Ý thức xã hội Việt Nam truyền thông - những mặt tích cực và hạn chế khi bước vào sự nghiệp đối mới đất nước - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

ĐÀO THỊ QUỲNH HOA Ý THỨC XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG -
NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ
KHI BƯỚC VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Thị Lan Hà Nội - 12/2012

5
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Ý THỨC XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI VIỆT NAM
TRUYỀN THỐNG 9
1.1. Ý thức xã hội 9
1.1.1. Khái niệm ý thức xã hội 9
1.1.2. Bản chất của ý thức xã hội 14
1.1.3. Các cấp độ của ý thức xã hội 15
1.2. Ý thức xã hội Việt Nam truyền thống 18
1.2.1. Khái niệm ý thức xã hội Việt Nam truyền thống 18
1.2.2. Cơ sở hình thành của ý thức xã hội Việt Nam truyền thống 20
1.2.3. Một số đặc điểm của ý thức xã hội Việt Nam truyền thống 31

vật chất và năng lượng với nhịp độ khó kiềm chế của nền văn minh công
nghiệp truyền thống đã khiến các nhà kinh tế thuộc câu lạc bộ Roma lên tiếng
kêu gọi các chính phủ ngừng tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng zêrô) để ngăn
ngừa thảm hoạ diệt vong, thì cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đảo lộn
tình hình và đưa nhân loại tiến lên một nền văn minh mới, cao hơn: nền văn
minh trí tuệ, trong đó tăng trưởng không ô nhiễm môi trường sống. Trong xu
thế toàn cầu hoá đi đôi với cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế tri thức tạo nhiều
cơ hội thuận lợi cho những nuớc đi sau có thể dựa vào tiềm năng chất xám để
nhanh chóng đuổi kịp các nước khác, song cũng hàm chứa những thách thức
to lớn, những khó khăn, rủi ro và cạm bẫy không phải luôn luôn dễ nhìn và dễ
tránh. Trong lịch sử, chưa bao giờ các đặc điểm tâm lý, ý thức có ý nghĩa
quyết định đối với sự thịnh vượng, thậm chí sự tồn vong của một quốc gia
như hiện nay. Trong các điều kiện ấy, sẽ không có gì lạ nếu tới đây bên cạnh
một số nước tăng trưởng mau chóng thần kỳ có thể có những nuớc suy sụp
thảm hại và tụt hậu vô cùng. 2
Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Chúng
ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất đáng tự hào. Tại Đại hội XI
của Đảng, đánh giá 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nêu rõ: “Những thành tựu đạt
được trong 20 năm qua là to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thực hiện
thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi
tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức
mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội
chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững
hơn trong giai đoạn mới” [13; 24]. Những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và ngoại giao đã tạo thế và lực mới cho cách

thiệu những kết quả nghiên cứu về ý thức, ý thức xã hội nói chung cũng được
thực hiện ở nước ta từ khá sớm so với các vấn đề triết học khác. Cuốn sách
“Tìm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức” của GS. Trần Đức Thảo (Nxb.
Thông tin, Hà Nội, 1996) đã góp phần loại bỏ cách hiểu bản chất con người
chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, cũng như cách hiểu bản chất con người
là do vô thức quyết định, đồng thời khẳng định chính ngôn ngữ và lao động
xã hội là nguồn gốc của ý thức. Các công trình nghiên cứu như bản dịch cuốn
“Ý thức xã hội và các hình thái ý thức xã hội” của Côngstăngtinốp (Nxb. Sự
thật, Hà Nội, 1956); “Ý thức xã hội” của Cục Tuyên huấn (Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1956); “Cấu trúc và các quy luật của ý thức xã hội” của
B.A.Traghen (Nxb. Tiến bộ Mátxcơva, 1968); “Triết học xã hội” tập II của
A.G. Xpirkin (Nxb. Tuyên huấn, 1989)… đã tạo ra những cơ sở quan trọng
cho việc tiếp cận dưới góc độ triết học đối với vấn đề này. Các công trình kể
trên đã bàn về ý thức xã hội với tư cách là một nhân tố trong mối quan hệ với
tồn tại xã hội, chỉ ra sự thống nhất giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội; phân
tích kết cấu, các cấp độ và tính giai cấp của ý thức xã hội, đi sâu nghiên cứu
về các quy luật nội tại của ý thức xã hội, phân tích các quá trình phát sinh, 4
phát triển của ý thức xã hội. Song có rất ít công trình bàn đến ý thức xã hội
của một quốc gia, dân tộc cụ thể.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về ý thức xã hội Việt Nam truyền thống
cũng chưa nhiều, chủ yếu được bàn đến trong các cuốn sách, luận án, bài viết
có liên quan. Trong cuốn sách “Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam”
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011), GS. Trần Văn Giàu đã đi sâu phân
tích những điều kiện hình thành và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống,
đồng thời chỉ ra các giá trị truyền thống của dân tộc như: yêu nước, cần cù,
anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa. Xuyên suốt tác phẩm,
tác giả đã làm nổi bật luận điểm: Chủ nghĩa yêu nước là tư tưởng và tình cảm

quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn
sách “Tiến bộ xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (GS. Nguyễn
Trọng Chuẩn chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, 2000), các tác giả đã luận giải
tiến bộ xã hội từ khía cạnh văn hoá, đạo đức và khẳng định vai trò của văn
hoá, đạo đức đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các bài viết đề cập đến các vấn đề về
tính độc lập tương đối của ý thức xã hội như Ăngghen với tính độc lập tương
đối của ý thức xã hội của Phùng Đông, Tạp chí triết học, số 6/2001; Về những
nguyên nhân của việc cường điệu hay tuyệt đối hoá tính độc lập tương đối
của ý thức xã hội ở nước ta của Trần Văn Khánh, Tạp chí triết học, số 2/2001;
Vai trò của đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay của Ngô Thị Thu Ngà, Tạp chí Triết học, số
6/2010; Vai trò của giá trị truyền thống trong sự hình thành và phát triển
nhân cách của Cao Thu Hằng, Tạp chí Triết học, số 6/2011…
Một số luận án, luận văn đã tập trung phân tích vai trò của ý thức xã hội
và thực trạng đời sống tinh thần của nước ta, đồng thời đưa ra những giải
pháp để nâng cao đời sống tinh thần hiện nay như Vấn đề vận dụng tính độc
lập tương đối của ý thức xã hội trong hoạt động thực tiễn, luận án tiến sĩ triết
học của tác giả Trần Văn Khánh, Viện Triết học, Hà Nội, 2001; Phạm trù đời
sống tinh thần xã hội và ý nghĩa của nó của tác giả Phùng Đông, luận án tiến 6
sĩ triết học, Viện Triết hoc, Hà Nội, 1997; Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối
với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
của tác giả Cao Thị Sính, luận án tiến sĩ triết học, 2011…
Gần đây, Viện Triết học đã tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tư
duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay trước yêu cầu đổi mới và
hội nhập quốc tế". Tại hội thảo này, các nhà khoa học đã khẳng định, phương
thức sản xuất chính là cơ sở hình thành nên lối sống và đó cũng là nhân tố

Trên cơ sở phân tích một số đặc điểm cơ bản của ý thức xã hội Việt
Nam truyền thống, chỉ rõ những giá trị và hạn chế của nó, luận văn nêu ra một
số phương hướng và biện pháp pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và
khắc phục những mặt hạn chế của ý thức xã hội Việt Nam truyền thống khi
bước vào sự nghiệp đổi mới đất nước.
Nhiệm vụ:
+ Trình bày khái lược một số vấn đề lý luận chung về ý thức xã hội.
+ Làm rõ những tiền đề, điều kiện cho việc hình thành ý thức xã hội
Việt Nam truyền thống.
+ Phân tích một số đặc điểm cơ bản của ý thức Việt Nam truyền thống,
chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của nó.
+ Nêu ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những mặt
tích cực, khắc phục những mặt hạn chế của ý thức xã hội Việt Nam truyền
thống khi bước vào sự nghiệp đổi mới đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ý thức xã hội Việt Nam truyền thống.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về ý thức xã hội Việt Nam truyền
thống là một đề tài rộng, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả không thể
phân tích tất cả các bình diện của ý thức xã hội Việt Nam truyền thống mà chỉ
tập trung vào một số khía cạnh: phân tích cơ sở hình thành và một số đặc 8
điểm tiêu biểu của ý thức xã hội Việt Nam truyền thống, chỉ ra những mặt tích
cực và hạn chế, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những mặt
tích cực và khắc phục những mặt hạn chế của ý thức xã hội Việt Nam truyền
thống trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về ý thức xã hội, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng

học ra đời đến nay, xung quanh vấn đề ý thức và ý thức xã hội đã luôn là nơi
hội tụ của những khác biệt, tranh luận, đấu tranh giữa các trường phái triết
học và các nhà tư tưởng.
Lấy ý thức xã hội làm đối tượng nghiên cứu của mình, một trong những
nhiệm vụ của triết học là tập trung trả lời câu hỏi: Ý thức xã hội là gì?
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, các nhà triết học trước C.Mác tuy
chưa đưa ra kiến giải khoa học về ý thức xã hội, nhưng ở các mức độ khác
nhau họ cũng đã đưa ra được những hiểu biết ban đầu về ý thức xã hội nói
chung, đặt tiền đề nhất định cho việc hình thành khái niệm khoa học ý thức xã
hội của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ở thời kỳ Hy Lạp - La Mã cổ đại, nhà triết học Anaxago (khoảng 500 -
428TCN) đã đưa ra khái niệm “Nuxơ” với hàm nghĩa là trí tuệ để chỉ tất cả
những hành vi hiện tồn nói chung của ý thức và tư duy; còn theo Platon (428 -
347 TCN) thì Nuxơ chính là “ý niệm”. Cùng thời kỳ này, các nhà triết học
phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc đã có những quan niệm khác nhau, dù
là duy tâm về ý thức. Tựu trung ở thời kỳ cổ đại, các nhà triết học duy tâm đã
tập trung vào luận giải ý thức với tư cách là bản nguyên sáng tạo của thế giới
và đề cao tính tích cực của ý thức khi gắn nó với hành vi, với hoạt động sống
của con người. 10
Triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII đã có những tiến bộ vượt bậc
hơn so với thời kỳ trước trong quan niệm về ý thức nói chung và ý thức xã hội
nói riêng, hầu hết các nhà triết học không chỉ thấy, mà còn đặc biệt đề cao vai
trò của ý thức đối với xã hội, đối với hoạt động của con người. Chẳng hạn
như Hônbách cho rằng, trong xã hội thì ý kiến, tư tưởng của con người có thể
điều khiển thế giới và ý kiến, tư tưởng của những nhà làm luật giữ vai trò
quyết định. Điđơrô cho rằng, những tư tưởng, quan điểm chính trị đóng vai
trò quyết định tính chất của chế độ xã hội.

đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định
bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự
giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất
của sự giao tiếp đó. Ý thức không bao giờ là cái gì khác hơn là sự tồn tại được
ý thức” [42; 258]. Như vậy, ở đây, C. Mác đã khẳng định chính con người đã
sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, và những quan niệm, ý niệm đó được
xuất phát từ ngay chính đời sống hiện thực của con người chứ không phải
hiện thực là sự thể hiện của ý niệm tuyệt đối như quan niệm của Heghen. Do
đó, ý thức xã hội chẳng qua chỉ là sự phản ánh của tồn tại xã hội, do tồn tại xã
hội quyết định.
Viết về phạm trù ý thức xã hội, các tác giả của cuốn “Từ điển triết
học” cho rằng: “Ý thức xã hội - tức là sinh hoạt tinh thần của xã hội là do
những điều kiện sinh hoạt vật chất, do phương thức sản xuất vật chất quyết
định” [77; 1068].
Ở đây, người ta đã đồng nhất ý thức xã hội với sinh hoạt tinh thần của
xã hội và đời sống tinh thần do đời sống vật chất quyết định. Côngstăngtinốp
cho rằng: theo nghĩa rộng, khái niệm ý thức xã hội bao gồm những quan điểm
chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… của xã hội,
bao gồm tri thức khoa học (kể cả khoa học tự nhiên). Nói theo nghĩa tương
đối hẹp thì khái niệm ý thức xã hội chỉ là những tư tưởng, quan điểm và học
thuyết xã hội phản ánh tồn tại xã hội, chế độ xã hội. Có quan điểm cho rằng, ý 12
thức xã hội là mặt tinh thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những tâm trạng, truyền thống… nảy sinh từ tồn tại xã hội trong những
giai đoạn phát triển nhất định.
Như vậy, ý thức xã hội và đời sống tinh thần của xã hội có đồng nhất
với nhau không? Đây là câu hỏi khiến nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội
nói chung quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực triết học. Thực ra, đời sống tinh

ứng với sự phát triển của đời sống vật chất của xã hội. Vì vậy, chủ nghĩa duy
vật lịch sử cho rằng, ý thức xã hội, hệ tư tưởng của xã hội là do sự phát triển
của sản xuất, do hoạt động sản xuất của xã hội quyết định, dù không phải là
quyết định trực tiếp mà thông qua quan hệ sản xuất.
Tuy nhiên cũng có sự khác biệt giữa phạm trù tinh thần và phạm trù ý
thức xét trên góc độ nhận thức luận và về mặt kết cấu. Trên góc độ nhận thức
luận, có tác giả cho rằng tinh thần và ý thức khác nhau ở chỗ: tinh thần là cái
giống như ý thức được tồn tại trong đầu óc con người, nhưng nó còn được
hiện thực hoá, vật chất hoá. Đặc biệt, tinh thần còn để lại dấu vết trong những
mối quan hệ xã hội. Còn ý thức là cái đối lập với vật chất. Vì vậy, khi định
nghĩa phạm trù vật chất, V.I. Lênin đã dùng phương pháp đặc biệt - phương
pháp đem đối lập vật chất với ý thức. Chính vì vậy, khác với ý thức, trong
mối quan hệ với vật chất, tinh thần vừa là chủ thể, vừa là khách thể (vừa là cái
phản ánh vật chất, vừa là đối tượng của phản ánh vật chất).
Xét về kết cấu cụ thể thì phạm trù đời sống tinh thần rộng hơn phạm trù
ý thức xã hội. Bởi vì phạm trù đời sống tinh thần còn bao gồm cả những hoạt
động tinh thần và những quan hệ tinh thần phong phú của xã hội. Do đó, nếu
cho rằng ý thức xã hội là mặt tinh thần của xã hội thì có thể dẫn đến cách hiểu
là đồng nhất ý thức xã hội với đời sống tinh thần xã hội. Vì vậy, theo chúng
tôi: Ý thức xã hội là một khái niệm thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội, bao
gồm những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, lý thuyết, những tình cảm, tâm
trạng, tâm lý, truyền thống, tập quán… nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh
tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Cách hiểu nội dung khái 14
niệm như vậy vừa nói lên được nguồn gốc của ý thức xã hội là bắt nguồn từ tồn
tại xã hội, vừa khẳng định được bản chất của nó là phản ánh tồn tại xã hội.
1.1.2. Bản chất của ý thức xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức

tinh thần lại là bộ phận hợp thành của tồn tại xã hội, bởi vì nó được đem lại
cho ý thức cá nhân riêng rẽ.
Nhưng khi nhấn mạnh tính thống nhất của tồn tại xã hội và ý thức xã
hội, không được bỏ qua tính khác biệt, tính độc lập tương đối của chúng.
Trong lịch sử, mối liên hệ lẫn nhau giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong
tính độc lập tương đối của chúng được thể hiện như sau: nếu như trong giai
đoạn đầu của sự phát triển xã hội, ý thức xã hội được hình thành dưới tác
động trực tiếp của tồn tại xã hội, thì về sau tác động này ngày càng mang tính
gián tiếp - thông qua nhà nước, các quan hệ chính trị, pháp quyền. Ngược lại,
ý thức xã hội tác động đến tồn tại xã hội một cách trực tiếp. Chính khả năng
của ý thức xã hội tác động trực tiếp như vậy đến tồn tại xã hội nằm trong năng
lực của ý thức phản ánh đúng tồn tại.
Như vậy, với tư cách là sự phản ánh và hoạt động tích cực - sáng tạo, ý
thức xã hội là thể thống nhất hai mặt không tách rời của cùng một quá trình:
khi ảnh hưởng đến tồn tại xã hội, ý thức xã hội có thể đánh giá, vạch ra ý
nghĩa ẩn giấu của tồn tại xã hội, dự báo, cũng có thể cải tạo tồn tại xã hội
thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, ý thức xã hội của thời
đại không những có thể phản ánh tồn tại xã hội, mà còn có thể tích cực tạo
điều kiện cải tổ nó. Chức năng đó đã hình thành trong lịch sử của ý thức xã
hội, khiến cho ý thức xã hội trở thành một yếu tố tất yếu khách quan và tồn tại
thật sự trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào.
1.1.3. Các cấp độ của ý thức xã hội
Chúng ta có thể tiếp cận ý thức xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau. Có
thể xem ý thức xã hội gắn với các hình thái ý thức xã hội, cũng có thể tiếp cận 16
ý thức xã hội dưới góc độ chủ thể mang ý thức để phân tích ý thức xã hội của
các nhóm, tập đoàn, giai cấp trong xã hội.
Nói chung, ý thức xã hội thường được phân chia theo chiều dọc thành

thức đời thường xa lạ những quan điểm khoa học, thì trong xã hội hiện đại, ý
thức thực tiễn - đời thường đã không còn là sự phản ánh thế giới mang tính
tôn giáo - huyền thoại ngây thơ nữa, ngược lại, nó chứa đựng những tri thức
khoa học, đồng thời khái quát các tri thức này thành hệ thống, nhờ vào những
phương tiện riêng của nó mà không thể quy thành những phương tiện khoa
học được.
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội
Tâm lý xã hội: là bộ phận của ý thức thông thường, bao gồm toàn bộ
những tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán… của con người
được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sinh
sống hằng ngày.
Tâm lý xã hội là hiện tượng phong phú, đa dạng phức tạp không những
vì được hình thành tự phát do điều kiện sinh sống và hoạt động trực tiếp hàng
ngày chi phối mà còn vì tính phức tạp và tinh tế của tâm lý con người. Tâm lý
xã hội thuộc lĩnh vực của con người nên tính dễ “lây lan” là một trong những
đặc trưng của nó. Yếu tố xúc cảm tâm lý làm cho tâm lý xã hội có tác dụng
kích thích hoạt động của con người một cách nhanh chóng. Vì vậy, sự hiểu
biết kịp thời và đúng đắn tâm trạng xã hội của quần chúng là một yêu cầu rất
quan trọng trong công tác vận động cách mạng, trong hoạt động quản lý và
lãnh đạo xã hội nói chung, trong công tác tư tưởng nói riêng. Một tư tưởng xã
hội chỉ trở thành sức mạnh hiện thực trong thực tiễn khi nó kết hợp với yếu tố
tâm lý trong ý thức con người và sức mạnh đó chỉ trở nên lâu bền khi nó đi
vào tập quán của xã hội.
Hệ tư tưởng xã hội: là những quan điểm, tư tưởng đã được hệ thống
hoá, khái quát hoá thành lý luận, thành các học thuyết chính trị - xã hội, phản
ánh lợi ích của một giai cấp nhất định.
Hệ tư tưởng ở cấp độ lý luận của ý thức nhưng không bao hàm toàn bộ
ý thức lý luận. Với tư cách là ý thức lý luận, hệ tư tưởng không phản ánh lý

19
Ý thức xã hội Việt Nam truyền thống được hình thành trong quá trình
phát triển lâu dài của dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống tinh thần
của dân tộc và được thể hiện trong nhận thức của mỗi người khi tham gia vào
hoạt động xã hội với tư cách là thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Cộng đồng Việt Nam được hình thành cách đây hàng nghìn năm. Thời
điểm hình thành dân tộc Việt Nam là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Tuy
nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng, dân tộc Việt Nam cũng như đa số
các dân tộc phương Đông khác như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều tiên… được
hình thành từ rất sớm. Việt Nam được biết đến như cái nôi văn minh của loài
người và cũng được coi là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp
sớm với nền văn minh lúa nước, nơi đã từng trải qua các cuộc cách mạng đồ
đá mới và cách mạng luyện kim. Trên nền tảng phát triển kinh tế - xã hội thời
Đông Sơn, trước những đòi hỏi của công cuộc trị thủy và chống xâm lăng,
nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên - đã ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII
trước Công nguyên. Bằng sức lao động cần cù, sáng tạo, cư dân Văn Lang,
(sau đó là Âu Lạc) đã tạo dựng nên một nền văn minh tỏa sáng khắp vùng
Đông Nam Á. Đi cùng với Nhà nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một
nền kinh tế phong phú, một nền văn hóa cao mà mọi người biết đến với tên
gọi là văn minh Sông Hồng (còn gọi là văn minh Đông Sơn) với biểu tượng là
trống đồng Đông Sơn - thể hiện sự kết tinh lối sống, truyền thống và văn hóa
của người Việt cổ.
Vừa dựng nước, người Việt đã phải liên tiếp đương đầu với sự xâm
lăng của các thế lực bên ngoài. Độ dài thời gian và tần suất các cuộc kháng
chiến, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam rất lớn. Kể từ
cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III trước Công nguyên) đến cuối thế kỷ
XX, đã có tới 12 thế kỷ Việt Nam phải tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh
giữ nước, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc. Cuộc sống lao động
gian khổ đã tạo ra truyền thống lao động cần cù, sáng tạo; yêu cầu phải liên

dài tạo điều kiện cho ngư dân phát triển nghề làm muối, đánh bắt tôm cá và 21
hải sản. Những dãy núi cao không chỉ là những cảnh đẹp hung vĩ mà bên
trong còn chứa đựng biết bao bí ẩn của thiên nhiên. Khí hậu của Việt Nam là
nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, tạo điều kiện cho sự phát triển thảm
thực vật dày quanh năm, tạo nên sự đa dạng sinh thái.
Tuy nhiên, thiên nhiên nơi đây cũng ẩn chứa nhiều đe doạ sự tồn tại và
thử thách sức sống của con người Việt Nam. Vùng núi cao luôn là nơi “rừng
thiêng nước độc”, chứa đựng nhiều cạm bẫy và thú dữ. Biển cả và bão làm
đắm bao thuyền bè, cướp đi sinh mạng của biết bao ngư dân chài lưới. Thuỷ
triều ở những con sông lớn luôn là mối đe doạ đối với những người làm nông
nghiệp. Hằng năm, nước dâng cao phá vỡ đê, cuốn đi tất cả những thành quả
lao động của người nông dân. Khí hậu cũng luôn thất thường, khi thì mưa kéo
dài, xói mòn hết đồng ruộng; khi thì hạn hán nắng như đổ lửa, thiêu cháy
đồng ruộng, hoa màu và cây cỏ. Biết bao nhiêu loại dịch bệnh phát sinh, phá
hoại mùa màng, gây cản trở cho quá trình sản xuất.
Thiên nhiên đã buộc con người Việt Nam phải thích ứng với những ưu
đãi và sự khắc nghiệt của nó. Cứ mỗi lần sông Hồng dâng nước lên cao, thì
con người lại đắp đê cao hơn nữa từ đời này qua đời khác. Sử cũ chép lại năm
1100 đắp đê bên sông ở phường Cơ Xá (Thọ Xương - Hà Nội). Năm1248,
triều đình ra lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn ra đến bờ biển để phòng
ngừa nước sông tràn ngập. Cùng với việc đắp đê, Sử cũ chép về nạn thuỷ tai:
năm 1243 có nước lớn, vỡ thành Đại La, năm 1245 vỡ đê Long Đàm, năm
1265 vỡ đê phường Cơ Xá khiến nhiều người và súc vật chết đuối, năm 1352
nước to vỡ đê Bát Tràng, Thổ Khối (Bắc Ninh), Khoái Châu (Hưng Yên),
Hồng Châu (Hải Dương)… cứ thế kéo dài hàng chục thế kỷ. Những công việc
đắp đập, làm mương, làm thuỷ lợi, khai hoang, lấn biển, đắp đê, phòng chống
bão lụt yêu cầu phải có sự chung sức, chung lòng của các thành viên trong

một “đại địa chủ” có quyền tối thượng về phân bố và sử dụng đất đai. Nhân
dân chỉ là người canh tác trên đất của nhà vua như người làm thuê và có nghĩa
vụ nộp thuế. Tuy nhiên, về hình thức, trong vấn đề ruộng đất, mọi quyền hành

Trích đoạn Một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status