Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm bao bì tại công ty cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát - Pdf 25

Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
SẢN PHẨM BAO BÌ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ MÔI TRƯỜNG
XANH AN PHÁT
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Ngày nay, xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là quốc tế hoá và hội
nhập hoá. Quá trình hội nhập đã tạo cho các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị
trường, học hỏi kinh nghiệm quản lý kinh doanh, tiếp cận khoa học kỹ thuật… đồng
thời cũng đẩy các doanh nghiệp vào thế cạnh tranh quyết liệt. Để đạt được hiệu quả
trong sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp cần quan tâm đến hai yếu tố quan
trọng có tính quyết định đó là giá cả và chất lượng. Trong đó, giá cả sản phẩm đưa
ra phải bù đắp được CPSX và phù hợp với chiến lược, mục tiêu trong từng giai
đoạn. Để đưa ra được mức giá hợp lý trước hết doanh nghiệp phải căn cứ trên giá
thành sản phẩm thực tế của doanh nghiệp, kết quả của công tác kế toán tập hợp
CPSX.
Mặt khác, lợi nhuận của quá trình sản xuất kinh doanh bằng tổng thu nhập
trừ đi tổng chi phí. Do đó, việc tập hợp chi phí trung thực hợp lý là cơ sở xác định
kết quả kinh doanh một cách chính xác. Kết quả kế toán tập hợp chi phí cũng là cơ
sở để các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn, lên kế hoạch sản
xuất và tiêu thụ nhằm đạt được lợi nhuận như mong muốn.
Có thể nói kế toán tập hợp CPSX có vai trò quan trọng trong hệ thống tổ
chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất, quyết định đến sự thành bại
của doanh nghiệp này. Do vậy, việc hoàn thiện kế toán nói chung và kế toán CPSX
nói riêng là một vấn đề mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm.
Lợi ích của việc hạ thấp CPSX không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp
mà xét trên phạm vi xã hội cũng hết sức quan trọng. Nó góp phần tiết kiệm vốn và
chi phí chi nền kinh tế là điều kiện tăng tích luỹ cho đất nước và là động lực thúc
đẩy phát triển năng suất lao động xã hội.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
1

Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Về mặt lý luận, mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống hoá, làm rõ
những vấn đề cơ bản về kế toán CPSX gồm các nội dung chủ yếu: Khái niệm, bản
chất, phân loại CPSX, kế toán CPSX theo chuẩn mực, theo chế độ kế toán hiện
hành là cơ sở cho việc hạch toán CPSX trong DNSX.
Qua nghiên cứu thực tế, phân tích đánh giá thực trạng kế toán CPSX sản
phẩm bao bì tại công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát từ đó đámh giá
những ưu điểm, hạn chế để đưa ra những đề xuất hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
tại công ty.
1.4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện trên các phương diện sau:
- Không gian nghiên cứu tại: Công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát.
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm bao bì
- Số liệu nghiên cứu của đề tài được lấy trong tháng 4 năm 2011.
1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất sản phẩm bao bì tại công
ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong
doanh nghiệp sản xuất
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng kế toán chi phí
sản xuất bao bì tại công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát
Chương 4: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất bao bì tại
công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán

4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
Theo giáo trình kế toán sản xuất (Tác giả Đặng Thị Hòa, NXB Thống Kê
2003): Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống, lao
động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành
các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí phát sinh tại các phân
xưởng, tổ, đội, bộ phận sản xuất gắn liền với hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm
của doanh nghiệp tại một thời kỳ nhất định.
Xét về thực chất, CPSX là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào đối
tượng tính giá nhất định. Nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh
doanh.
* Để phục vụ công tác xác định chi phí, có thể phân loại CPSX thành 3 khoản
mục cơ bản là:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ các chi phí về nguyên liệu, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế
tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực
tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ,
bao gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và các khoản
trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ) được tính vào chi phí sản xuất
trong kỳ của công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại
phân xưởng sản xuất ngoài 2 khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và
nhân công trực tiếp để phục vụ và quản lý sản xuất.
2.2. Một số lý thuyết cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản
xuất
2.2.1. Kế toán CPSX theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Kế toán chi phí sản xuất là một hoạt động kế toán, CPSX kinh doanh dở
dang liên quan đến hàng tồn kho, do đó nó chịu sự chi phối của chuẩn mực kế toán

sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất
bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện
sản xuất bình thường.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình
thường thì CPSX chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi
phí thực tế phát sinh.
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường thì CPSX chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn
vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản CPSX chung không phân bổ
được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn
vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một
khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phản ánh
một cách tách biệt thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại sản phẩm theo tiêu
thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế toán.
Trường hợp có sản phẩm phụ thì giá trị sản phẩm phụ tính theo giá trị thuần có thể
thực hiện được và giá trị này được trừ khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung cho
sản phẩm chính.
2.2.1.2. Chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung
Theo chuẩn mực kế toán số 01: Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất kinh
doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp và các chi phí khác, trong đo:
Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp như: Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và những chi phí liên quan đến hoạt động
cho các bên sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền…Những chi phí này phát

Cũng giống như TSCĐ hữu hình thì TSCĐ vô hình cũng tham gia vào quá
trình sản xuất của doanh nghiệp, nó có thể là quyền sử dụng đất, bằng phát minh,
sáng chế, quyền phát hành, bản quyền tác giả… Theo chuẩn mực này thì giá trị
khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời
gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó. Thời gian tính khấu hao tối đa của
TSCĐ hữu hình là 20 năm. Việc trích khấu hao được tính từ khi bắt đầu đưa tài sản
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
vào sử dụng. Chi phí khấu hao cho từng thời kỳ phải được ghi nhận là CPSX, kinh
doanh trừ khi chi phí đó được tính vào giá trị của tài sản khác.
2.2.1.5. Chuẩn mực số 16 – Chi phí đi vay
Theo chuẩn mực này quy định: Chi phí đi vay là khoản lãi vay và các chi phí
khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp.
Chi phí đi vay phải được ghi nhận vào CPSX, kinh doanh trong kỳ khi phát
sinh trừ khi chi phí ấy có đủ điều kiện được vốn hóa như: Các chi phí cho khoản
đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bắt đầu phát sinh, các chi phí đi vay
phát sinh, các hoạt động cần thiết trong việc chuẩn bị đưa tài sản vào sử dụng hoặc
bán đang được tiến hành. Doanh nghiệp phải xác định được khoản chi phí được vốn
hóa và thời điểm tạm ngừng vốn hóa, chấm dứt vốn hóa.
Việc vốn hóa chi phí đi vay tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình
đầu tư xây dựng hoặc quá trình sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn, trừ khi sự
gián đoạn đó là cần thiết.
Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết
cho việc chuẩn bị đưa tài sản vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành. Chi phí đi vay
sau đó sẽ được ghi nhận là CPSX, kinh doanh trong kỳ.
2.2.2. Nội dung kế toán chi phí sản xuất trong chế độ kế toán ban hành theo
quyết định 15/2006/QĐ-BTC
2.2.2.1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí
a. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

chức ghi chép ban đầu cho các CPSX theo địa điểm phát sinh chi phí để kế toán tập
hợp chi phí. Sau đó phải chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính toán, phân bổ CPSX đã
tập hợp cho các đối tượng có liên quan một cách hợp lý nhất và đơn giản thủ tục
tính toán phân bổ.
Quá trình phân bổ gồm 2 bước:
- Xác định hệ số phân bổ (H)

Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
10
Tổng chi phí cần phân bổ (C)
H=
Tổng đại lượng cần phân bổ
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Xác định chi phí phân bổ cho đối tượng
Ci = Ti x H
Trong đó: Ci là phần phân bổ cho đối tượng i
Ti là tiêu thức phân bổ của đối tượng i
2.2.2.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
a. Chứng từ kế toán sử dụng
Trong kế toán tập hợp CPSX, việc tổ chức ghi chép ban đầu có ý nghĩa rất quan
trọng, để tổ chức công việc ghi chép khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh doanh
nghiệp sản xuất sử dụng những chứng từ sau:
- Phiếu xuất kho (Mẫu số 02-VT)
Phiếu xuất kho do các bộ phận xin lĩnh hoặc do bộ phận quản lý, bộ phận
kho lập (tùy theo tổ chức quản lý và quy định của từng doanh nghiệp) thành 3 liên
(đặt giấy than viết 1 lần). Sau khi lập phiếu xong, người lập phiếu hoặc kế toán
trưởng ký xong chuyển cho giám đốc hoặc người được ủy quyền duyệt (ghi rõ họ,
tên) giao cho người nhận cầm phiếu xuống kho để nhận hàng. Sau khi xuất kho, thủ
kho ghi vào cột 2 số lượng thực xuất của từng thứ, ghi ngày, tháng, năm xuất kho và
cùng người nhận hàng ký tên vào phiếu xuất kho (ghi rõ họ tên).

thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán trưởng soát xét xong trình cho giám đốc
hoặc người được ủy quyền ký duyệt, chuyển cho kế toán lập phiếu chi và phát
lương. Bảng thanh toán tiền lương được lưu lại phòng (ban) kế toán của đơn vị.
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXH (Mẫu số 11-LĐTL)
Phiếu được lập dùng để tập hợp và phân bổ tiền lương, tiền công thực tế phải
trả (Gồm tiềm lương, tiền công và các khoản phụ cấp), BHXH, BHYT và KPCĐ
phải trích nộp trong tháng cho các đối tượng sử dụng lao động.
- Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ (Mẫu số 06-TSCĐ)
Chứng từ này được lập để phản ánh số khấu hao TSCĐ phải trích và phân bổ
số khấu hao đó cho các đối tượng sử dụng TSCĐ hàng tháng.
- Phiếu chi (Mẫu số 02-TT)
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
Phiếu được lập nhằm xác định các khoản tiền mặt, ngoại tệ thực tế xuất quỹ
và làm căn cứ để thủ quỹ xuất quỹ, ghi sổ quỹ và ghi sổ kế toán.
Phiếu chi được lập thành 3 liên và chỉ sau khi có đủ chữ ký (Ký theo từng
liên) người lập phiếu, kế toán trưởng, giám đốc, thủ quỹ mới được xuất quỹ. Sau
khi đã nhận đủ số tiền, người nhận tiền phải ghi số tiền đã nhận bằng chữ, ký tên và
ghi rõ họ, tên vào phiếu chi.
b. Tài khoản sử dụng và trình tự hạch toán
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
 Tài khoản sử dụng: TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Ngoài ra còn sử
dụng TK 152 – Nguyên vật liệu, TK 111 – Tiền mặt, TK 112 – Tiền gửi ngân hàng,
TK 133 – Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, TK 611 – Mua hàng, TK 632 – Giá
vốn hàng bán.
 Trình tự hạch toán:
Trường hợp 1: Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên:
Khi xuất kho NVL sử dụng cho sản xuất, căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán

 Trình tự hạch toán:
Hàng tháng, căn cứ số liệu ở bảng thanh toán lương để trả lương cho công
nhân sản xuất, kế toán ghi vào bên nợ TK 622 và có TK 334.
Hàng tháng kế toán căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương để trích BHXH,
BHYT, KPCĐ, BHTN theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm vào
CPSX, kế toán ghi vào bên nợ của TK 622 và bên có TK 338 (chi tiết cho 3382,
3383, 3384, 3389).
Khi trích trước lương nghỉ phép cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm,
lương ngừng sản xuất theo mùa vụ, kế toán phản ánh tổng số tiền vào bên nợ của
TK 622 đồng thời phản ánh vào bên có của TK 335.
Khi công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm nghỉ phép, ngừng sản xuất theo
mùa vụ, kế toán phản ánh tổng số tiền vào bên nợ của TK 335, đồng thời phản ánh
vào bên có của TK 334.
Cuối kỳ kết chuyển chi phí công nhân trực tiếp vượt trên mức bình thường
vào bên nợ của TK632.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK có liên quan theo đối
tượng tập hợp chi phí:
+ Nếu doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế
toán kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ của TK 154.
+ Nếu doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán sẽ
kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ của TK 631 – Giá thành sản xuất.
* Kế toán chi phí sản xuất chung:
 Tài khoản sử dụng:
TK 627 – Chi phí sản xuất chung. TK 627 có 6 TK chi tiết cấp 2:
TK 6271 – Chi phí nhân viên.
TK 6272 – Chi phí NVL.
TK 6273 – Chi phí dụng cụ sản xuất.

phản ánh vào bên nợ của TK 627 và bên có TK 214 số khấu hao.
Đối với các chi phí điện, nước, tiền thuê nhà xưởng, tùy thuộc vào phương
pháp tính thuế GTGT của doanh nghiệp mà kế toán có các ghi chép khác nhau:
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, khi phát
sinh các khoản chi phí đó kế toán sẽ phản ánh vào bên nợ của TK 627 (chi tiết cho
6277) số tiền chưa có thuế, đồng thời phản ánh phần thuế GTGT được khấu trừ vào
bên nợ của TK 133 và phản ánh tổng giá thanh toán vào bên có của các TK thanh
toán có liên quan như: 111, 112, 331…
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, khi phát
sinh các khoản chi phí đó kế toán sẽ phản ánh đồng thời vào bên nợ của TK 627
( chi tiết cho 6278) và vào bên có TK thanh toán có liên quan như: 111, 112, 331…
theo tổng giá thanh toán của các khoản chi phí đó.
+ Khi phát sinh các khoản chi phí khác bằng tiền khác phục vụ cho hoạt
động sản xuất chung kế toán phản ánh vào bên nợ của TK 627 (chi tiết cho 6278) và
vào bên có của TK có liên quan (TK 111, 112)
* Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp:
Trên cơ sở các khoản mục chi phí đã được hạch toán, kế toán phải tổng hợp
CPSX để làm cơ sở cho việc tính giá thành sau này. Tùy theo từng doanh nghiệp
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp nào mà kế toán sử dụng các tài khoản
liên quan để tập hợp CPSX.
Trường hợp 1: Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên thì để tập hợp CPSX kế toán sẽ sử dụng TK 154 – Chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang để tập hợp.
Trình tự hạch toán: (sơ đồ 2.1)
Cuối kỳ kết chuyển chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ theo từ đối tượng tập hợp chi phí vào
bên nợ TK 154 đồng thời ghi có cho các TK đối ứng 621, 622, 627.

- Nếu doanh nghiệp ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ: Sử dụng các sổ:
+ Chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
+ Sổ Cái các tài khoản: TK621, TK622, TK627, TK 154…
+ Các sổ, thẻ kế toán chi tiết các TK: TK621, TK622, TK627, TK 154…
- Nếu doanh nghiệp ghi sổ theo hình thức nhật ký chứng từ: Sử dụng các sổ:
+ Nhật ký chứng từ số 7, bảng kê số 4.
+ Sổ Cái các TK: TK621, TK622, TK627, TK 154…
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết các TK621, TK622, TK627…
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính:
Tùy thuộc vào hình thức kế toán mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn trên phần mềm kế
toán, hàng ngày khi phát sinh các nghiệp cụ có liên quan kế toán sẽ nhập vào hệ
thống, phần mềm sẽ tự động tổng hợp vào các sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
2.3. Tổng quan khách thể nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất của những
năm trước
Trước khi nghiên cứu đề tài kế toán CPSX sản phẩm bao bì tại công ty Cổ
phần nhựa và môi trường xanh An Phát, em đã tìm hiểu công trình luận văn của 3
sinh viên thực tập ở 3 đơn vị có hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau.
- Tác giả Nguyễn Thanh Dung, lớp K42D2, với luận văn: “Kế toán chi phí sản xuất
sản phẩm áo măng tô nữ tại công ty Cổ phần may 19” (Năm 2010).
+ Về mặt lý luận: Tác giả đã nêu những vấn đề chung về kế toán CPSX trong
DNSX gồm: Khái niệm, đặc điểm, phân loại CPSX, các phương pháp tập hợp
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
18
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
CPSX. Trong nội dung kế toán CPSX theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
chi phối, tác giả đã đưa ra 5 chuẩn mực kế toán chi phối: Chuẩn mực kế toán số 01,
chuẩn mực kế toán số 02, chuẩn mực kế toán số 03, chuẩn mực kế toán số 04 và
chuẩn mực kế toán số 16. Nội dung kế toán CPSX trong chế độ kế toán ban hành
theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC, tác giả đã đưa ra các chứng từ kế toán được sử
dụng, các tài khoản sử dụng, việc vận dụng tài khoản trong kế toán chi phí sản xuất

+Về mặt lý luận: Tác giả đã nêu được những vấn đề chung về kế toán chi phí sản
xuất gồm: Khái niệm, bản chất, phân loại, các phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất, kế toán chi phí sản xuất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chế độ kế toán
hiện hành.
+ Về mặt thực tế: Tác giả đã chỉ ra những ưu điểm đạt được của công ty: Tổ chức
tốt công tác kế toán; quá trình tập hợp chi phí sản xuất hợp lý, khoa học và tuân thủ
theo đúng quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán; hệ thống chứng từ của công
ty được tổ chức hợp pháp, hợp lệ, đầy đủ; hệ thống tài khoản và sổ sách được vận
dụng một cách khoa học theo đúng chế độ. Bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại trong
hạch toán: Phiếu xuất kho còn nộp chậm, cuối tháng mới tổng hợp và nộp lên phòng
kế toán, doanh nghiệp không bóc tách CPSX chung cố định và CPSX chung biến
đổi, không trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phần mềm kế toán còn có những
trục trặc, công ty không trích trước lương nghỉ phép cho công nhân…
+Tác giả đã đưa ra một số giải pháp: Công ty nên lập bảng kê giao nhận chứng từ
để việc quản lý và luân chuyển chứng từ lên phòng kế toán chặt chẽ hơn, hạch toán
riêng chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi, công ty nên
trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, và trích trước tiền lương nghỉ phép cho công
nhân, xem xét lại chương trình cài đặt phần mềm kế toán.
+ Tuy nhiên, những đề xuất của tác giả còn chưa triệt để. Cụ thể đó là: Mục đích
của giải pháp hạch toán riêng chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất
chung biến đổi chưa rõ ràng, trong giải pháp đó tác giả chưa nêu ra được chi phí sản
xuất chung biến đổi và chi phí sản xuất chung cố định của doanh nghiệp là gì, mà
mới chỉ nêu ra trong chuẩn mực chi phí đó bao gồm những gì. Giải pháp xem xét lại
chương trình cài đặt phần mềm kế toán còn chung chung chưa cụ thể hóa.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
20
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
Qua nghiên cứu các công trình luận văn cùng đề tài về kế toán CPSX trên đã
góp phần giúp em có định hướng trong nghiên cứu đề tài về kế toán CPSX. Từ đăc
điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý khác nhau thì sẽ có biện pháp

+ Bước 1: Xác định nguồn thông tin cần thu thập, đối tượng điều tra và số
lượng người phát phiếu điều tra.
Nguồn thông tin cần thu thập là những thông tin liên quan đến công tác kế
toán và vấn đề nghiên cứu đề tài CPSX bao bì tại công ty.
Đối tượng điều tra chủ yếu là các cán bộ nhân viên kế toán tại công ty, ngoài
ra còn có các cán bộ nhân viên thuộc các bộ phận khác của công ty.
Số lượng người điều tra tùy thuộc vào điều kiện của người điều tra, quy mô
tổ chức hoạt động của công ty…
+ Bước 2: Thiết lập các câu hỏi điều tra trắc nghiệm là những câu hỏi về vấn
đề cần nghiên cứu, tìm hiểu. Các câu hỏi chủ yếu liên quan đến vấn đề về: Mô hình
tổ chức bộ máy kế toán tại công ty, chính sách kế toán của DN, ưu nhược điểm của
các nội dung tổ chức công tác kế toán trong DN, ưu nhược điểm của phần hành kế
toán CPSX và tính giá thành sản phẩm bao bì trong công ty.
+ Bước 3: Tiến hành phát các phiếu điều tra trắc nghiệm cho các cán bộ nhân
viên của Công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát.
Tổng số phiếu điều tra phát ra là: 8 phiếu.
Tổng số phiếu thu lại là: 8 phiếu.
Phiếu điều tra được phát cho tất cả là 4 kế toán viên, 1 kế toán trưởng, 1
phiếu cho giám đốc nhân sự, 1 phiếu cho nhân viên kinh doanh, 1 phiếu cho thủ
kho.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
22
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
Phiếu điều tra được thiết kế theo mẫu trong phụ lục 3.1.
Kết quả tổng hợp phiếu điều tra, đánh giá về kế toán CPSX sản phẩm bao bì
tại công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát trong phụ lục 3.3.
3.1.2. Phương pháp phỏng vấn
Là việc trao đổi trực tiếp với các nhân viên tại phòng kế toán của công ty.
Nội dung của cuộc phỏng vấn là trao đổi về việc hạch toán CPSX tại công ty, tìm
hiểu những thuận lợi và khó khăn mà bộ máy kế toán gặp phải trong quá trình tập

Tháng 9/2002, tiền thân của Công ty cổ phần nhựa và môi trường xanh An
Phát là công ty TNHH Anh Hai Duy được thành lập do hai thành viên góp vốn với
số vốn điều lệ là 500 triệu đồng. Trước sự tăng trưởng nhanh chóng về quy mô thị
trường và nhu cầu sản xuất, tháng 4/2004 Công ty đã thuê 10.000 m
2
đất tại khu
công nghiệp Nam Sách để đầu tư nhà máy tái chế nhựa và sản xuất bao bì nhựa.
Tháng 3/2007, Hội đồng thành viên của công ty TNHH Anh Hai Duy thống nhất
phương án chuyển đổi công ty thành công ty Cổ phần nhựa và bao bì An Phát (nay
là công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát) nhằm phát huy tối đa các lợi
thế đã và sẽ có.
Công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát được thành lập với vốn
điều lệ ban đầu là 30 tỷ theo Giấy phép đăng ký kinh doanh lần đầu được sở Kế
hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương cấp ngày 09 tháng 03 năm 2007.
Ngày 17/04/2010, Đại hội đồng cổ đông của công ty quyết định tăng vốn điều lệ lên
99 tỷ đồng thông qua việc phát hành cho cổ đông hiện hữu với giá 37.000 đồng/cổ
phiếu. Việc phát hành được hoàn tất vào ngày 15/05/2010.
Hiện An Phát có 3 nhà máy sản xuất, cả 3 nhà máy của An Phát đều có dây chuyền
sản xuất từ Đài Loan, Singapore và Nhật Bản.
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức như sau: (Sơ đồ 3.1)
- Đại hội đồng Cổ đông: Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty,
quyết định các vấn đề lớn về tổ chức hoạt động, sản xuất kinh doanh, đầu tư phát
triển… của công ty theo quy định của Điều lệ. Đại hội đồng cổ đông bầu ra Hội
đồng quản trị và Ban kiểm soát là cơ quan thay mặt Đại hội đồng cổ đông quản lý
công ty giữa 2 kỳ Đại hội.
Hoàng Thị Hường Lớp K43D3
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Hội đồng quản trị: Hoạt động kinh doanh và các công việc của công ty phải
chịu sự quản lý hoặc chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là

Trích đoạn Kế toán chi phí nhân công trực tiếp Kế toán chi phí sản xuất chung Dự báo triển vọng Quan điểm hoàn thiện chi phí sản xuất bao bì tại công ty Cổ phần nhựa và môi trường xanh An Phát Giải pháp về trích trước tiền lương nghỉ phép cho công nhân viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status