662 Ứng dụng Marketing Mix vào hoạt động phân phối bán lẻ của Tổng Công ty thương mại Hà Nội - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thị trường đã được quốc tế hoá
rộng rãi, với nước ta trong những thập niên gần đây nhất là khi đã gia nhập
WTO đã có những chuyển biến tích cực: ta đã chuyển từ cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
thì sự hiểu biết và hoạt động trong lĩnh vực marketing - mix là rất cần thiết
cho tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Bưu chính.
Bên cạnh đó, xét về mặt tương đối thì thế độc quyền trong lĩnh vực
Bưu chính đã bị phá vỡ bằng sự ra đời của hàng loạt các Công ty Bưu chính
trong đó có Công ty Bưu chính Viettel. Sự ra đời của các doanh nghiệp này
thực sự là giải pháp hữu hiệu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu
cầu trao đổi hàng hoá, tài liệu với nhau. Tuy nhiên sự ra đời đó đã làm cho thị
trường Bưu chính trở nên cạnh tranh gay gắt hơn đặc biệt là khi Việt Nam gia
nhập WTO khi đó có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài cũng
tham gia vào lĩnh vực Bưu chính thì thị trường càng trở nên gay gắt hơn nữa.
Khi đó thị trường sẽ là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp, Công ty
Bưu chính Viettel cũng không thể tránh khỏi quy luật cạnh tranh đó, vì vậy
Công ty Bưu chính Viettel cũng như Bưu cục Hai Bà Trưng cần phải tăng
cường ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh doanh là một điều hết
sức cần thiết. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm
tăng cường ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh doanh tại Bưu
cục Hai Bà Trưng của Công ty TNHH NN 1 thành viên Bưu chính Viettel.”
Làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Cụ thể chuyên đề gồm các chương như sau:
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
1
Chuyên đề tốt nghiệp

CHƯƠNG I : HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

• Coi trọng khâu tiêu thụ sản phẩm, dành cho nó một vị trí cao nhất trong
chiến lược của công ty chỉ với một nguyên tắc: muốn tồn tại , họ phải tiêu
thụ dịch vụ của mình.
• Chỉ bán cái thị trường cần chứ không bán cái mình sẵn có theo thị trường
này, các doanh nghiệp phải hiểu biết thị trường tạo ra những sản phẩm
dịch vụ phù hợp với thị hiếu trên thị trường chứ không phải chỉ cung ứng
những dịch vụ theo khả năng sẵn có của doanh nghiệp.
• Muốn biết thị trường và giới tiêu thụ thì phải tổ chức nghiên cứu tỷ mỷ và
có phản ứng linh hoạt với những biến đổi thị trường.
• Marketing gắn liền với tổ chức quản lý doanh nghiệp đảm bảo cho cơ cấu
tổ chức của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thay đổi của sản phẩm, đổi
mới sản phẩm, luôn luôn bảo đảm cho doanh nghiệp chiếm được vị trí
thống trị trên thị trường.
* Khái Niệm về marketing- mix :Marketing mix là một bộ phận của
marketing, đó là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của
marketing mà Công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ
phía thị trường mục tiêu.
Marketing- mix là một trong những khái niệm chủ yếu của marketing
hiện đại. Đó là tập hợp các yếu tố biến động có thể kiểm soát được của
marketing mà công ty phối hợp để tạo ra sự đáp ứng theo mong muốn của thị
trường mục tiêu.
Marketing - mix bao gồm tất cả những gì mà Công ty có thể vận dụng
để tác động lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
3
Chuyên đề tốt nghiệp

năng thành bốn nhóm cơ bản gọi là 4 P: Sản phẩm ( Product), giá cả (Price) ,
phân phối (Place) và khuyến mãi ( Promotion).
Bốn P của Marketing- mix

sản phẩm - dịch vụ của doanh nghiệp đến tay khách hàng mục tiêu một cách
thuận tiện nhất. Với doanh nghiệp Bư chính, sản phẩm được truyền đến tay
người tiêu dùng thông qua hệ thống các Bưu điện, Bưu cục, điểm phuc vụ…
Khuyến mãi (Promotion) : Là mọi hoạt động của Công ty nhằm
truyền bá những thông tin về ưu điểm của dịch vụ do doanh nghiệp cung ứng
và thuyết phục những khách hàng mục tiêu sử dụng dịch vụ đó.
Nội dung của “Promotion” gồm các hoạt động chủ yếu là quảng cáo,
khuyến mãi , truyền thông và chào hàng
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
Marketing-mix
Thị trường mục tiêu
PriceProduct PromotionPrace
5
Chuyên đề tốt nghiệp

* Vai trò của Marketing: Marketing đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp vì:
+ Marketing giúp cho các doanh nghiệp tự khảo sát, nghiên cứu thị
trường trong và ngoài nước để lựu chọn ra cho doanh nghiệp một thị trường
mục tiêu, chọn được chiến lược và chương trình hoạt động cụ thể để chiếm
lĩnh thị trường.
+ Marketing chính là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng
+ Marketing giúp dung hoà tốt hệ thống các mục tiêu của doanh
nghiệp.
+Marketing là biện pháp cụ thể hoá kế hoạch kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Chức năng của Marketing:
Ngày nay Marketing đã phát triển đến một trình độ rất cao. Nó không
còn giới hạn ở riêng một lĩnh vực, một ngành của cuộc sống xã hội mà mở
rộng ra tất cả các phạm vi. Nhưng bất kỳ hoàn cảnh nào nó cũng đảm nhận

* Bưu điện là ngành sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao vốn bảo toàn và
phát triển. Hơn nữa ngành có hai chức năng là vừa kinh doanh vừa phục vụ,
trong đó kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng. Khi kinh doanh tốt, có hiệu
quả mới có thể thu hồi vốn nhanh, bảo toàn và phát triển vốn, mở rộng đầu tư
mạng lưới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thông tin liên lạc.
* Ngành Bưu điện thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh toàn ngành, phân
cấp quản lý cho các Bưu điện tỉnh, thành, huyện. Đây chính là động lực mạnh
mẽ giúp cho cơ sở năng động trong kinh doanh.
* Hoạt động trong cơ chế mở cửa, kinh tế thị trường. Trong cơ chế thị trường,
chi phí bằng quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Cơ chế
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
7
Chuyên đề tốt nghiệp

mở cửa tạo thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, tạo ra nhu cầu thông tin liên lạc
nhanh chóng, chính xác trong nước cũng như với quốc tế.
Mặt khác chính cơ chế thị trường cũng đòi hỏi cao về chất lượng sản
phẩm, chất lượng phục vụ. Khách hàng ngày nay đã rất khác xa so với thời
bao cấp, họ được lên ngôi, có quyền đòi hỏi cao, có nhiều đối tượng có khả
năng thanh toán cao. Thông tin trong cơ chế thị trường đa phần mang tính
chất kinh doanh, yêu cầu nhanh hơn, tốt hơn...
b. Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh
doanh ở doanh nghiệp Bưu chính.
Trong thời đại ngày nay, không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh
doanh lại không tìm mọi cách gắn kinh doanh của mình với thị trường vì chỉ
có như vậy doanh nghiệp mới hi vọng tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường. Mọi doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp Bưu chính cũng
không là ngoại lệ. Doanh nghiệp Bưu chính cũng là một chủ thể kinh doanh,
một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với
môi trường bên ngoài ( thị trường) Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra

hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh nhất định. Nhà quản trị marketing phải
nghiên cứu tìm hiểu khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về các khía
cạnh lợi ích khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ. Có như vậy mới tạo ra
những sản phẩm có khả năng thoả mãn đúng và tốt nhất lợi ích mà khách
hàng mong đợi. Theo cách phân tích đó sản phẩn ý tưởng của ngành Bưu
chính đó là cung cấp các dịch vụ bưu chính nhằm thoả mãn các nhu cầu trao
đổi thư từ, hàng hoá, thông tin của khách hàng.
- Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực: là những yếu tố phản ánh sự có
mặt trên thực tế của sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
9
Chuyên đề tốt nghiệp

ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc
trưng của bao gói. Khi tìm mua những lợi ích cơ bản, khách hàng thường dựa
vào những yếu tố này. Nhờ các yếu tố này mà nhà kinh doanh khẳng định sự
hiện diện của mình trên thị trường, để khách hàng tìm đến doanh nghiệp và
giúp họ phân biệt sản phẩm của hãng này so với hãng khác. Với cách phân
tích trên thì sản phẩm hiện thực của ngành bưu chính đó là các dịch vụ
chuyển phát nhanh, dịch vụ phát hành báo, dịch vụ chuyển tiền, điện hoa…
- Cấp độ cuối cùng là sản phẩm bổ sung, đó là các yếu tố như: tính tiện
lợi cho sử dụng, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo
hành và điều kiện hình thức tín dụng…, Nhờ những yếu tố này đã tạo ra sự
đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau, trong sự nhận thức của người tiêu
dùng về sản phẩm hay nhãn hiệu cụ thể. Khi mua những lợi ích cơ bản của
một sản phẩm bất kỳ khách hàng nào cũng thích mua nó ở mức độ hoàn chỉnh
nhất. Đến lượt mình, chính mức độ hoàn chỉnh về lợi ích cơ bản mà khách
hàng mong đợi lại phụ thuộc vào những yếu tố bổ sung mà nhà kinh doanh sẽ
cung cấp cho họ. Vì vậy, từ góc độ nhà kinh doanh, các yếu tố bổ sung trở
thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu sản phẩm. Sản

người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
Các doanh nghiệp Bưu chính hiện nay định giá theo các mức giá khác
nhau nhằm tạo ra sự cạnh tranh về giá. Bởi vì giá cả là biến số duy nhất của
marketing- mix tạo doanh thu cho các doanh nghiệp bưu chính. Các quyết
định về giá luôn gắn với kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Thông tin về giá cả luôn giữ vị trí số một trong việc đề xuất các quyết
định kinh doanh nói chung và các quyết định về giá cả nói riêng. Quản trị giá
cả được coi là nội dung trọng tâm của quản trị marketing.
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
11
Chuyên đề tốt nghiệp

Giá cả chỉ là một công cụ của marketing- mix mà doanh nghiệp Bưu
chính sử dụng để đạt mục tiêu của mình. Điều đó có nghĩa là khi ra quyết định
về giá cả, các doanh nghiệp Bưu chính phải đặt nó trong một chính sách tổng
thể và chịu sự chi phối của chiến lược định vị mà doanh nghiệp Bưu chính lựa
chọn và sự phối hợp với các chữ P khác.
Có thể tóm tắt ảnh hưởng của chiến lược định vị, các chữ P khác đến
quyết định giá qua sơ đồ sau:
Chiến lược định vị Lựa chọn các P Quyết định về giá
Sơ đồ này đòi hỏi:
- Giá cả và các chiến lược khác của marketing- mix phải có sự hỗ trợ
lẫn nhau để doanh nghiệp Bưu chính thực hiện được chiến lược định vị và các
mục tiêu đã chọn.
- Sự lựa chọn về giá cả phải được đặt trên cơ sở các sự lựa chọn về các
biến số khác của marketing đã được thông qua.
1.2.3.Tham số phân phối (Prace)
Một bộ phận quan trọng của chiến lược marketing- mix là phân phối.
Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề dịch vụ được đưa như thế nào đến
người tiêu dùng. Các quyết định về phân phối thường phức tạp và có ảnh

Chuyên đề tốt nghiệp

Ví dụ:
1.2.4.Tham số xúc tiến (Promotion)
Hoạt động marketing hiện đại rất quan tâm đến các chiến lược xúc tiến
hỗn hợp. Đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của Marketing- mix mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của các hoạt động xúc tiến
chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết
phục họ mua, họ sử dụng dịch vụ. Vì thế có thể gọi đây là các hoạt động
truyền thông Marketing.
Một số dạng chủ yếu trong chiến lược xúc tiến hỗn hợp thường được
các doanh nghiệp sử dụng là:
- Quảng cáo: Bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và
đề cao những ý tưởng , dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể
quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí. Các doanh nghiệp Bưu
chính thường quảng cáo hình ảnh của doanh nghiệp mình qua các phương tiện
truyền thông như: báo chí, truyền hình, qua chính phong bì của họ…
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
Bưu Cục cấp
Huyện/Bưu cục
cấp 2
14
VNPT
Bưu Điện
Tỉnh
Bưu Điện
Huyện
Bưu Điện
Văn hoá xã

- Marketing trực tiếp: Là việc sử dụng một hay nhiều công cụ truyền
thông marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàng
và tạo nên các giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm. Ở các doanh nghiệp Bưu
chính, hình thức marketing trực tiếp chủ yếu được thực hiện qua các catalog,
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
15
Chuyên đề tốt nghiệp

bằng thư trực tiếp do nhân viên marketing của Công ty trực tiếp đem đến cho
khách hàng.
1.2.5.Tham số con người:Yếu tố con người ở đây bao gồm cả nhân viên
công ty và người tiêu dùng ( khách hàng)
Trong kinh doanh dịch vụ, con người là yếu tố vô cùng quan trọng
trong sự thành công của doanh nghiệp. Chính con người làm nên thương hiệu
cho dịch vụ. Đến cuối năm 2004 tổng lao động làm việc trong lĩnh vực bưu
chính khoảng 45.000 người, trong đó chủ yếu là của Tổng công ty BCVT Việt
nam (42.330 người).
Trong những năm qua đội ngũ những người làm bưu chính của Tổng
công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bưu chính chỉ được bổ sung chủ yếu từ các trường công nhân và chỉ
được đào tạo trên quy trình công nghệ của các dịch vụ truyền thống hoặc
những lao động phổ thông có trình độ thấp. Số lượng cán bộ được đào tạo hệ
trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ trọng chưa cao lại chủ yếu chỉ được đào tạo
về nghiệp vụ. Đặc biệt thiếu đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn,
ngoại ngữ tốt và hiểu biết về thị trường, quản lý mạng bưu chính.
Có thể nói đội ngũ lao động bưu chính hiện nay còn yếu, chủ yếu chỉ
thực hiện các công việc mang tính giản đơn, trong khi bưu chính là ngành
kinh tế sử dụng lao động là đầu vào chính tạo ra giá trị gia tăng, vì vậy để
phát triển các dịch vụ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ thì cần phải nâng cao
chất lượng tổ chức, quản lý lao động thông qua các hình thức đào tạo mới,

lớn đã quen mua sắm hàng hoá trong các siêu thị, hệ thống các siêu thị và hệ
thống bán lẻ trên mạng đã kinh doanh rất thành công với chiến lược phát triển
rộng mạng lưới phân phối và đi kèm theo là các dịch vụ giải trí. Khi tiêu dùng
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
17
Chuyên đề tốt nghiệp

của Chính phủ và của người dân tăng lên thì hệ thống các Ngân hàng cũng phát
triển theo để đáp ứng các nhu cầu tiết kiệm, giao dịch, vốn đầu tư…
Kinh tế phát triển có nghĩa là các doanh nghiệp trong khu vực đang
trong giai đoạn thịnh vượng cho nên các nhu cầu về giao thương giữa các
doanh nghiệp cũng tăng. Công nghẹ hiện đại của Bưu chính viễn thông với
dịch vụ Internet, dịch vụ điện thoại đường dài (VOIP) , dịch vụ điện thoại di
động , dich vụ chuyển phát nhanh toàn cầu đã đáp ứng được nhu cầu trên cho
các doanh nghiệp. Doanh thu của các ngành dịch vụ Bưu chính - Viễn thông
là khổng lồ va có rất nhiều doanh nghiệp muốn nhảy vào thị trường Bưu
chính - Viễn thông trong giai đoạn hiện nay.
Cung - cầu là quy luật của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của khách
hàng tăng đòi hỏi các hãng cung ứng dịch vụ phải nahy cảm nắm bắt nhu cầu
của khách hàng để cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn một cách tối đa các nhu
cầu đó của khách hàng. Vì vậy nghiên cứu để nắm bắt được các nhu cầu của
người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong phân tích marketing – mix.
Sự phát triển ổn định nền kinh tế cùng với tỷ lệ lạm phát bình quân
5.8% và tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong những năm qua tương đối ổn
định. Cùng với sự tăng trưởng của GDP trong những năm qua là sự tăng
trưởng của dịch vụ Bưu chính. Số lượng các doanh nghiệp mới ra đời ngày
càng nhiều đã làm tăng các giao dịch kinh doanh thông qua Bưu chính. Xã hội
Việt Nam đang có những bước chuyển mới, người dân ngày càng có nhiều
lựa chọn trong việc sử dụng các dịch vụ Bưu chính, chính điều này đã tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có nhiều giải pháp trong việc ứng dụng

các doanh nghiệp tham gia vào thị trường Bưu chính, với pháp lệnh này tạo
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
19
Chuyên đề tốt nghiệp

thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh trong lĩnh vực bưu
chính được thuận lợi hơn, các doanh nghiệp dễ dàng áp dụng chính sách
marketing-mix vào hoạt động kinh doanh của mình.
Trong điều kiện chúng ta hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu
vực cũng như thế giới, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội để phát triển, tranh thủ
được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, đó là mục tiêu
của Việt Nam trong giai đoạn phát triển nèn kinh tế, Các doanh nghiệp nói
chung cũng như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Bưu chính nói riêng đang
chạy đua nhau để nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm, và mở
rộng thị trường tiêu thụ, tìm các đối tác để liên doanh, liên kết… Các doanh
nghiệp chỉ tồn tại và phát triển nếu có bước đi đúng trong điều kiện chúng ta
đã gia nhập WTO, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài tập trung đầu tư vào Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay Chính phủ đã tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Phát triển mạnh các dịch vụ như: Bưu chính - Viễn thông, giao thông vận
tải, bảo hiểm, y tế… Bên cạnh đó từng bước hạ giá dịch vụ viễn thông để có
mức giá ngang bằng với các nước trong khu vực, bởi vì so với các nước trong
khu vực giá cước viễn thông của chúng ta hiện nay là rất cao.
- Đổi mới mô hình hoạt động cảu các doanh nghiệp Nhà Nước, Công ty
mẹ- Công ty con. Cổ phần hoá doanh nghiệp.
- Hướng tới giải quyết lao động dư thừa do yếu tố cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong quá trình hội nhập klinh tế quốc tế.
Những ưu tiên cua Chính phủ sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ phát triển mạnh hơn, và thị trường cung cấp dich vụ sẽ sôi động
hơn trong tương lai.

21
Chuyên đề tốt nghiệp

- Đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế thông qua yêu cầu
rang buộc thuế quan và minh bạch hoá chính sách.
- Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng, thương mại ngày
càng tự do hơn thông qua đàm phán.
- Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển
1.1.3 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký vào tháng 7/2000. Sau khi
quốc hội hai nước phê chuẩn, Hiệp định đã chính thức có hiệu lực từ ngày
10/12/2001.
Các nội dung cơ bản cua Hiệp định về thương mại hàng hoá ( trừ hàng
dệt may và sản phẩm có hiệp định riêng) hai bên dành cho nhau ngay lập tức
và vô điều kiện quy chế đối xử tối huệ quốc cho hàng hoá có xuất xứ tại hoặc
được xuất khẩu từ lãnh thổ Bên kia, Về thương mại dịch vụ không hạn chế
việc cung cấp dịch vụ từ lãnh thổ bên này sang bên kia của mọi pháp nhân và
cá nhân.
Về quan hệ đầu tư không hạn chế ( trừ một số lĩnh vực được bảo lưu
đối với Việt Nam và Hoa Kỳ) và trong vòng 2-9 năm tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam theo thủ tục đăng ký cấp giấy phép
đầu tư.
Về sở hữu trí tuệ, bảo hộ cho nhau và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại
hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh.
Qua một số chính sách thương mại ta thấy nội dung chủ yếu :
- Các biện pháp tự do hoá thương mại hàng hoá , thương mại dịch vụ và đầu
tư:
+ Chế độ cắt giảm thuế quan, bãi bỏ, hạn chế mậu dịch phi thuế quan.
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
22


Nam kém hấp dẫn và mất dần thế cạnh tranh thị trường trước các doanh
nghiệp nước ngoài.
Trước tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ sẽ có hướng phát triển :
- Tập trung và mở rộng mạng lưới chiếm lĩnh thị trường, cung cấp các
dịch vụ Bưu chính viễn thông ( với các dịch vụ điện thoại dường dài VOIP ,
dịch vụ chuyển phát hàng hoá như Viettel, Sai gon Postel, VNPT…)
- Phát triển đa dạng các loại dịch vụ, gia tăng các dịch vụ cung cấp trên
mạng lưới phân phối sẵn như các sản phẩm của VNPT: Dịch vụ tiết kiệm Bưu
điện, dịch vụ phát trong ngày, dịch vụ khai giá, dịch vụ Email to Letter, dịch
vụ điện thoại di động, cố định, di động nội vùng giá rẻ…
- Thay đổi phong cách và thái độ phục vụ do trước đây dịch vụ Bưu
chính Viễn thông mang tính độc quyền.
- Chú ý hơn đến yếu tố khuyếch trương sản phẩm dịch vụ: tăng chi phí
quảng cáo, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng, coi trọng thương hiệu của các
sản phẩm dịch vụ Bưu chính.
- Coi trọng hơn đến việc áp dụng những kiến thức mới về marketing để
áp dụng vào tình hình thực tế đó là hàng loạt các chương trình đào tạo MB
quản trị marketing, quản trị thương hiệu, giám đốc nhãn hiệu… được các
doanh nghiệp quan tâm.
Ngoài những yếu tố chính sách kinh tế, vấn đề về chính trị cũng ảnh
hưởng lớn tới sự phát triển ổnn điịnh cua ngành dịch vụ Bưu chính. Trong
tình hình nhiều nước trong khu vực và trên thế giới bị đe doạ trước nguy cơ
khủng bố chiến tranh, thì Việt Nam được đánh giá là quốc gia an toàn nhất
Lâm Văn Chiến Lớp TM- KV 16
24
Chuyên đề tốt nghiệp

trên thế giới. Đây là một yếu tố rất thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status