Quản trị quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh - Pdf 25

Chương 1. TỔNG QUAN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ QUY
TRÌNH CHUẨN BỊ HÀNG MAY MẶC XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
ĐỨC CỦA CÔNG TY CPTM KHANG VĨNH
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Thương mại quốc tế là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đang phát triển
sâu rộng cùng với các nền kinh tế khu vực và thế giới thì thương mại quốc tế là hoạt
động không thể thiếu, mang tính chất sống còn của sự phát triển kinh tế đất nước.
Do vậy, để mở rộng và phát triển hoạt động thương mại quốc tế, các doanh nghiệp
cần đẩy mạnh xuất khẩu sang nhiều quốc gia với nhiều chủng loại mặt hàng. Đây là
một chiến lược phát triển kinh tế lâu dài.
Hàng may mặc là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam và có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm. Hiện nay, hàng may mặc được đánh
giá có khá nhiều tiềm năng cho xuất khẩu do nước ta có nguồn lao động dồi dào,
đặc biệt là nhờ cấu trúc dân số trẻ, bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng
may mặc đã xây dựng tốt mối quan hệ với nhiều nhà nhập khẩu trên thế giới và sản
phẩm may mặc của Việt Nam đã thiết lập được vị thế trên các thị trường khó tính
như Mỹ, EU và Nhật Bản. Hơn nữa, Việt Nam được đánh giá cao về sự ổn định
chính trị và an toàn xã hội, có sức hấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu
tư nước ngoài. Do vậy, Việt Nam hội nhập WTO là một điều kiện rất thuận lợi để
các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc tiếp cận và mở rộng sang nhiều thị
trường, tăng kim ngạch xuất khẩu, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước.Tuy nhiên,
hàng may mặc xuất khẩu theo phương thức gia công, gặp rất nhiều khó khăn về
nguyên phụ liệu để sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ do đó
hạn chế về vốn, công nghệ, trang thiết bị, công tác thiết kế mẫu sản phẩm. Do vậy,
giá trị xuất khẩu chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên phụ liệu
phục vụ cho sản xuất. Để tận dụng những cơ hội và giảm bớt các khó khăn, các
doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc
nói riêng việc quan tâm, đầu tư hơn vào việc tổ chức, quản lý, điều hành, giám sát
các hoạt động xuất khẩu để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp mình là rất cần thiết. Một trong những vấn đề quan trọng của hoạt động xuất

đề xuất để hoàn thiện quy trình chuẩn bị hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trường
Trung Quốc của công ty CPXNK thủy sản Quảng Ninh.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu về quản trị quy trình
chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang
Vĩnh. Vấn đề nghiên cứu của tác giả là vấn đề mang tính mới và có giá trị lý luận và
thực tiễn.
1.3. Mục đích nghiên cứu
 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu là hoàn thiện quản trị quy trình chuẩn bị hàng may mặc
xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh
 Mục tiêu cụ thể
Tác giả đi tìm hiểu các thông tin trên cơ sở lý thuyết về quản trị, chuẩn bị
hàng, quản trị quy trình chuẩn bị hàng… Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản trị
quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM
Khang Vĩnh. Từ việc phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề trên, tác giả đưa ra
một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị quy trình chuẩn bị hàng may
mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh.
1.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quản trị quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu
sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh
1.5. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quản trị quy trình chuẩn
bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh.
- Thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2008 – 2011, định hướng đến năm
2015.
- Không gian: Nghiên cứu tại công ty CPTM Khang Vĩnh và thị trường Đức.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
1.6.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Tác giả thu thập dữ liệu từ phòng kế toán, phòng kinh doanh – XNK, phòng

hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức của Công ty CPTM Khang Vĩnh
Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUY TRÌNH CHUẨN BỊ
HÀNG XUẤT KHẨU
2.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1. Quản trị
Theo Robbins, S.P. và Coultar, M.(1996) thì “Quản trị là tiến trình hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ
chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu
đã đề ra”.
• Hoạch định: Nghĩa là nhà quản trị cần phải xác định trước những mục tiêu
và quyết định những cách tốt nhất để đạt được mục tiêu
• Tổ chức: Đây là công việc liên quan đến sự phân bổ và sắp xếp nguồn lực
con người và những nguồn lực khác của tổ chức. Mức độ hiệu quả của tổ chức phụ
thuộc vào sự phối hợp nguồn lực để đạt được mục tiêu.
• Lãnh đạo: Thuật ngữ này mô tả sự tác động của nhà quản trị đối với các
thuộc câp cũng như sự giao việc cho những người khác làm. Bằng việc thiết lập môi
trường làm việc tốt, nhà quản trị có thể giúp các thuộc cấp làm việc hiệu quả hơn.
• Kiểm soát: Nghĩa là nhà quản trị cố gắng để đảm bảo rằng tổ chức đang đi
đúng mục tiêu đã đề ra. Nếu những hoạt động trong thực tiễn đang có sự lệch lạc thì
những nhà quản trị sẽ đưa ra những điều chỉnh cần thiết.
2.1.2. Hợp đồng thương mại quốc tế
Theo Doãn Kế Bôn (2010, tr 243) thì “Hợp đồng thương mại quốc tế là sự
thỏa thuận về thương mại giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia
khác nhau”.
Bản chất của hợp đồng thương mại quốc tế là các hợp đồng mua bán hàng
hóa và dịch vụ, là sự thỏa thuận của các bên kí kết hợp đồng. Hợp đồng thương mại
quốc tế xác nhận những nội dung giao dịch mà các bên đã thỏa thuận và cam kết
thực hiện các nội dung đó, nó xác nhận quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong
quá trình giao dịch thương mại.


khẩu, căn cứ vào yêu cầu về hàng xuất khẩu được quy định trong hợp đồng xuất
khẩu để có kế hoạch về nguyên vật liệu và các nguồn lực cần thiết phục vụ cho sản
xuất.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thì thường không tự sản xuất mà tập trung
hàng từ các nguồn hàng xuất khẩu. Nguồn hàng xuất khẩu là nơi đã và có khả năng
cung cấp hàng hóa đủ điều kiện cho xuất khẩu.
Quá trình tập trung hàng xuất khẩu được mô tả qua các bước sau:
• Xác định nhu cầu hàng xuất khẩu
Trên cơ sở kế hoach xuất khẩu, doanh nghiệp cần xác định nhu cầu về hàng
xuất khẩu: số lượng, chủng loại, yêu cầu về chất lượng, bao bì, lịch trình giao hàng
làm cơ sở để nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng để tập trung xuất khẩu.
• Nhận dạng và phân loại nguồn hàng xuất khẩu
Các loại nguồn hàng được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Theo khối lượng hàng hóa được mua: Theo tiêu thức này thì nguồn hàng
được chia thành nguồn hàng chính và nguồn hàng phụ.
+ Nguồn hàng chính: Là nguồn hàng có khả năng cung cấp một số lượng
hàng lớn với chất lượng đảm bảo cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nguồn hàng này
quyết định nhiều đến năng lực và lợi nhuận cho doanh nghiệp nên phải quan tâm và
có chính sách đặc biệt để bảo vệ nguồn hàng đảm bảo ổn định và phát triển bền
vững nguồn hàng, tránh sự tấn công của đối thủ cạnh tranh.
+ Nguồn hàng phụ: Là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng
hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp. Nguồn hàng này không quyết định nhiều đến
doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp, tuy nhiên cần phải chú ý đến khả năng
phát triển nguồn hàng này thành các nguồn hàng chính trong tương lai, để tăng số
lượng nguồn hàng chính, tăng khả năng xuất khẩu, mở rộng mặt hàng và thị trường
xuất khẩu cho doanh nghiệp.
- Theo đơn vị giao hàng: Nguồn hàng xuất khẩu được chia thành :
+ Các công ty liên doanh: Đây là nguồn hàng có năng lực sản xuất kinh
doanh vì các sản phẩm luôn được cải tiến.
+ Các doanh nghiệp tư nhân, các hợp tác xã, hộ gia đình: Các nguồn hàng có

tài chính, khả năng kỹ thuật của nguồn hàng; năng lực quản lý; khả năng phát triển
và đổi mới mặt hàng; khả năng tiếp cận nguồn hàng
• Các hình thức giao dịch hàng xuất khẩu
- Mua hàng xuất khẩu: Các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu có thể
mua hàng xuất khẩu thông qua các đơn hàng và hợp đồng kinh tế.
- Gia công hoặc bán nguyên liệu thu mua hàng xuất khẩu: Gia công là hình
thức doanh nghiệp xuất khẩu giao nguyên liệu hay bán thành phẩm cho đơn vị sản
xuất, để đơn vị sản xuất làm thành thành phẩm, giao lại cho bên doanh nghiệp xuất
khẩu và nhận phí gia công. Với hình thức này quyền sở hữu nguyên vật liệu thuộc
về doanh nghiệp xuất khẩu, cho nên doanh nghiệp xuất khẩu phải có các biện pháp
để kiểm soát nguyên vật liệu và chất lượng sản phẩm. Quan hệ giữa doanh nghiệp
xuất khẩu và đơn vị gia công là quan hệ hợp đồng gia công hàng xuất khẩu.
- Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng xuất khẩu: Đây là hình thức các doanh
nghiệp xuất khẩu liên doanh liên kết với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu,
trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của các bên tham gia và lợi cùng hưởng, lỗ cùng
chịu.
- Xuất khẩu ủy thác: Trong hình thức bên có hàng xuất khẩu gọi là bên ủy
thác, doanh nghiệp nhận hàng xuất khẩu gọi là bên nhận ủy thác. Xuất khẩu ủy thác
là bên nhận ủy thác với danh nghĩa của mình tiến hành xuất khẩu hàng hóa với chi
phí của bên ủy thác. Trong trường hợp này doanh nghiệp xuất khẩu chắc chắn có
hàng giao dịch cho khách hàng để thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
- Tự sản xuất hàng xuất khẩu : Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp
tự sản xuất trực tiếp tiến hành các sản phẩm của mình, hoặc các doanh nghiệp
thương mại kinh doanh hàng xuất khẩu tự sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tự chủ
trong hoạt động kinh doanh của mình.
• Tổ chức hệ thống tập trung hàng xuất khẩu
Bao gồm hệ thống các chi nhánh, các đại lý, hệ thống kho hàng, hệ thống vận
chuyển, hệ thống thông tin, hệ thống quản lý… để đảm bảo cung cấp đúng hàng
hóa, đủ về số lượng, phù hợp về chất lượng, kịp thời gian với chi phí thấp là mục
tiêu của tổ chức hợp lý hệ thống.

cần căn cứ vào các cơ sở khoa học sau: căn cứ vào các hợp đồng đã ký kết, điều
kiện vận tải, điều kiện pháp luật và tập quán ngành hàng.
 Đóng gói hàng hóa
Để đóng gói hàng hóa xuất khẩu cần phải kế hoạch hóa nhu cầu bao bì, nghĩa
là phải xác định được nhu cầu về bao bì tương thích với số hàng hóa cần bao gói và
có kế hoạch để cung ứng bao bì phù hợp về chất lượng, đủ về số lượng và đúng thời
điểm.
Khi đóng gói người ta có thể áp dụng hai hình thức đóng gói là đóng gói kín
và đóng gói hở. Đóng gói kín thường được áp dụng trong đa số trường hợp. Khi
đóng gói hàng hóa yêu cầu phải đảm bảo đúng kỹ thuật, hàng hóa được xếp gọn
gàng trong bao bì, khi cần chèn lót, sử dụng tối đa khoảng không gian trong bao bì,
đảm bảo thuận tiện và tối ưu trong bốc xếp, vận chuyển và bảo quản.
Thứ ba, kẻ ký mã hiệu hàng hóa xuất khẩu
 Mục đích của kẻ ký mã hiệu
Mục đích của kẻ ký mã hiệu là đảm bảo thuận lợi cho phương pháp giao
hàng, hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật bốc dỡ, vận chuyển và bảo quản hàng hóa.
 Yêu cầu của kể ký mã hiệu
- Nội dung thông tin của kẻ ký mã hiệu phải đáp ứng mục đích yêu cầu đề ra.
- Kẻ ký mã hiệu phải đơn giản và nhất quán về mọi chi tiết chủ yếu, cố gắng sử
dụng tối đa các ký hiệu đã được chuẩn hóa quốc tế để mọi người dễ đọc, dễ hiểu.
- Phải kẻ ký mã hiệu ở vị trí dễ phát hiện và nhận ra ngay từ xa. Phải dùng
vật liệu và kỹ thuật kẻ ký mã hiệu đảm bảo chất lượng của các mã hiệu nhưng
không làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa.
 Nội dung của kẻ ký mã hiệu hàng hóa
- Những thông tin cần thiết đối với người nhận hàng như: Tên người nhận,
tên người gửi, trọng lượng tịnh, trọng lượng cả bì, số hợp đồng, số hiệu chuyển
hàng, số hiệu kiện hàng.
- Những thông tin cần thiết cho việc vận chuyển hàng hóa như: Tên nước và
tên địa chỉ hàng đến, tên nước và tên địa chỉ hàng đi, hành trình chuyên chở, số vận
tải, tên tàu, số hiệu chuyến đi.

Kế hoạch sau khi được lập phải được đệ trình và bảo vệ trước ban lãnh đạo,
các phòng ban của doanh nghiệp. Sau khi kế hoạch được góp ý, bổ sung, chỉnh sửa,
được phê duyệt và chính thức đi vào giai đoạn thực hiện.
 Nội dung của kế hoạch chuẩn bị hàng xuất khẩu
Đối với doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thì cần phải lập kế hoạch và
nguyên phụ liệu, nguồn nhân lực, thiết bị máy móc để tiến hành sản xuất. Còn đối
với doanh nghiệp xuất khẩu thì cần phải lập kế hoạch về nguồn hàng xuất khẩu, xác
định nhu cầu hàng xuất khẩu, lựa chọn nguồn hàng xuất khẩu và lựa chọn hình thức
giao dịch hàng xuất khẩu. Để lập kế hoạch cho công tác này, các doanh nghiệp phải
dựa trên cơ sở là hợp đồng xuất nhập khẩu để đảm bảo đúng số lượng, đúng chất
lượng, chủng loại và thời hạn giao hàng.
Lập kế hoạch cho công tác bao gói và kẻ ký mã hiệu cần dựa trên yêu cầu
tiêu chuẩn của bên đối tác và điều kiện thực tế của doanh nghiệp để đề ra các mục
tiêu thích hợp, mang lại hiệu quả xuất khẩu cao. Lập kế hoạch về bao gói hàng hóa,
doanh nghiệp cần tập trung xác định nhu cầu về bao bì để tương thích với số hàng
hóa cần bao gói.
2.3.2. Tổ chức thực hiện quy trình chuẩn bị hàng xuất khẩu
Tổ chức thực hiện công tác chuẩn bị hàng xuất khẩu là bước thứ hai sau khi
đã lập kế hoạch cho công tác chuẩn bị hàng. Tổ chức thực hiện là quá trình tạo ra
một cơ cấu các mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, thông qua đó cho
phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức. Tổ
chức thực hiện bao gồm việc thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự
cho một tổ chức. Các công việc này bao gồm: xác định những việc phải làm, người
nào làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào được hình thành, quan hệ giữa các
bộ phận được thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó được thiết
lập ra sao. Tổ chức đúng đắn sẽ tạo nên môi trường nội bộ thuận lợi thúc đẩy hoạt
động đạt mục tiêu, tổ chức kém thì công ty sẽ thất bại, dù lập kế hoạch tốt.
Chuẩn bị hàng xuất khẩu được tổ chức thực hiện gồm các nội dung: Tập
trung hàng xuất khẩu; Bao gói hàng xuất khẩu; Kẻ ký mã hiệu hàng hóa.
Tập trung hàng xuất khẩu: Tiến hàng sản xuất sản phẩm để xuất khẩu nếu là

xuyên xuất hiện các tình huống phát sinh. Điều hành quy trình chuẩn bị hàng là giải
quyết các tình huống này một cách có lợi nhất trên cơ sở đánh giá thực tế về tình
hình và những khả năng lựa chọn có thể tìm được nếu có.
Chuẩn bị hàng là nhiệm vụ quan trọng của người bán, phải tập trung lô hàng
đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phù hợp về bao bì và đúng thời hạn giao
hàng. Nhưng vì nhiều lý do, gần đến ngày giao hàng người bán mới phát hiện ra
rằng mình khó khăn trong tiến độ giao hàng, hoặc bán hàng bị sai chủng loại, hoặc
một phần hay toàn bộ lô hàng không phù hợp về chất lượng hoặc không phù hợp về
bao bì. Một vấn đề đặt ra rằng người bán phải điều hành vấn đề này như thế nào để
thực hiện tiếp hợp đồng đảm bảo hiệu quả nhất. Dù người bán có điều hành như thế
nào thì vấn đề này cũng sẽ được thông báo cho người mua, để thỏa thuận với người
mua cùng giải quyết và người mua cũng phải nghiên cứu và điều hành vấn đề này
như thế nào để thực hiện tiếp hợp đồng cho tối ưu nhất.
Chương 3. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ QUY TRÌNH CHUẨN
BỊ HÀNG MAY MẶC XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG ĐỨC CỦA
CÔNG TY CPTM KHANG VĨNH
3.1. Giới thiệu về Công ty CPTM Khang Vĩnh
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty CPTM Khang Vĩnh
Công ty CPTM Khang Vĩnh được thành lập vào ngày 24/08/2007, tên giao
dịch là Khang vinh trading joint stock company, tên viết tắt là KHANGVINH JSC.,
điện thoại: 04.8351335, fax: 04.7716871. Trụ sở chính của công ty tại: Số 744,
đường La Thành, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội. Công ty có chi nhánh
tại Hải Phòng, địa chỉ: 13/5 đường Nguyễn Trãi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền,
TP. Hải Phòng. Lĩnh vực chính của công ty là nhập khẩu vải, các nguyên phụ liệu,
sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc.
• Năm 2007 và 2008, khi mới thành lập công ty chủ yếu kinh doanh trong lĩnh
vực nhập khẩu vải, các nguyên phụ liệu, sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc. Nhập
nguyên vật liệu từ Trung Quốc, Đài Loan, xuất khẩu sang thị trường Đức. Hoạt
động một số lĩnh vực khác như: Vận tải hàng hóa; kinh doanh nhà hàng, khách sạn;
mua, bán, kí gửi hàng hóa.

kết quả của hoạt động SXKD thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động SXKD của công ty giai đoạn 2008– 2011
Đơn vị: triệu đồng
STT Nội dung Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Tổng doanh thu 40.064 38.788 49.322 61.106
2 Tổng chi phí 25.016 24.580 28.798 35.356
3 Lợi nhuận từ SXKD 15.048 14.208 20.524 25.750
4 Lợi tức từ hoạt động khác 652 621 1.970 2.550
5 Tổng lợi nhuận trước thuế 15.700 14.829 22.494 28.300
6 Thuế TNDN 3.925 3.707,25 5.623,5 7.075
7 Lợi nhuận sau thuế 11.775 11.121,75 16.870,5 21.225
Nguồn: Báo cáo tổng kết của công ty CPTM Khang Vĩnh năm 2008 - 201
1
Nhìn vào bảng kết quả hoạt động SXKD của công ty ta thấy, trong khoảng
từ năm 2008 đến 2009, doanh thu và lợi nhuận của công ty giảm nhẹ. Sở dĩ doanh
thu và lợi nhuận sau thuế trong năm 2009 giảm so với năm 2008 vì cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới diễn ra vào cuối năm 2008 đầu năm 2009 đã ảnh hưởng đến
hoạt động SXKD của công ty. Khủng hoảng lan rộng ra toàn thế giới, nền kinh tế
của các nước đều bị ảnh hưởng dẫn đến hoạt động SXKD giảm sút. Các đơn đặt
hàng từ đối tác giảm, do đó, làm giảm doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty.
Trong giai đoạn từ 2010 đến 2011 thì doanh thu và lợi nhuận sau thuế tăng
lên qua các năm. Bởi vì, cuối năm 2009 và đầu năm 2010 thì nền kinh tế được phục
hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Mặt khác, công ty cũng mở rộng lĩnh
vực kinh doanh và thị trường xuất khẩu.
3.2.2. Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty CPTM Khang Vĩnh
trong giai đoạn 2008 - 2011
Công ty tuy chỉ mới hoạt động được gần 5 năm nhưng với sự nỗ lực hết
mình, công ty đạt được kết quả khá tốt trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc.
Kết quả hoạt động xuất khẩu của công ty trong giai đoạn 2008 – 2010 được thể hiện
qua biểu sau:

trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh
Qua kết quả phỏng vấn trực tiếp các đối tượng trực tiếp quản lý quy trình
thực hiện hợp đồng trong đó có quy trình chuẩn bị hàng và bằng phương pháp khảo
sát thực tế tại công ty thì công tác quản trị quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất
khẩu được tiến hành trên ba bước cụ thể là: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; giám
sát và điều hành quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Đức.
3.3.1. Lập kế hoạch quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị
trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh
Lập kế hoạch là công việc có ý nghĩa hết sức rất quan trọng đối công tác
quản trị nói chung và công tác quản trị quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu nói riêng.
Bộ phận kế hoạch sẽ là người trực tiếp thực hiện công việc này. Để có được một kế
hoạch công tác chuẩn bị hàng hiệu quả, bộ phận lập kế hoạch của công ty thực hiện
qua ba bước như sau:
 Chuẩn bị lập kế hoạch: Sau khi nhận được hợp đồng đã kí kết với đối tác,
dựa vào các điều khoản trong hợp đồng, bộ phận kế hoạch sẽ chuẩn bị cho kế hoạch
chuẩn bị hàng để xuất khẩu sang cho đối tác. Trong giai đoạn này, các nhân viên sẽ
thu thập những thông tin cần thiết cho quá trình chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu,
phân tích các yếu tố thuộc về đối tác, thuộc về doanh nghiệp như khả năng SXKD
hiện tại, các nguồn lực…để từ đó nghiên cứu đưa ra các nội dung cụ thể cho công
tác lập kế hoạch phù hợp với những yêu cầu của đối tác. Từ việc nghiên cứu những
thông tin về đối tác, công ty nhận thấy rằng người tiêu dùng của Đức không quá đòi
hỏi vào kiểu cách mà quan trọng là chất lượng sản phẩm và sự kỳ công của nhà sản
xuất nhằm tạo sự khác biệt của sản phẩm, do vậy, công ty sẽ có kế hoạch về sản
xuất tập trung vào chất lượng của sản phẩm. Bên cạnh đó, bộ phận sẽ nghiên cứu và
chuẩn bị kế hoạch về trang thiết bị máy móc, nhân lực để phục vụ cho sản xuất, đáp
ứng kịp thời đơn đặt hàng của đối tác.
 Tiến hành lập kế hoạch: Sau khi đã phân tích khả năng của công ty, tìm hiểu
về đối tác, về yêu cầu của hợp đồng, bộ phận kế hoạch tiến hành lập kế hoạch cho
công tác chuẩn bị hàng. Trước tiên là xác định các các chỉ tiêu cần đạt được trong
công tác chuẩn bị hàng về số lượng, quy cách phẩm chất, bao bì, kí mã hiệu của

lãnh đạo cấp cao của công ty.
3.3.2. Tổ chức thực hiện quy trình chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị
trường Đức của công ty CPTM Khang Vĩnh
Sau khi kế hoạch đã được ban lãnh đạo phê duyệt và thông qua thì bộ phận
chuẩn bị hàng xuất khẩu sẽ xem xét và tiến hành thực hiện các công việc chuẩn bị
hàng xuất khẩu gồm: tập trung hàng xuất khẩu, bao bì hàng xuất khẩu và kẻ ký mã
hiệu hàng xuất khẩu.
 Tập trung hàng may mặc xuất khẩu
Để thực hiện công việc này, công ty tiến hành sản xuất sản phẩm dựa trên
nguồn nhân lực, các nguyên phụ liệu, trang thiết bị máy móc đã được nhập khẩu và
tổ chức tập trung hàng xuất khẩu.
• Sản xuất hàng may mặc xuất khẩu
Tất cả các sản phẩm may mặc bao gồm quần bò nữ, quần âu nữ, quần bò
nam xuất khẩu sang thị trường Đức là do công ty tiến hành sản xuất. Nguồn nguyên
liệu chính truyền thống của công ty chủ yếu được nhập khẩu Trung Quốc và một số
loại vải phải nhập khẩu từ Đài Loan. Công ty chọn Trung Quốc làm thị trường nhập
khẩu bởi lẽ Trung Quốc có lợi thế về địa lý, hệ thống giao thông thuận tiện cho việc
vận chuyển hàng hóa, do vậy, giảm được chi phí vận chuyển. Hơn nữa, giá cả lại
thấp hơn so với thị trường khác. Từ những lý do trên mà công ty có thể giảm chi phí
và hạ giá thành sản phẩm của mình, điều này rất quan trọng trong điều kiện lạm
phát như hiện nay.
Sản xuất hàng may mặc cần nhiều công đoạn khác nhau và được thể hiện qua
quy trình sau:
Sơ đồ 3.2. Quy trình sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của Công ty CPTM
Khang Vĩnh
Nguồn: Phòng kinh doanh - XNK
Quy trình sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại công ty có nhiều công đoạn
nhưng là một dây chuyền sản xuất liên tục, đáp ứng đầy đủ số lượng hàng xuất khẩu
theo đơn đặt hàng của đối tác. Phân xưởng sản xuất sẽ chia ra ba bộ phận thực hiện
ba chức năng của quy trình sản xuất, đó là chia cắt, ráp nối và hoàn tất.

hàng về vị trí đã được định sẵn. Thường thì các cấp quản lý lên kế hoạch đúng ngày
để tập trung hàng tại cảng để bốc hàng lên tàu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp sản
xuất xong phải tập trung trong nhà kho hàng gần phân xưởng sản xuất. Nguyên
nhân có thể do đối tác mà cũng có thể là do điều kiện tự nhiên. Vì vận chuyển hàng
xuất khẩu của công ty chủ yếu bằng đường biển. Trong trường hợp tập trung hàng
tại các nhà kho, công ty có những biện pháp để bảo quản hàng hóa chống ẩm, mốc,
đảm bảo chất lượng hàng may mặc để xuất khẩu cho đối tác.
 Bao gói hàng may mặc xuất khẩu
Bao gói là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác
chuẩn bị hàng xuất khẩu nói chung và hàng may mặc xuất khẩu nói riêng. Đôi khi
bao bì sản phẩm cũng quan trọng như chính bản thân sản phẩm. Bao bì có thể có
tính năng tạo sự tiện dụng trong việc phân phối, vận chuyển, sắp xếp và bảo vệ sản
phẩm khỏi chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường. Đức là một thị trường mà có
hàng rào kĩ thuật về bao bì rất khắt khe như: quy định về chất liệu của bao bì, hình
ảnh, màu sắc, kiểu dáng, an toàn cho người tiêu dùng…Vì vậy, để có được công tác
bao gói hiệu quả, công ty phải nghiên cứu kỹ và căn cứ vào điều khoản hợp đồng về
bao bì, bao gói sản phẩm để sử dụng những loại bao gói đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Công ty CPTM Khang Vĩnh trực tiếp thực hiện công tác bao gói hàng may
mặc xuất khẩu. Loại bao gói được công ty sử dụng là bao bì nylon các loại như:
PVC, PE…., và thùng carton, ngoài ra có các phụ kiện như băng keo, gói chống
ẩm, dây đai nhựa. Tất cả đều nhập từ Trung Quốc và đạt tiêu chuẩn đóng gói cho
hàng xuất khẩu sang thị trường Đức.
 Kẻ ký mã hiệu hàng may mặc xuất khẩu
Ký mã hiệu hàng hóa cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan về sản phẩm
cũng như thông tin cần thiết để vận chuyển hàng hóa. Sản phẩm được công ty trực
tiếp kẻ ký mã hiệu. Sau khi đóng gói hàng hóa, bộ phận chuẩn bị hàng của công ty
sẽ tổ chức phân loại, kẻ ký mã hiệu cho hàng hóa. Ký mã hiệu sẽ được ghi trên bao
bì sản phẩm và trên các lô hàng hóa. Trên các lô hàng hóa, thông tin mã hiệu thể
hiện tên hàng hóa, số lượng hàng hóa trong mỗi lô, tên công ty xuất khẩu, tên công
ty nhập khẩu, số hiệu kiện hàng…Trên các bao bì sản phẩm, ký mã hiệu thể hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status