liệu, từ đó, tổng hợp, phân tích và
rút ra những điều làm sáng tỏ cho đề tài luận văn.
6.Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được

ngoại giao truyền thống) và ngoại giao công chúng. Ngoại giao nhà nước chính là
mối quan hệ giữa chính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà
lãnh đạo cao cấp nhất của các nước. Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán
hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại
diện cho chính phủ của họ ở nước sở tại.
Tuy nhiên, sẽ là thiển cận nếu nghĩ rằng nhà nước có thể hoạt động được như
mô hình nhà nước kiểu mẫu lý tưởng Westphalia. Còn có những thành phần khác có
khả năng cung cấp những ý tưởng, chiến lược và giúp tăng cường ảnh hưởng của
một nước trên trường quốc tế hơn là nhà nước tự thân vận động. Trên khía cạnh đó,
bộ máy nhà nước nên là thành phần khởi xướng và điều phối chính thức, chứ không
phải là thành phần thực hiện duy nhất. Các phòng thương mại, hội đồng cố vấn, tổ
chức phi chính phủ, chuyên gia các bộ, ngành, học giả, vận động viên thể thao, nghệ
sĩ, kể cả dân ca nhạc cổ truyền – tất cả đều có thể trở thành công cụ cho ngoại giao
công chúng của một nước.
Khái niệm “ngoại giao công chúng” là một khái niệm còn mới mẻ ở Việt
Nam, trong tiếng Anh là “public diplomacy”. Khái niệm “Public diplomacy” có nơi
được dịch là “ngoại giao công chúng”, có nơi được dịch là “ngoại giao nhân dân”,
“đối ngoại nhân dân” hay thậm chí là “ngoại giao tuyên truyền”. Trong luận văn
này, khái niệm “public diplomacy” được hiểu là “ngoại giao công chúng”. Nội
dung hoạt động của “public diplomacy” là rất rộng và bao quát không chỉ trong
12 phạm vi ngoại giao truyền thống mà còn là những hoạt động nhằm tạo ra những ảnh
hưởng tích cực đến thái độ và tình cảm của người dân và chính phủ nước ngoài tới
quốc gia khác thông qua các phương tiện công chúng.
Ở Hàn Quốc, ngoại giao công chúng được hiểu như sau: trong bản báo cáo
“Ngoại giao trong thời đại truyền thông: vận dụng và hiệu quả của ba phương thức
mới” của giáo sư Yoon Ye Sul – khoa Ngoại giao chính trị định nghĩa ngoại giao
công chúng (tiếng Hàn 공공외교) là một phương thức ngoại giao có nhiều chủ thể

chức phi chính phủ thiết lập quan hệ với các thành phần phi chính phủ của các
nước khác. Những thành phần này có thể là những cá nhân hoặc tổ chức quần chúng,
hoặc tổ chức phi chính phủ. Hoạt động của ngoại giao công chúng nhằm mục đích
phát huy “sức mạnh mềm” của một nước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực
hiện chính sách đối ngoại mà chính phủ nước đó đã đề ra. Một đặc điểm thuận lợi
của ngoại giao công chúng là nó có thể tiếp cận với đối tượng và mục tiêu một cách
nhẹ nhàng hơn và hiệu quả hơn trong những điều kiện mà ngoại giao chính thức của
nhà nước khó thực hiện được hoặc thực hiện ít hiệu quả.
Nói một cách đơn giản, ngoại giao công chúng là nỗ lực của chính phủ một
quốc gia nhằm tạo ảnh hưởng tới công chúng hoặc giới lãnh đạo của một quốc gia
khác nhằm thay đổi chính sách của nước đó theo hướng có lợi cho mình. Theo quan
điểm của Hans Tuch [8,tr. 3] thì đó là “một quá trình giao thiệp của chính phủ với
công chúng nước ngoài nhằm mang lại hiểu biết về ý tưởng và lý tưởng, thể chế và
văn hoá, cũng như mục tiêu và chính sách hiện hành của nước họ”.
Trong Bản chiến lược an ninh quốc gia năm 1983 của Mỹ (National Security
Decision Directive 77) có nhắc đến ngoại giao công chúng “là những hoạt động mà
chính phủ xây dựng nhằm hỗ trợ cho các mục đích an ninh quốc phòng” [8, tr.7]
Ngoại giao công chúng, theo hai chuyên gia Ba Lan Ociepka và
Kieldanovich, có nghĩa là “hướng dòng chảy thông tin ngoại giao qua các phương
tiện thông tin đại chúng và các kênh không có trung gian đến với công chúng nước
ngoài nhằm tạo một hình ảnh tích cực về đất nước và xã hội của mình, từ đó đạt
được các mục đích chính trị quốc tế dễ dàng hơn” [10].
Ngoại giao công chúng trở thành một bộ phận rất quan trọng của công tác đối
ngoại của nhà nước và nhân dân. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, công nghệ
thông tin, toàn cầu hoá, đấu tranh quyết liệt trên mặt trận tư tưởng, văn hoá, công
14 tác thông tin đối ngoại, ngoại giao công chúng càng có tính chất phức tạp và có tầm
quan trọng đặc biệt. Ngoại giao công chúng liên quan đến các chương trình tài trợ


-Phân biệt khái niệm “ngoại giao công chúng” và “công tác công chúng”
Trong Bản kế hoạch ngoại giao đổi Cơ quan thông tin Hoa Kỳ (United States
Information Agency - USIA) định nghĩa ngoại giao công chúng là sự tìm kiếm để
tăng cường lợi ích quốc gia Mỹ thông qua sự hiểu biết thông tin về Mỹ và có thể
ảnh hưởng tới công chúng nước ngoài. Bản kế hoạch cũng đã phân biệt “công tác
công chúng” (“Public Affairs”) với “ngoại giao công chúng”.
Công tác công chúng thường sử dụng những hoạt động và kỹ năng giống
ngoại giao công chúng nhưng hướng tới công dân của bản thân nước mình, giúp họ
hiểu được thế giới bên ngoài từ góc độ quốc gia và tăng cường nhận thức trong
công chúng về vai trò quốc tế của nước mình cũng như vai trò của ngành ngoại
giao. Công tác công chúng đơn thuần là sự cung cấp thông tin tới công chúng qua
các ấn phẩm, các nghiên cứu truyền bá mục tiêu, đường lối, hoạt động của một
chính phủ. Giữa ngoại giao công chúng và công tác công chúng có quan hệ quay
vòng [29]. Trong mối quan hệ đó, truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng.
Truyền thông đại chúng nhắm tới việc làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi
của con người, cá nhân hay nhóm xã hội, hoặc cả xã hội. Trong xã hội hiện đại, sự
phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến các dạng
thức của truyền thông. Trước đây, truyền thông trực tiếp giữ vai trò chủ đạo, thì nay
truyền thông gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật, truyền thông cá nhân giữ
vai trò chủ đạo.
Nhiệm vụ của ngoại giao công chúng không chỉ dừng lại trong việc truyền
nhận tin tức một cách thụ động, mà còn bao hàm cả việc phân tích, đánh giá, phát
biểu quan điểm và định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện
trong nước và quốc tế nhằm đạt tới những mục đích phục vụ cho đường lối đối nội
và đối ngoại của một quốc gia [29].
Trước bối cảnh đời sống chính trị quốc tế đang chuyển biến phức tạp và khó
lường, cùng với sự bùng nổ của thông tin trên thế giới, hoạt động ngoại giao công
chúng trong công tác đối ngoại càng trở nên quan trọng. Nó không chỉ góp phần
nâng cao dân trí, định hướng dư luận xã hội mà còn đáp ứng nhu cầu thông tin phục

xuất hiện các nhà nước độc lập chủ quyền mới: Gioocgia, Ácmênia. Ở Đông Âu:
Séc, Slovakia, Slovenia, Maxeđônia, các nước cộng hoà vùng Ban tích: Latvia,
Lituania, Ettonia. Ở Đông Nam Á: Đông Timor trở thành quốc gia độc lập.
17 Những quốc gia độc lập mới trên đã tham gia vào quan hệ quốc tế và khu vực
và trở thành những chủ thể quan hệ quốc tế mới. Sự xuất hiện của họ làm phong
phú thêm quan hệ quốc tế nhưng cũng làm trở nên phức tạp hơn. Môi trường an
ninh quốc tế thay đổi đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy về an ninh quốc tế và điều chỉnh
các thể chế hợp tác an ninh cũ và xây dựng các thể chế hợp tác an ninh mới phù hợp
nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Khái niệm an ninh không giới hạn trong
khuôn khổ quân sự chật hẹp mà cũng cần bao hàm những mối quan ngại kém truyền
thống hơn như sự xuống cấp của môi trường, dân số, các hoạt động tội phạm xuyên
quốc gia đang làm trầm trọng các mối quan hệ liên nhà nước và có tiềm năng dẫn
tới xung đột.
Nhiều quan điểm mới về an ninh đã xuất hiện như An ninh tương hỗ của
Trung Quốc, An ninh hợp tác của John Steinbruner - một nhà khoa học ở Viện
Brookings, An ninh toàn diện do Nhật Bản đề xướng những năm 70 và khái niệm an
ninh toàn diện được ủng hộ mạnh mẽ của các nước Đông Nam Á, đặc biệt là
Malaysia, Inđônêxia và Singapore.
Các quan điểm này cho phép các biện pháp chính thức, phi chính thức, song
phương, đa phương được sử dụng cùng nhau để đối phó với một loạt các vấn đề
quốc gia và toàn cầu. Quan hệ nhà nước với nhà nước cần đặt trên cơ sở cùng tồn
tại hoà bình, tức là tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Các nước cần tăng
cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau thông qua sự đối thoại và hợp tác, tiến hành
giải quyết những khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hoà bình.
Khi khái niệm về an ninh được mở rộng, khoảng cách giữa chính sách đối
nội với chính sách đối ngoại nhanh chóng thu hẹp, khiến những mối quan tâm hàng

hiểu và thuyết phục kết hợp với việc mở rộng sử dụng công nghệ mới để giao tiếp
với người dân. Hoa Kỳ đang hướng tới việc sẽ lãnh đạo thế giới bằng tấm gương
chứ không phải bằng sự can thiệp. Hoa Kỳ đang nhấn mạnh tầm quan trọng của các
tổ chức và thể chế địa phương để tạo ra sự quan tâm mới về trách nhiệm chung và
các hành động phối hợp trên toàn cầu.
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, các yếu tố văn hoá đóng
một vai trò rất to lớn trong việc thiết lập “quyền lực mềm”. Bởi vì sự xâm nhập về
19 văn hoá là bước đầu tiên để xây dựng hình tượng và truyền tải thông điệp của quốc
gia này vào quốc gia khác. Với tư cách là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần
của xã hội, trong đời sống xã hội, văn hoá luôn luôn can thiệp vào các quá trình xã
hội thông qua sự đánh giá của tất cả các chủ thể xã hội, từ những cá nhân riêng lẻ
đến toàn thể cộng đồng.
Khi dựa vào các giá trị xã hội, nhân tố văn hoá tác động đến quá trình phát
triển thường trở nên tiềm ẩn hơn, tinh tế hơn và có sức sống bền vững hơn so với
các nhân tố khác. Vũ khí của nó không chỉ là những chuẩn mực xã hội có tính chất
gây áp lực như kinh tế, pháp quyền mà còn là những chuẩn mực khác có khả năng
điều chỉnh hành vi không bằng con đường cưỡng bức, hoặc cưỡng bức thông qua tự
nguyện, chẳng hạn như đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán. Bằng cách đó, văn
hoá có khả năng tác động đến mỗi thành viên xã hội, buộc mỗi thành viên xã hội
phải tỏ thái độ của mình trước mỗi sự biến xã hội. Bởi vậy, bất kể một chương trình
xã hội nào, dù là chương trình thuần tuý kinh tế hay thuần tuý công nghệ, khi đã
được hoạch định và triển khai thì kèm theo nó và ẩn giấu đằng sau nó bao giờ cũng
là sự phản ứng hay bày tỏ thái độ xã hội về mặt văn hoá, là trách nhiệm xã hội tự
nhiên của mọi thành viên xã hội, kể cả những người không tham dự vào những
chương trình đó. Trong lịch sử của sự tiến triển văn minh, đã có không ít những bài
học đầy sức thuyết phục về sự gánh chịu những hậu quả văn hoá nặng nề do những
chương trình kinh tế và kỹ thuật gây ra, khi nhân tố văn hoá (do vô tình hoặc hữu ý)

thống được xây dựng quanh những bức tường tới một hệ thống ngày càng được xây
dựng quanh các mạng lưới” (Thomas Friedman).
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 nhà nước – dân tộc, hơn 38.000 công ty
xuyên quốc gia với khoảng 250.000 chi nhánh ở nước ngoài, khoảng 250 tổ chức
liên chính phủ (IGO) và hơn 27.000 tổ chức phi chính phủ với các hoạt động quốc
tế đáng chú ý. Sự xuất hiện của các tổ chức liên chính phủ và công ty xuyên quốc
gia tác động đến các chính sách của chính phủ ở các nước. Khi các tổ chức này
hành động xuyên biên giới địa lý thì ranh giới giữa chính trị trong nước và quốc tế
trở nên mờ dần. Ví dụ, vào năm 1995, Tổ chức Hoà bình Xanh đã ngăn chặn Royal
Dutch (Shell) vứt bỏ dàn khoan dầu Bren Spar ở ngoài khơi bằng cách kêu gọi dư
luận ở các quốc gia châu Âu.
Sự tác động của các tổ chức này đến mạng lưới chính trị thế giới được biểu
hiện qua sơ đồ 1.1.
21 Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức

Chú thích:
Quan hệ xuyên quốc gia
_____ Quan hệ nội bộ quốc gia
Toàn cầu hoá nhất là toàn cầu hoá thông tin cũng đang tác động mạnh mẽ
đến nền chính trị thế giới. Những tiến bộ gần đây trong công nghệ thông tin là cơ sở
cho dạng toàn cầu hoá nổi bật nhất. Truyền tin qua vệ tinh và mạng Internet đã xoá
bỏ khoảng cách không gian tách rời các dân tộc trên hành tinh, liên kết ngày càng
nhiều người trong một cộng đồng điện tử ảo. Biên giới quốc gia hiện nay không còn
là hàng rào ngăn cản thông tin. Khi dòng thông tin trực tuyến phá vỡ hết biên giới
quốc gia này tới quốc gia khác, tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ sẽ xói mòn
dần. “Chính siêu lộ thông tin đã dịch chuyển các loại tiền tệ của nền kinh tế toàn
cầu quanh hành tinh với tốc độ ánh sáng cũng chuyên chở các ý tưởng và hình ảnh

Theo qui định của USIEEA, mục đích của ngoại giao nhân dân nhằm “tạo điều kiện
cho Chính phủ Mỹ thúc đẩy sự hiểu biết tốt hơn giữa Hoa Kỳ và các nước khác, và
tăng cường sự hiểu biết chung giữa nhân dân Mỹ và nhân dân các nước khác”.
Nhiều tài liệu cho rằng thuật ngữ “ngoại giao công chúng” lần đầu tiên được
dùng vào năm 1965. Edmund Gullion – một nhà chính trị - dùng thuật ngữ này khi
đề cập thành lập Trung tâm Edward R.Murrow của khoa Luật và Ngoại giao, trường
đại học Tuft. Ông đã viết về ngoại giao công chúng “ngôn luận ảnh hưởng đến việc
hình thành và thực hiện chính sách đối ngoại của một quốc gia. Ngoại giao công
chúng tổng hợp tất cả mối quan hệ quốc tế khác với lối ngoại giao chính thống, bao
gồm sự tuyên truyền các quan điểm, chính sách của một quốc gia với các nước khác,
sự giao lưu giữa các tổ chức, các các nhân giữa quốc gia này với quốc gia khác, sự
chuyển tải thông tin và quan điểm…” [9, tr.8]. Trung tâm Murrow trong buổi đầu
thành lập mô tả ngoại giao công chúng như sau: “Ngoại giao công chúng đề cập tới
sự ảnh hưởng của thái độ công chúng đối với việc xây dựng và thực thi chính sách
đối ngoại của quốc gia. Nó vượt lên trên cả phạm vi hoạt động ngoại giao truyền
trống bởi chính phủ quốc gia đó chú trọng đến ngôn luận ở các nước ngoài, và sự
tương tác lợi ích giữa các nhóm cá nhân, giữa lợi ích của một nước này với lợi ích
nước khác”[29].
23 Ngoại giao công chúng phát triển mạnh mẽ ở Mỹ. Bộ Ngoại giao Mỹ là cơ
quan chịu trách nhiệm chính trong việc hoạch định chính sách cho các hoạt động
ngoại giao công chúng. Các chương trình cụ thể do một số cơ quan khác nhau của
chính phủ đảm nhiệm. Từ năm 1953 đến năm 1999, Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ
(USIA) chịu trách nhiệm chính về các hoạt động ngoại giao nhân dân của Mỹ ở
nước ngoài. Từ năm 1999 đến nay, các chương trình thông tin quốc tế, trao đổi giáo
dục và văn hoá tập trung về đầu mối chính là Vụ Ngoại giao công chúng và các vấn
đề công chúng (PD&PA) của Bộ Ngoại giao. Cơ cấu của PD&PA bao gồm: Cục các
vấn đề Văn hoá và Giáo dục, Cục các vấn đề công chúng và Cục Các chương trình

giao nhân dân của Mỹ có sự thay đổi lớn. Theo quan điểm của Mỹ, sự kiện khủng
bố này là một trong những biểu hiện cao độ của tinh thần chống Mỹ. Các quan chức
Mỹ đã tìm hiểu nguyên nhân và nhận định rằng một trong những nguyên nhân quan
trọng là do chính quyền Mỹ đã coi nhẹ hoạt động ngoại giao nhân dân thời kỳ sau
Chiến tranh Lạnh. Vì thế, sau thời điểm này chính quyền Mỹ gia tăng các hoạt động
ngoại giao nhân dân. Trong chiến lược ngoại giao nhân dân mới của chính quyền
Bush, một trong những ưu tiên được xác định là “Củng cố nhận thức về những lợi
ích và giá trị chung giữa nhân dân Mỹ và nhân dân các nước cũng như giữa những
nền văn hoá khác nhau trên thế giới”. Mục tiêu tổng thể của chiến lược ngoại giao
nhân dân mới là cải thiện uy tín và hình ảnh nước Mỹ trong cộng đồng thế giới cũng
như làm suy giảm thái độ chống Mỹ của người nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng
người Hồi giáo.
Từ tháng 7-2005, việc chú trọng đến ngoại giao công chúng đã được “nhấn
mạnh” khi bà Karen Hughes - một chuyên gia có kinh nghiệm trên 10 năm làm tư
vấn cho Tổng thống Bush - được chỉ định làm thứ trưởng Ngoại giao phụ trách
ngoại giao công chúng và các vấn đề công chúng. Nhiệm vụ đầu tiên của bà là thực
hiện một “chuyến nghe ngóng” (listening tour) vòng quanh Trung Đông trong tháng
9. Một số chuyên gia cho rằng, không phải thế giới chống Mỹ mà là chống lại chính
sách đối ngoại của Mỹ. Điều quan trọng là cố gắng thiết lập sự liên kết trong các tổ
chức dân sự, các nhóm giáo sư, nhà báo, học giả, các nhà văn Ngoại giao công
chúng không thể bị đè nặng bởi những ký ức về sự kiện 11-9 và hãy đặt trong câu
hỏi: Tại sao họ ghét người Mỹ ? – các chuyên gia nghiên cứu về Hồi giáo tại Đại
học Boston phân tích như vậy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status