Là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị
hóa như Việt Nam thì thị trường nông thôn được đánh giá là thị trường lớn, hấp dẫn
và tiềm năng. Với 74,8% dân số thuộc khu vực nông thôn, chiếm 72% lực lượng lao
động xã hội, tạo ra 40% GDP của cả nước, Đây là nơi sản xuất lương thực, thực
phẩm cho tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến. Vì vậy, phát triển nông thôn có vai trò hết sức to lớn và có ý nghĩa
chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nước.
Nhưng hiện nay, phát triển thị trường nội địa chính là nội lực để phát triển
kinh tế quốc gia thì thị trường nông thôn dường như đang bị bỏ ngõ và phát triển
chưa đúng tiềm năng vốn có của nó, đặc biệt là thương mại nông thôn. Thi trường
thương mại nông thôn còn kém phát triển và phát triển chưa đồng đều. Các kênh
lưu thông hàng hóa chưa thông suốt và kết hợp chặt chẽ với nhau, các thương nhân
chưa mạnh, vai trò của thương mại nông nghiệp và hợp tác xã thương mại còn hạn
chế. Chính vì vậy, vấn đề phát triển thương mại nông thôn ở nước ta hiện nay cần
được đẩy mạnh hơn nữa.
Thiệu Hóa là huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa, trung tâm huyện lỵ là thị
trấn Vạn Hà, cách thành phố Thanh Hóa 17 km về phía Tây theo quốc lộ 45. Huyện
có 30 xã, 1 thị trấn và 4 thị tứ với tổng cộng 259 thôn. Diện tích tự nhiên là
17.567,06 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 11.104,40 ha, chiếm 63,21%
diện tích tự nhiên, dân số toàn huyện là 178,107 người( số liệu tra năm 2009). Lao
động nông nghiệp chiếm gần 70% lao động toàn huyện, thu nhập người dân chủ yếu
là từ khai thác đất nông nghiệp và ngày càng được nâng cao. Sau nhiều năm phát
triển về kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển
để phù hợp với hoàn cảnh phát triển của toàn huyện cùng với phát triển của đất
nước.
Thực hiện chủ trương kinh tế của nhà nước, toàn huyện đã tích cực thực hiện
chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng kinh tế thị trường có sự chỉ đạo của nhà
nước.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong định hướng phát triển nhưng nhìn chung
giai đoạn 2001-2010, đưa ra những phân tích đánh giá mức độ phù hợp hiệu quả
của chính sách thương mại nông thôn trong điều kiện phát triển kinh tế, đưa ra
những giải pháp hoàn thiện chính sách cho các vùng miền, các khu vực với những
điều kiện đặc trưng cụ thể nhằm thực hiện chính sách một cách hợp lí và hiệu quả
nhất. Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
thu thập số liệu, điều tra chọn mẫu, thống kê phân tích nhằm đưa ra những kết quả
đánh giá chính xác nhất
- Luận văn thạc sĩ: "Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước về thương mại
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá" của tác giả Nguyễn Xuân Thiện, năm 2009
2
Đề tài nghiên cứu trên của tác giả Nguyễn Xuân Thiện lấy đối tượng nghiên
cứu là địa bàn tỉnh Thanh Hóa với vấn đề là nghiên cứu là quản lí nhà nước về
thương mại trên địa bàn tỉnh. Trong đề tài của mình tác giả đã tổng quát tình hình
thương mại của tỉnh Thanh Hóa trong những năm 2005-2009. Phân tích quá trình
quản lí thương mại của cơ quan quản lí tại Thanh Hóa trong giai đoạn nghiên cứu,
những kết quả đạt được, những tồn tại cũng như những khó khăn mà công tác quản
lí thương mại gặp phải để từ đó nêu ra các giải pháp nhằm đổi mới sao cho công tác
quản lí về thương mại có hiệu quả hơn. Phương pháp nghiên cứu của tác giả trong
đề tài là phát phiếu điều tra chọn mẫu, thống kê và tổng hợp số liệu nghiên cứu,
phân tích đánh giá thực tiễn, nghiên cứu tài liệu tham khảo, tổng quan các tài liệu
tham khảo và một số phương pháp khác…
- Đề tài “Hoàn thiện chính sách phát triển nông thôn ở tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn hiện nay” của Th.S Vũ Thị Thảo, trường đại học kinh tế quốc dân,
năm 2010
Nội dung của đề tài là phân tích đánh giá chính sách phát triển kinh tế nông
thôn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được sử dụng tại thời điểm nghiên cứu, đánh giá
những kết quả đạt được khi sử dụng các chính sách phát triển nông thôn trên địa
bàn toàn tỉnh Thanh Hóa. Từ những thực tiễn nghiên cứu đánh giá của mình tác giả
đưa ra những giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nông thôn nói chung trong
đó có cả phát triển thương mại một cách có hiệu quả nhất cho địa bàn tỉnh Thanh
Những công trình nghiên cứu trước đây cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp giải
quyết các vấn đề về phát triển thương mại nông thôn. Những vấn đề đã được đề cập
trước đó bao gồm có:
- Đánh giá thực trạng và vai trò của thương mại nông thôn Việt Nam trong
giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường
- Các chính sách phát triển thương mại nông thôn
- Nền kinh tế nông thôn thông qua đây nghiên cứu về các vấn đề của
thương mại nông thôn và các giải pháp phát triển
- Các giải pháp phát triển thương mại trên tầm vĩ mô áp dụng cho thương
mại nông thôn trên thị trường nội địa
- /0+423
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trước đó, nhưng vẫn còn nhiều
vấn đề cần phải được nghiên cứu đó là:
- Vấn đề phát triển thương mại nông thôn trong giai đoạn hiện nay, giai
đoạn 2010-2015 định hướng đến 2020, để đảm bảo tính cập nhật về nội dung và giá
trị của đề tài, phù hợp với điều kiện phát triên
- Các đề tài trên nghiên cứu trên tầm vi mô đó là khu vực nông thôn trong
cả nước, chưa phải một địa phương cụ thể
- Các chỉ tiêu và chính sách phát triển thương mại nông thôn được sử dụng
trong giai đoạn hiện nay tính đến năm 2011
4
Xuất phát từ những vấn đề trên em đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp
“5"$62789##$:-,;;<&=>
<&$??9;,@
Với mục đích kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên
cứu trước đây và tiếp tục giải quyết những vấn đề cần được nghiên cứu trong đề tài
khóa luận tốt nghiệp này nhằm hoàn thiện hơn về phát triển thương mại nông thôn
tại một địa phương cụ thể nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung
A B=.23=98+
a. Mục tiêu tổng quát:
d. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nội dung của đề tài là nghiên cứu các lý luận và thực tiễn về
phát triển thương mại nông thôn trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn hiện nay thông qua các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của
thương mại trên địa bàn huyện cũng như chính sách phát triển thương mại trên địa
bàn huyện trong những năm qua (2007-2011). Từ đó đưa ra những giải pháp, kiến
nghị nhằm phát triển thương mại nông thôn trong giai đoạn hiện nay
- Về không gian: Không gian nghiên cứu của đề tài được nghiên cứu tại
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu, đánh
giá thực trạng phát triển thương mại nông thôn tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh
Hóa tại thời điểm điều tra, tham khảo số liệu thứ cấp khoảng từ năm 2007- 2011
D 527"
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp này
là phương pháp thu thập số liệu và thống kê phân tích trong đó:
- Phương pháp thu thập số liệu: Là phương pháp sử dụng để thu thập
những số liệu, thông tin có liên quan đến tình hình phát triển thương mại nông thôn
tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa tại phòng Công Thương-UBND huyện Thiệu
Hóa và các ban ngành có liên quan trong quá trình thực tập nhằm phục vụ cho quá
trình đánh giá phân tích kết quả hoạt động thương mại trong những năm qua tại địa
bàn huyện Thiệu Hóa
- Phương pháp thống kê phân tích: Với cách tiếp cận hệ thống bằng số liệu
thông tin thực tế thu thập được. Khóa luận tốt nghiệp sẽ khái quát quá trình phát
triển thương mại nông thôn tại địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm phát triển thương mại nông thôn trên địa bàn huyện trong
thời gian tới nhằm phát triển kinh tế-xã hội ổn định và vững mạnh
- Phương pháp phân tích so sánh: từ những số liệu thu thập được của các
năm nghiên cứu, phương pháp phân tích so sánh cho ta thấy được sự khác nhau về
phát triển giữa các năm nghiên cứu để từ đó có thể có những đánh giá chính xác về
mặt định lượng cũng như định tính của vấn đề nghiên cứu
a. Thương mại nông thôn
Thương mại nông thôn là các quan hệ trao đổi, các hoạt động mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ diễn ra trên địa bàn (thị trường) nông thôn.
Chủ thể người bán, người mua trên thị trường nông thôn chủ yếu là nông dân,
các hộ gia đình làm kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại hoặc sản xuất nhỏ và các tiểu
thương (gọi chung là kinh tế tư nhân). Ngoài ra, còn có các công ty, chi nhánh công
ty thuộc các chủ sở hữu, các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động cung ứng
hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của khu vực nông nghiệp,
nông thôn. ( Tài liệu số1, trang 57)
b. Phát triển thương mại nông thôn
Phát triển thương mại nông thôn là quá trình bao gồm nhiều hoạt động nhằm
tạo ra sự thay đổi cả về lượng và chất về tăng trưởng thương mại ở khu vực nông
thôn của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.
Phát triển thương mại nông thôn cũng như phát triển thương mại nói chung
bao gồm nhiều hoạt động, các biện pháp liên quan các khâu như mua, bán, vận
chuyển hàng hoá và kho hàng (đối với TMHH), sản xuất, cung ứng, phân phối,
marketing (đối với TMDV) với các hoạt động cụ thể khác nhau trong từng khâu đó.
Tăng trưởng thương mại nông thôn về lượng thể hiện cả về hiện vật và giá trị
như tăng trưởng LCHH bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong khu vực nông
thôn, tăng trưởng tổng kim ngạch ngoại thương.
Tăng trưởng thương mại về chất thể hiện ở cơ cấu thương mại có hợp lý,
hiệu quả không? Có đảm bảo tính ổn định, liên tục và bền vững không? Các lợi thế
so sánh về nguồn lực thương mại của quốc gia được sử dụng và ảnh hưởng như thế
nào đến tăng trưởng. Đánh giá kết quả tăng trưởng không chỉ nhìn vào tăng trưởng
về số lượng, mà phải nghiên cứu, phân tích kết quả tăng trưởng thương mại đó có
được bằng cách nào( Tài liệu số 1, trang 59)
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NÔNG
THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. _68"$62789##
a. Đặc điểm của thương mại nông thôn
b. Đặc điểm của phát triển thương mại nông thôn
- Phát triển thương mại nông thôn bao gồm nhiều hoạt động
Thương mại nông thôn cũng như thương mại nói chung bao gồm nhiều khâu
như mua, bán, vận chuyển hàng hoá và kho hàng (đối với TMHH), sản xuất, cung
ứng, phân phối, marketing (đối với TMDV). Để các khâu trong thương mại được
diễn ra thông suốt, nhanh chóng và có hiệu quả thì cần phải có những hoạt động hỗ
9
trợ như các chính sách phát triển thương mại nông thôn của cơ quan quản lí nhà
nước, xúc tiến thương mại…sẽ tác động đến từng khâu khác nhau. Các khâu khác
nhau thì các hoạt động này sẽ có những tác động khác nhau với các cơ chế khác
nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu nhất
- Phát triển thương mại nông thôn bao gồm tăng trưởng thương mại nông
thôn
Để có thể phát triển thương mại nông thôn thì trước hết cần phải có tăng
trưởng thương mại nông thôn cả về chất lượng và số lượng Tăng trưởng thương
mại nông thôn về số lượng được xem xét qua các chỉ tiêu bao gồm: Tổng mức bán
buôn bán lẻ hàng hóa, dịch trong một thời kì. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa, dịch
vụ. Cán cân thương mại trong một thời kì, GDP thương mại… những chỉ tiêu này
phản ánh một cách chính xác kết quả hoạt động của thương mại tại khu vực nông
thôn trong thời kì nghiên cứu
Tăng trưởng thương mại nông thôn về chất lượng được đánh giá qua các chỉ
tiêu như: Tính ổn định, liên tục và bền vững của tốc độ tăng trưởng thương mại
nông thôn. Tính hiệu quả sử dụng các nguồn lực thương mại. Tính tối ưu của cơ cấu
thị trường thị trường, các loại hình thương mại, luồng thương mại
Thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng thương mại ta có thể hiểu được bản chất
cũng như xu hướng phát triển thương mại nông thôn một cách toàn diện
- Phát triển thương mại nông thôn bao gồm nhiều nội dung và phạm vi
khác nhau
Phát triển thương mại nông thôn bao gồm nhiều nội dung khác nhau như phát
triển thương mại nông thôn về thương mại hàng hóa với những mặt hàng cụ thể trên
xuất, không ngừng mở rộng, đa dạng hoá các kênh lưu thông, sử dụng các biện
pháp kích cầu, để tạo thị trường tiêu thụ nông sản ổn định trong nước. Cùng với
việc mở rộng thị trường trong nước, thương mại tích cực tìm kiếm và mở rộng thị
trường xuất khẩu cho nông sản Vệt Nam, vì dù thị trường nội địa có được mở rộng
nhưng vấn không thể tiêu thụ hết số lượng nông sản “dư thừa” ngày càng nhiều
Thương mại còn cung cấp những yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp
nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả và sức canh tranh của nông sản việt nam trên
thị trương trong nước và quốc tế
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn
Kinh tế nông nghiệp chủ yếu dùa vào trồng trọt. Trong trồng trọt chủ yếu là
trồng lúa và các cây lương thực. Chăn nuôi kém phát triển, trong chăn nuôi chủ yếu
là nuôi lợn, trâu bò, gia cầm. Phần lớn các cây trồng vật nuôi đều có năng suất, chất
lượng thấp, quy mô nhỏ mang nặng tính tự cấp tự cấp , tỷ suất hàng hoá rất thấp.
Kinh tế nông thôn nặng về nông nghiệp, công nghiệp nông thôn phát triền
chậm nhất là nông nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản vừa thiếu vừa lạc
hậu. Nghành nghề nông thôn ngày càng bị mai một, dịch vụ nông thôn kém phát
triến
Cải cách kinh tế và mở cữa hội nhập kinh tế thế giới đã đưa đến sự thay đổi
to lớn đối với thị trường và sự phát triển thương mại nông thôn
11
Trong những năm gần đây sức mua trên thị trường nội địa tăng do thu nhập dân cư
không ngừng tăng lên thị trường nứơc ngoài ngày càng được mở rộng nhờ mở của
hội nhập. Thương mại trong nước phát triển và các hoạt động xuất nhập khẩu ngày
càng được tăng cường làm cho sản xuất nông nghiệp đã có thay đổi to lớn nhiều
vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến
Ngành công nghiệp chế biến được chú trọng phát triển, các ngành chế biến
và bảo quản lương thực, chế biến mía đường, chế biến cà phê, chè ,cao su, các loại
đồ uống, chế biến thịt sữa và thức ăn chăn nuôi ,chế biến và bảo quản rau quả ,gỗ,
lâm sản, chế biến thuỷ hải sản tạo ra một mạng lưới công nghiệp chế biến rộng
khắp nông thôn. Công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn vùng nguyên liệu với
chiếm tỷ trọng 72% tổng số lao động chung. Tổng số lao động nông nghiệp và nông
thôn khoảng 33,9 triệu, có khoảng 24,9 triệu lao động nông nghiệp, 9 triệu lao động
phi nông nghiệp, nghĩa là lao động nông nghiệp chiếm đại bộ phận lao động trong
cơ cấu lao động nông thôn. Hiện nay lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao
động thủ công làm theo kinh nghiệm truyền thống, số lao động qua đào tạo rất thấp
khoảng 8%. Do điều kiện đất đai ngày càng thu hẹp, dân số nông thôn đông và ngày
càng tăng làm cho lực lưỡng lao động dư thừa gia tăng này gây áp lực rất lớn ở
nông thôn, đặc biệt là các đồng bằng đông dân. Theo số liệu điều tra thì có khoảng
30% thời gian lao động chưa được sử dụng ở nông thôn, tỷ lệ này tương đương với
9-10 triệu lao động ở nông thôn hiện nay còn thiếu việc làm
Phát triển thương mại mạnh mẽ sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường trong nước và
quốc tế cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc
làm trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản
Đẩy mạnh xuất khẩu kéo theo sự phát triển nhiều nghành công nghiệp chế biến,
công nghiệp phục vụ nông nghiệp, làm gia tăng đáng kể số lượng công ăn việc làm
trong những ngành này.
Phát triển thương mại cũng góp phần củng cố và phát triển các làng nghề
truyền thống, nghành nghề và dịch vụ nông thôn, trong đó cần nhấn mạnh tới việc
phát triển du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và các nghành dịch vụ khác thu hút
nhiều lao động đó là hướng rất quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm và
lao động dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn ngày nay
Tất cả những điều đó đưa đến việc thúc đẩy phân công lao động trong nông nghiệp
và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, nghành nghề, dịch vụ và
nông thôn giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, thực hiện việc đa dạng hoá và chuyên
môn hoá lao động sâu sắc trong nông nghệp và nông thôn
- Các vai trò khác của thương mại với phát triển nông thôn giai đoạn hiện
nay
13
Sự phát triển thương mại nông thôn còn có vai trò quan trọng đối với nâng
cao thu nhập của nông dân và dân cư nông thôn góp phần xoá đói giảm nghèo, rút
thương mại qua các năm nghiên cứu. Từ đó, có thể nhận thấy được quá trình phát
triển thương mại và xu hướng phát triển thương mại trong khu vực nghiên cứu
- Tính hiệu quả của sử dụng các nguồn lực thương mại
14
Đó là hiệu quả sử dụng các nguồn lực thương mại nhằm đạt được các mục
tiêu kinh tế trong từng giai đoạn phát triển.
Các nguồn lực sử dụng biểu hiện bằng tiền dưới dạng chi phí, các mục tiêu
thường được biểu hiện dưới dạng tài chính (tiền tệ). Các mục tiêu cụ thể được phản
ánh ở kế hoạch hóa hiệu quả thương mại quốc gia trong từng thời kỳ. Đó là đóng
góp của thương mại vào GDP, tổng mức bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội, tổng
doanh thu hoặc kim ngạch XNK, cán cân thương mại, …
- Tính tối ưu của cơ cấu thị trường, các loại hình, các luồng thương mại.
Tính tối ưu của cơ chế thị trường, các loại hình, các luồng thương mại thể
hiện cơ cấu thị trường có phù hợp cho phát triển thương mại hay không. Các loại
hình tham gia hoạt động trên thị trường thương mại có đa dạng và có hoạt động hiệu
quả hay không. Các luồng thương mại đã xuất hiện trên thị trường thương mại hay
chưa và nếu có thì có thật sự đóng vai trò trong phát triển thương mại
Các tiêu chí trên phản ánh mức độ phát triển của thị trường thương mại về
mặt chất của quá trình phát triển. nó cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn về tình hình
phát triển thương mại tại khu vực đang nghiên cứu để từ đó có những tác động phù
hợp với điều kiện phát triển
1.3.2. H"a""$62789##
Chính sách phát triển thương mại nông thôn của nước ta hiện nay bao gồm
các chính sách nhằm cung cấp hàng hoá cần thiết cho sản xuất nông nghiệp và tiêu
dùng ở nông thôn. Thoả mãn nhu cầu của nhân dân gồm hàng tiêu dùng ,vật tư, tư
liệu sản xuất nông nghiệp, dịch vụ gồm dịch vụ cho đời sống và dịch vụ cho sản
xuất. Đảm bảo tiêu thụ hết nông sản ở nông thôn, thành thị và hướng tới xuất khẩu
ra nước ngoài. Nâng cao vai trò thương nhân trên thị trường nông thôn, đảm bảo thị
trường tham gia đa dạng về thành phần kinh tế và hình thức sở hữu
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình vận hành kênh
các các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa thị trường còn chưa phát
triển.
Mặc dù quy mô thị trường lớn nhưng các hình thức thương mại truyền thống
nhỏ lẻ, tự phát vẫn là chủ yếu, các phương thức kinh doanh hiện đại đã xuất hiện
xong chiếm tỷ trọng nhỏ. Điều này làm giảm khả năng tích tụ vốn trong kinh doanh
do có quá nhiều đối tượng tham gia với quy mô nhỏ bé. Ngoài ra, phương thức phân
phối, kinh doanh hàng hoá lạc hậu là cản trở lớn khả năng cạnh tranh khi mở cửa thị
trường phân phối.
Chỉ số giá tăng cao thời gian qua, ngoài lý do tăng giá ở nhóm hàng lương
thực, thực phẩm, tân dược, một số nguyên, nhiên liệu đầu vào cho sản xuất (do giá
16
thế giới, dịch cúm gia cầm) Còn có nguyên nhân từ sự yếu kém của hệ thống lưu
thông. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là tổ chức lưu thông một số mặt hàng có tác
động lớn đến sản xuất và đời sống chưa tốt (phân bón, sắt thép, dược phẩm…), tính
tự phát trên thị trường vẫn còn lớn, hệ thống phân phối còn nhiều tầng, nấc, khép
kín, độc quyền, tăng chi phí giao thông bất hợp lý, gây thiệt hại cho người tiêu
dùng.
-Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ thị trường xã hội
Đánh giá về tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ thị trường xã
hội ( TMBLHHDV) trong thời gian vừa qua thông qua biểu đồ sau:
Q6hC 8-"'i&j:+B><&
?9kllmnl
(hC8"8.Gl><&o
MBLHHDV ước đạt 31.813,646 tỷ đồng trong năm 2011, tăng 33,5% so với
năm 2010, bằng 109 % KH năm. TMBLHHDV có xu hướng tăng mạnh trong giai
đoạn phát triển hiện nay của toàn tỉnh này.
17
Lĩnh vực thương mại-dịch vụ, kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh,
đặc biệt là đối với hoạt động thương mại nội địa
Tỷ trọng thành phần kinh tế Nhà nước trong tổng MLCHHBL của tỉnh có xu
ngạch xuất khẩu của tỉnh.
18
Hàng hoá của tỉnh đã có mặt trên 37 nước và vùng lãnh thổ, năm 2011 không
có thêm thị trường mới. Các thị trường xuất khẩu truyền thống như: Nhật Bản, Mỹ,
Trung Quốc, Hàn quốc, Bỉ, Đài Loan vẫn chiếm ưu thế trong kim ngạch xuất khẩu
của tỉnh.
jThực trạng hạ tầng mạng lưới thương mại tỉnh Thanh Hóa
Hiện nay toàn tỉnh có khoảng 60.260 cơ sở kinh doanh thương mại với gần
90.240 lao động. Số doanh nghiệp thương mại nhà nước chỉ có 05 doanh nghiệp,
trong đó có 01 doanh nghiệp do địa phương quản lý là Công ty Thương mại và Đầu
tư phát triển miền núi Thanh Hoá. Mạng lưới kinh doanh của Công ty có 11 chi
nhánh tại 11 huyện miền núi với 87 điểm kho và cửa hàng thương mại, trong đó có
95 điểm bán, 168 quầy và 92 điểm đại lý phân bổ tương đối đều trên toàn địa bàn.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nhiều loại hình thương mại văn minh
hiện đại hầu như chưa được đầu tư xây dựng và chưa có doanh nghiệp nào tổ chức
hoạt động các dịch vụ thương mại hiện đại mới như: Cửa hàng tiện lợi, cửa hàng
chuyên doanh, cửa hàng đại lý độc quyền, cửa hàng bách hóa, cửa hàng bán giá rẻ,
cửa hàng dạng nhà kho.Chuỗi cửa hàng thông thường, chuỗi cửa hàng tự nguyện,
chuỗi cửa hàng nhượng quyền và chuỗi cửa hàng phức hợp ; Sàn giao dịch; Dịch vụ
Logistic
Đối với Trung tâm Thương mại, siêu thị các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế mới tham gia đầu tư và kinh doanh Trung tâm Thương mại ở mức thấp
nhất (hạng III), chưa có doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia đầu tư và kinh
doanh. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở trong và ngoài tỉnh đã tham
gia đầu tư và kinh doanh siêu thị, chưa có doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia
đầu tư và kinh doanh.Hệ thống siêu thị đã bắt đầu kinh doanh ổn định, bước đầu
khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hệ thống phân phối của tỉnh. Tuy
nhiên, do thói quen mua bán vỉa hè và tiêu dùng thường nhật nên mô hình siêu thị
chủ yếu tập trung ở Thành phố Thanh Hoá (8/10 siêu thị). Một số siêu thị được mở
ra nhưng không tồn tại được phải đóng cửa, hoặc phải chuyển từ kinh doanh tổng
b. Kinh tế - xã hội
Năm 2011 kinh tế - xã hội của huyện đã đạt được những kết quả tích cực.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2011 là 14,5%. Trong đó : Nông nghiệp tăng 7,8 %,
Công nghiệp tăng 11,4 %. Dịch vụ thương mại tăng 7,5 %. Cơ cấu kinh tế nông
nghiệp – công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng – dịch vụ – thương mại là 40
% - 32% -28%. Thu nhập đầu người năm 2011 đạt 10,79 triệu đồng/ năm.
Nông nghiệp: Tổng sản lượng lương thực năm 2011 đạt 129.000 tấn tăng
33.000 tấn so kế hoạch. Giá trị thu nhập bình quân 1 ha canh tác đạt 29 triệu đồng
Giá trị nông nghiệp tăng hàng năm là 7,8 %, năm 2011 giá trị sản xuất nông nghiệp
đạt 40% trong tổng thu nhập của huyện .
20
Tiểu thủ công nghiệp: Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2011
đạt 59,6 tỷ tăng hơn kế hoạch là 16,2 % tỷ đồng, trong đó sản phẩm chủ yếu là cốt
nan, cót ép, chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất và khai thác vật liệu xây dựng.
Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp xây dựng chiếm 17 % GDP của huyện.
Dịch vụ – thương mại : Hoạt động dịch vụ – thương mại phát triển ngày càng
đa dạng, nhiều HTX dịch vụ nông nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, đến nay 100
% các xã, thị trấn, các cơ quan đơn vị đều có phương tiện liên lạc hiện đại, các dịch
vụ truyền thông phổ biến trên toàn huyện. Tổng giá trị dịch vụ – thương mại năm
2011 đạt 210 tỷ chiếm 28 % GDP.
(. H"s.8#$2^"t%%"$62789
$:-<,;;<&
Sự phát triển thương mại nông thôn là một quá trình, do vậy sự hình thành,
vận động, biến đổi và phát triển của nó là kết quả của sự tác động thường xuyên và
tổng hợp của các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của thương mại. Có rất nhiều
nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại nông thôn nhưng nhìn chung
lại thì có các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau:
a. Nhân tố về điều kiện tự nhiên
Nhóm này gồm : vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ ; điều kiện đất đai của các
vùng ; điều kiện khí hậu , thời tiết ; các nguồn tài nguyên khác của địa phương, điều
qhC-"?"? 3,;;<&o
Năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ trên toàn huyện ước tính đạt
873,59 tỷ đồng, tăng 6% so với năm 2008 và tăng 14,5% so với năm 2007
Năm 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa , dịch vụ ước tính đạt 102,5 tỷ đồng,
tăng 16,8% so với năm 2009 và tăng 34,45% so với năm 2007
Năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt 1203 tỷ đồng, tăng 17,9%
so với năm 2010 và tăng 57,8% so với năm 2007
Nhìn chung, trong 5 năm qua tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ các năm đều
tăng và tăng so với kế hoạch đề ra. Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế mà
những năm 2007-2009 mức bản lẻ hàng hóa tăng chậm nhưng sau đó khi tình hình
22
kinh tế hồi phục thì sự phát triển diễn ra mạng mẽ hơn, mức độ lưu chuyển hàng
hóa diễn ra nhanh hơn. Điều đó cho thấy mức độ tăng trưởng thương mại hàng năm
đã có kết quả tốt. Thương mại của toàn huyện đã phát triển qua từng năm
Dịch vụ, thương mại ngoài quốc doanh đang hoạt động và phát triển khá
mạnh mẽ, đóng góp không nhỏ vào mức tăng trưởng thương mại của toàn huyện.
Các thành phần tham gia vào kênh lưu thông hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng
cả về số lượng và chất lượng
Lượng hàng hóa, dịch vụ tham gia vào thị trường thương mại nông thôn trên
địa bàn huyện ngày càng phong phú cả về số lượng và chất lượng hàng hóa. Do
điều kiện phát triển còn hạn chế nên hoạt động trao đổi hàng hóa trên địa bàn huyện
chủ yếu diễn ra trên các chợ truyền thống, các cửa hàng tiện ích. Việc phát triển các
loại hình thương mại hiện đại còn gặp nhiều khó khăn và chưa có sự đầu tư
Để đám bảo quá trình lưu thông hàng hóa được diễn ra thông suốt và có hiệu
quả, thực hiện đề án phát triển thương mại nông thôn trong giai đoạn 2010-2015 và
định hướng phát triển đến 2020, toàn huyện đang thực hiện dự án chuyển đổi mô
hình chợ theo hướng hiện đại hóa, qua đó phát triển hình thức trao đổi, lưu thông
hàng hóa, dịch vụ ở khu vực nông thôn
Cùng với sự phát triển của toàn xã hội, thị trường nông thôn trên toàn huyện
cũng đã có những bước chuyển biến to lớn. Các hoạt động dịch vụ diễn ra mạnh mẽ
trường đặc biệt là các thành phần tư thương
Q`-6Cu8B"8_v=*Gw
Các mặt hàng
xuất khẩu
Tỷ trọng
xuất khẩu
(%)
Các mặt hàng
nhập khẩu
Tỷ trọng
nhập khẩu
(%)
Giày dép 23 Máy móc, thiết bị phụ tùng
các loại
13
Sản phẩm dệt
may
25 Sản phẩm điện tử và linh kiên 6
Nông sản phẩm 34 Xăng dầu các loại 19
Gỗ và các sản
phẩm gỗ
9 Sắt, thép các loại 14
Mặt hàng thủ
công mỹ nghệ
7 Nguyên phụ liệu ngành dệt
may, da giầy
32
Các mặt hàng
khác
4 Các mặt hàng tiêu dùng khác 16