Hỏi đáp pháp luật về bồi thường thiệt hại - Pdf 25

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Nguyễn Tất Viễn - Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
Phạm Thị Hòa - Phó Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
BIÊN SOẠN:
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
1
LỜI GIỚI THIỆU
Bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi
thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh được những tranh
chấp xảy ra thì mọi cá nhân, tổ chức phải nắm vững và thực hiện đúng đắn nội
dung quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại. Vì vậy, việc nâng cao hiểu
biết pháp luật về lĩnh vực này là một vấn đề rất cần thiết.
Nhằm đáp ứng được yêu cầu đó, Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư
pháp biên soạn cuốn sách: "Hỏi đáp pháp luật về bồi thường thiệt hại”. Cuốn
sách được trình bày dưới hình thức hỏi đáp với nội dung ngắn gọn, hấp dẫn, thể
hiện những nội dung cơ bản về pháp luật bồi thường thiệt hại.
Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu pháp luật thiết thực đối với cán bộ tư
pháp, các hoà giải viên, tuyên truyền viên và người dân ở cơ sở.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 8/2006
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT -
BỘ TƯ PHÁP
2
PHẦN I
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ
Câu 1: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng được pháp luật quy định như thế nào?

những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm
các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư
- Có lỗi của người gây thiệt hại.
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về
hình thức lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể
hiện dưới dạng cố ý hay vô ý.
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy
trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con
người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các
hành vi đó.
Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước
4
mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không
phải bồi thường.
- Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên tắc của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại
Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: "Người nào xâm phạm mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường". Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó.
Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp

quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự quy định năng lực hành vi, tình trạng tài sản
và khả năng bồi thường của cá nhân cụ thể như sau:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi
thường;
- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ
không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng
thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại
Điều 621 Bộ luật dân sự.
Người từ 15 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi
thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ
phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt
hại mà có người giám hộ thì người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng
tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hội
không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải
bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình
6
không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường.
Câu 4. A làm nghề lái xe ôm. Một hôm, A cho B là người hàng xóm
mượn xe để về quê, từ quê lên, do uống rược say nên B đã lao xe vào gốc
cây bên đường khiến xe bị hư hỏng rất nặng. Xe hỏng khiến A không thể
chở khách được, thu nhập của A bị giảm sút. Vậy khi A có yêu cầu thì B
có phải bồi thường thiệt hại cho A không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trong trường
hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
- Tài sản bị mất;
- Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

dân sự, trong đó báo có đề cập đến việc tòa án xác định thiệt hại do tính
mạng bị xâm hại.
Tôi xin hỏi, theo quy định của pháp luật thì thiệt hại do tính mạng bị
xâm hại được xác định như thế nào? Mức bồi thường thiệt hại là bao nhiêu?
Trả lời:
Việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được quy định tại Điều
610 Bộ luật Dân sự năm 2005. Cụ thể là:
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt
hại trước khi chết;
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp
dưỡng.
8
- Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại
theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần
cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại,
nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi
dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền
này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu
không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu
do Nhà nước quy định.
Hiện nay, mức lương tối thiểu được quy định tại Nghị định số
118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ về điều chỉnh mức lương tối
thiểu chung, theo đó từ ngày 01 tháng 10 năm 2005 mức lương tối thiểu chung là
350.000 đồng/tháng. Như vậy, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần nếu
các bên không thỏa thuận được là không quá 21.000.000 đồng (hai mốt triệu
đồng).
Câu 7. Vừa qua, tôi có dự phiên tòa xét xử lưu động tổ chức tại trụ sở
Uỷ ban nhân dân phường. Khi tuyên án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã

tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
+ Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng
tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.
10
Câu 9. Một người có hành vi chống trả người đang xâm phạm lợi ích
của nhà nước, lợi ích tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của
người khác mà gây thiệt hại được pháp luật hình sự và pháp luật dân sự
quy định như thế nào?
Trả lời:
Trong thực tế, có nhiều trường hợp một người, do phải chống trả một
người khác đang có hành vi xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, bảo vệ
lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà gây thiệt hại cho người có
hành vi xâm hại. Đây là những trường hợp phòng vệ- tuỳ theo sự tương xứng
tính chất, mức độ của sự xâm hại với thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm
hịa để xác định là phòng vệ chính đáng hay phòng vệ vượt quá giới hạn chính
đáng.
Trong luật hình sự, phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ
lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của
người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm
phạm các lợi ích nói trên. Người có hành vi phòng vệ chính đáng không bị coi là
tội phạm. Chỉ khi hành vi chống trả rõ ràng là quá mức cần thiết thì người có
hành vi đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi chống trả rõ ràng quá
mức cần thiết là hành vi không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi xâm hại. Đây là trường hợp do đánh giá sai tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi xâm hại mà người phòng vệ đã lựa chọn phương tiện
hoặc phương pháp gây ra thiệt hại là quá mức cần thiết cho người xâm hại, trong
khi không cần thiết phải gây thiệt hại như vậy.
Trong luật dân sự, nguyên tắc bồi thường thiệt hại cũng được xác định
dựa trên yếu tố "phòng vệ chính đáng" hay "vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng". Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người gây thiệt

Như vậy, N và nhóm bạn của mình đều có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho bà T tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người. Nếu không xác định được
mức độ lỗi của mỗi người thì từng người phải bồi thường thiệt hại theo phần
bằng nhau.
Câu 12. Do ông B quên không đóng cửa vườn dưa nên con bò nhà anh
D đã vào vườn và làm hư hại một phần vườn dưa nhà ông B. Ông B yêu cầu
anh D phải bồi thường thiệt hại do con bò gây ra, nhưng anh D không đồng
ý vì cho rằng do lỗi của ông B không đóng cửa vườn. Trong trường hợp này,
việc bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt
hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi thì khi người bị thiệt hại cũng có
lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt
hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.
Trong trường hợp trên, ông B tuy là người bị thiệt hại nhưng thiệt hại đó
một phần do lỗi của ông vì ông quên không đóng cửa vườn, nên ông phải chịu
một phần trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra. Còn anh D cũng có lỗi do đã
không trông coi bò để bò phá vườn dưa, anh cũng phải chịu trách nhiệm đối với
thiệt hại xảy ra và phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của
mình.
Câu 13. Trường hợp người của pháp nhân trong khi thực hiện nhiệm
vụ được pháp nhân giao gây thiệt hại cho người khác thì pháp nhân hay
người gây thiệt hại phải bồi thường ?
13
Trả lời:
Pháp nhân là một tổ chức được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp
nhân có thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ

bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Câu 15. Cơ quan điều tra huyện A đã ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự và khởi tố bị can M về tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật
hình sự năm 1999 và ra lệnh tạm giam M để điều tra. Lệnh tạm giam đã
được Viện kiểm sát nhân dân huyện A phê chuẩn. Nhưng sau qua trình điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện A ra quyết định huỷ bỏ lệnh tạm giam vì
M không thực hiện hành vi phạm tội. M có đơn yêu cầu bồi thường thiệt
hại. Hỏi trường hợp của M có được bồi thường thiệt hại không ? Nếu có thì
cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường ?
Trả lời :
Điều 620 Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, quy định :
Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng.
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã
gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người
có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.
15
Điểm 1.2 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT –
VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004 giữa Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ quốc
phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số
388/2003/NQ-UBTVQH11 thì trường hợp của anh M thuộc diện các trường hợp
được bồi thường thiệt hại. Anh M có quyền làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại
do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Điều 10 Nghị
quyết số 388/2003/NQ –UBTVQH, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
quy định như sau :
- Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã ra quyết định
khởi tố bị can có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi

giữ xe cho khách, do bất cẩn người đó đã làm mất một chiếc xe máy của
khách. Người khách bị mất xe đòi tôi bồi thường. Theo quy định của pháp
luật, ông A hay người trông giữ xe phải bồi thường?
Trả lời:
Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, cá nhân, pháp nhân và các
chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công,
người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, trong trường hợp này, trước hết, ông A có trách nhiệm bồi
thường cho người bị hại vì thiệt hại do người làm công gây ra trong khi thực hiện
công việc được giao. Sau đó, ông A có quyền yêu cầu người trông giữ xe hoàn
trả toàn bộ hay một phần tiền theo quy định của pháp luật.
17
Câu 18. Nguồn nguy hiểm cao độ là gì? Pháp luật quy định như thế
nào về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Trả lời:
Điều 623 Bộ luật dân sự quy định về nguồn nguy hiểm cao độ như sau:
- Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ
giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ,
chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác
do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản,
trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định
của pháp luật.
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử
dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường

kể trên để tính toán chi phí thiệt hại về môi trường, làm căn cứ để bồi thường và
giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường.
19
Câu 20: Nhà ông A và nhà ông B là hai nhà liền kề. Vườn xoài nhà
ông A có một số cành xoài trùm lên phần mái nhà của ông B gây vỡ nhiều
mảng ngói của nhà ông B. Vậy ông B có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt
hại hay không?
Trả lời:
Ông A có quyền sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng theo quy định
của pháp luật. Mảnh vườn đó thuộc quyền sử dụng của ông A. Vấn đề ông A
trồng cây gì là thuộc quyền của ông A, miễn là không phải cây mà pháp luật cấm
trồng, hoặc việc trồng đó ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và có nguy cơ
phương hại đến các công trình liền kề. Trong trường hợp này, ông A phải dự liệu
tới việc tán lá phủ sang nhà liền kề, và do đó phải để ra một khoảng cách thích
hợp giữa cây mình trồng với nhà của ông B. Ở đây, ông A đã không làm điều đó,
mà để hậu quả xảy ra đối với nhà ông B. Vậy ông B có quyền yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại.
Theo quy định của Bộ luật dân sự cụ thể tại Điều 626 quy định, chủ sở
hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gãy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại
xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Câu 21: Pháp luật quy định như thế nào về bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra?
Trả lời:
Điều 627 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định, chủ sở hữu, người được chủ
sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dưng khác phải bồi thường
thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở
gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Câu 22. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể được pháp luật quy
định như thế nào?

này tôi có được bồi thường không?
Trả lời:
Điều 630 của Bộ luật dân sự quy định về việc bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng như sau: cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác
sản xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho
người tiêu dùng thì phải bồi thường.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật, thì cửa hàng bán máy bơm nước
có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại vì đã đã có hành vi vi phạm trong hoạt
động kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá gây thiệt hại cho người
tiêu dùng. Mức bồi thường sẽ do hai bên thoả thuận. Trong trường hợp không
thoả thuận được, người có yêu cầu được bồi thường thiệt hại có thể yêu cầu Toà
án giải quyết.
PHẦN II: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG
Câu 24. Anh Nguyễn Văn H được Doanh nghiệp A tuyển vào học nghề
may với cam kết làm việc cho doanh nghiệp này ít nhất là 3 năm sau khi
được đào tạo. Tuy nhiên, sau khi làm việc ở Doanh nghiệp A được 1 năm,
anh H đã xin nghỉ việc để chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp khác. Do
đó, Doanh nghiệp A đã yêu cầu anh H bồi thường chi phí dạy nghề. Yêu cầu
của Doanh nghiệp A có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
22
Trả lời:
Trong trường hợp này, Doanh nghiệp A yêu cầu anh H bồi thường chi phí
dạy nghề là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Khi được tuyển vào học nghề, anh A đã
cam kết sẽ làm việc cho doanh nghiệp ít nhất là 3 năm. Sau 1 năm, anh A đã nghỉ
việc, như vậy đã không làm đúng cam kết.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Bộ luật Lao động thì người học
nghề sau khi học xong, nếu không làm việc theo cam kết thì phải bồi thường chi
phí dạy nghề.
Chi phí này bao gồm các khoản chi phí cho người dạy, tài liệu học tập,

mất việc làm và chủ doanh nghiệp không thể sắp xếp cho chị công việc mới thì
chị K được nhận trợ cấp mất việc làm.
Mức trợ cấp mất việc làm mà người sử dụng lao động phải trả cho người
lao động trong trường hợp này được tính như sau: cứ mỗi năm làm việc trả một
tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương (khoản 1 Điều 17 Bộ
luật Lao động).
Câu 27: Anh Nguyễn Văn A là công nhân làm việc cho một công ty
TNHH sản xuất đồ hộp H từ ngày 01/01/2002. Ngày 01/01/2005, do thay đổi
cơ cấu, tình hình sản xuất của công ty gặp nhiều khó khăn nên Công ty
không thể giải quyết việc làm mới cho anh A. Do vậy, Công ty cho anh A
thôi việc. Xin hỏi theo quy định của pháp luật, anh A sẽ được trợ cấp mất
việc làm là bao nhiêu? (mức lương của anh A trong 01 năm trước khi xảy ra
sự việc này là 700.000 đ/tháng).
Trả lời:
24
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động, mức trợ cấp mất việc
làm được xác định là: cứ 01 năm làm việc trả 01 tháng lương, nhưng thấp nhất
cũng bằng 02 tháng lương. Điều này có nghĩa là:
+ Nếu thời gian làm việc ≤ 02 năm, người lao động sẽ được trợ cấp một
khoản tiền là 02 tháng lương.
+ Nếu thời gian làm việc > 02 năm, số tiền mà người lao động sẽ được trợ
cấp là: cứ 01 năm làm việc trả 01 tháng lương.
Theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 14/4/2003 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm (sau đây
gọilà Nghị định số 39/2003/NĐ-CP) quy định, thời gian làm việc để được hưởng
trợ cấp mất việc làm là từ đủ 01 năm (12 tháng) trở lên, nếu có tháng lẻ được
tính như sau:
- Dưới 01 tháng: không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm.
- Từ 01 tháng đến dưới 06 tháng: tính bằng 06 tháng làm việc để hưởng trợ
cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status