ĐIỀU TRỊ GÃY BONG ĐIỂM BÁM CHÀY CỦA DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC
KHỚP GỐI BẰNG CHỈ PDS NÉO ÉP QUA NỘI SOI
BS CKII Nguyễn Tam Thăng
BS Đỗ Xuân Quang
TÓM TẮT
1.Đặt vấn đề: Gãy bong điểm bám chày DCCT là một trong những tổn thương thường gặp
của chấn thương vùng gối. Phẫu thuật nội soi đính chỗ bám DCCT qua nội soi hiện nay vẫn là
phương pháp có nhiều ưu điểm, hạn chế rất lớn các biến chứng ảnh hưởng tới khớp gối. Tại
khoa ngoại chấn thương bệnh viện Quảng Nam đã bước đầu triển khai kỹ thuật này. 2.Mục
tiêu: đánh giá kết quả liền xương và chức năng khớp gối sau phẫu thuật. 3.Phương pháp
nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu gồm 12 bệnh nhân được chẩn đoán gãy bong điểm bám
chày DCCT bằng lâm sàng, X-quang. Được chỉ định phẫu thuật cố định chỗ bám chày DCCT
sau khi loại trừ chống chỉ định phẫu thuật. 4. Kết quả - Kết luận: 12 BN bị gãy bong điểm
bám chày DCCT được phẫu thuật nội soi cố định chỗ bám trong thời gian từ 1/2012-10/2013.
Thời gian theo dõi trung bình 5 tháng, phục hồi vững gối cải thiện so với trước mổ: dấu
Lachman có tỉ lệ đạt tốt (độ 0) là 91,7% , khá (độ 1) 8,3%. Điểm số Lysholm điểm trung bình
trước mổ là 44,17 ± 6,59 và sau mổ là 88,83 ± 9,86 với tỉ lệ tốt và rất tốt đạt 91,7%, trung
bình 8,3%. Biến chứng: Đau phía trước xương bánh chè có 2 BN với tỉ lệ là 16,7%. Tê dị
cảm phía trước cẳng chân có 1 BN với tỉ lệ 8,3%. Phẫu thuật cố định chổ bám chày DCCT
bằng chỉ PDS qua nội soi là phương pháp an toàn, hiệu quả giúp bệnh nhân phục hồi lại chức
năng và độ vững khớp gối.
1.Background: ACL tibial avulsion is one of the most common of the knee injury.
Arthroscopy treatment of the tibial avulsion fracture in ACL has many advantages, thereby
greatly limiting complications affecting the knee joint. We have initially deployed this
surgical technique at Trauma hospital in Quang Nam. 2. Objective: Evaluate the results of
bone healing and joint function after knee surgery. 3. Patients and method: prospective study
included 12 patients diagnosed ACL tibial avulsion based on clinical sign and X-ray from
1/2012 to 10/2013. Indicated with arthroscopy fixation of ACL tibial avulsion by PDS suture
after exclusion of contraindications. 4. Results and Conclusion: In the period from 1/2012 –
10/2013 we have done 12 cases. Mean follow-up: 5 months, knee-joint stability improved:
Phân loại:
Năm 1959 Meyer và McKeever mô tả phân loại đầu tiên chia thành 3 độ.
Năm 1977 Zaricznys bổ sung thành 4 độ
Độ I: Không di lệch Độ III: Bong hoàn toàn, xoay.
Độ II: Di lệch (Duck’s beak lifting) Độ IV: Bong hoàn toàn kèm vỡ nát.
ĐỘ I ĐỘ II ĐỘ III ĐỘ IV
Hình 2.1: Phân độ gãy bong điểm bám chày
2
Cơ sinh học chỉ tan chậm PDS( Polydiaxanone suture ):
- Chỉ PDS là loại chỉ đơn sợi tự tiêu tổng hợp có độ dai rất cao, thời gian tiêu rất lâu so
với các chỉ tan khác.
Chất liệu chỉ Sức mạnh duy trì theo thời gian Thời gian chỉ bị hấp thu
VICRYL 75%: 2 Tuần
25%: 4 Tuần
56 – 70 Ngày
MONOCRYL 60% - 70%: 1 Tuần
30 -40 % : 2 Tuần
91 – 199 Ngày
PDS 80% : 2 Tuần
70% : 4 Tuần
60% : 6 Tuần
183 – 238 Ngày
(The American Journal of Sport Medecine 35: 404-410,2007)
Phương pháp phẫu thuật:
Tư thế bệnh nhân: Nằm ngữa, garô đùi, gối gấp 90 độ.
Vô cảm: Gây mê nội khí quản hoặc gây tê tủy sống.
Đường mổ nội soi khớp: lỗ vào trước ngoài và trước trong gân bánh chè.
Kiểm tra khớp: Nội soi kiểm tra toàn bộ các thành phần trong khớp, xác định chẩn
đoán và tổn thương phối hợp.
Kỹ thuật khâu đính mãnh gãy:
là 4 tháng dài nhất là 8 tháng)
4
Tuổi nhỏ nhất là 14, lớn nhất là 59, đa số dưới 20 tuổi. Nam chiếm đa số. Nguyên
nhân do tai nạn giao thông chiếm 75%.
Thời gian nằm viện trung bình 7,42 ± 1,16 ngày, ngắn nhất 6 ngày, dài nhất 10 ngày.
3.1.Kết quả điều trị :(thời gian theo dõi trung bình 5 tháng)
Kết quả liền xương: tất cả đều liền xương
Kết quả phục hồi tầm vận động khớp gối:
Kết quả về phục hồi tầm vận động sau mổ 5 tháng có 10 BN đạt tầm vận động bình
thường. Giới hạn tầm vận động gấp gối dưới 120
0
có 2 BN.
Kết quả phục hồi độ vững ra trước của khớp gối
Trong nghiên cứu này hiện chưa có phương tiện đo lường nào khách quan để đánh giá
sự hồi phục sau mổ của dấu hiệu khám lâm sàng này. Chủ yếu dựa vào cảm giác chủ quan
đánh giá trong khi khám dấu hiệu lâm sàng này.
Nghiệm pháp ngăn kéo trước: Đánh giá chủ quan trên lâm sàng so sánh với bên lành.
Kết quả trước mổ có 12 BN có dấu ngăn kéo (+) chiếm 100%, sau mổ còn 3 BN có
dấu ngăn kéo (+) chiếm 25%. Suy ra có sự giảm đáng kể kết quả trượt mâm chày ra trước sau
mổ.
Nghiệm pháp Lachman: so với bên lành
Bảng 3.1: so sánh tần số có dấu Lachman trước và sau mổ
Dấu Lachman Trước mổ Sau mổ
Số lượng
(BN)
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(BN)
Tỷ lệ
0 1 11 12
Tỷ lệ (%) 0 8,3 91,7 100
Sau
mổ
Số lượng
(BN) 11
1 0 12
Tỷ lệ (%) 91,7 8,3 0 100
So sánh các tỷ lệ trên cho thấy có sự cải thiện đáng kể chức năng khớp gối theo thang
điểm Lysholm. Trong đó tỷ lệ tốt và rất tốt đạt 91,7%, trung bình 8,3% và không có trường
hợp nào có kết quả xấu.
3.2. Các biến chứng
Nhiễm trùng khớp gối: Kết quả theo dõi không có trường hợp nào bị nhiễm trùng khớp gối.
Đau phía trước xương bánh chè (còn gọi đau chè đùi): Có 2 BN trên 12 BN theo dõi với tỉ lệ là
16,7%. Biến chứng này được ghi nhận sau 5 tháng theo dõi BN than phiền đau khớp chè đùi.
Tê dị cảm phía trước cẳng chân: Kết quả số BN bị tê dị cảm da là 1 với tỉ lệ 8,3%. Triệu
chứng này thường khó chịu trong 4 đến 8 tuần đầu sau đó quen dần. Tùy nhánh thần kinh da bì
bị ảnh hưởng khi rạch da cột chỉ cố định ở mâm chày mà vùng tê da khác nhau. Tê da thường
gặp 1/3 giữa cẳng chân trước ngoài và chỗ quanh sẹo.
Khớp giả (không liền xương): Đánh giá liền xương trên X-quang sau thời gian theo dõi trung
bình 5 tháng, kết quả không có trường hợp nào bị khớp giả không liền xương.
4. BÀN LUẬN
Chẩn đoán:
Gãy bong điểm bám chày của DCCT là tổn thương thường gặp của chấn thương vùng
gối. Có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất là thanh thiếu niên. Cơ chế chấn thương
thường là gián tiếp, do sự xoay và căng quá mức của mâm chày so với lồi cầu đùi dẫn đến sự
kéo giật bên trong của DCCT làm bong mảnh sụn và xương dưới sụn. Nguyên nhân thường
do chấn thương thể thao, tuy nhiên theo các nghiên cứu gần đây của các tác giả trong nước thì
tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu.
6
chịu lực tốt (399,4 N) so với vít (354,2 N) nên có khả năng cố định mảnh gãy và đủ thời gian cho
quá trình liền xương. Không cần phải phẫu thuật lần 2 để lấy dụng cụ ra như vít hay chỉ thép.
7
Kết quả liền xương
Chúng tôi đánh giá liền xương dựa trên hình ảnh X-quang, theo kết quả tất cả 12 BN đều
liền xương. Đối với gãy bong điểm bám DCCT độ 2 và độ 3, thường mảnh gãy nằm lơ lững
trong ổ khớp sau chấn thương, nếu không cố định lại mảnh gãy thì khả năng liền xương rất
thấp và DCCT sẽ thoái hóa. Hậu quả của việc không điều trị sẽ dẫn đến lỏng khớp, gây tổn
thương các thành phần khác trong khớp và cuối cùng dẫn đến thoái hóa khớp.
Điều kiện để liền xương là nắn lại mảnh gãy nơi bám chày và cố định vững chắc. Theo
các nghiên cứu thì chỉ PDS có độ chắc đảm bảo để sử dụng làm vật liệu cố định thay thế cho
vít và chỉ thép, thời gian tự tiêu dài hơn thời gian liền xương, ngoài ra việc sử dụng chỉ PDS
còn có ưu điểm không phải phẫu thuật lại lần 2 để lấy vật liệu.
Hình 2.4: X- quang trước và sau mổ
Đánh giá phục hồi tầm vận động khớp
Một trong những mục đích của phẫu thuật đính lại chỗ bám DCCT là phục hồi lại đầy
đủ tầm vận động của khớp gối. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi sau thời gian theo dõi
trung bình 5 tháng đa số các BN phục hồi lại tốt tầm vận động khớp 10/12 BN (83,3 %), tuy
nhiên vẫn còn 2 BN giới hạn gấp gối dưới 120
0
do mảnh gãy nát phải bất động lâu hơn và bệnh
nhân không có điều kiện tập phục hồi chức năng thường xuyên. Đặng Hoàng Anh theo dõi 12
BN trong thời gian 6 tháng vẫn còn 2 BN hạn chế gấp gối 20
0
. Nguyễn Đình Chương theo dõi
15 BN sau 8 tháng không có trường hợp nào bị giới hạn vận động. Nguyễn Thành Tâm theo
dõi 42 BN sau 6 tháng còn 2 BN hạn chế gấp gối dưới 120
0
. Tác giả Hwang Jung Park theo dõi
(65-83)
Xấu
(<65)
Đặng Hoàng Anh (2011)
(n=12, cố định bằng chỉ thép)
94% 6% 0%
Nguyễn Đình Chương (2010)
(n=15, cố định chỉ PDS)
95% 5% 0%
Nguyễn Thanh Tâm (2012)
(n=42, cố định chỉ PDS)
97,62% 2,38% 0%
Hwang Jung Park (2007)
(n=10, cố định chỉ PDS)
94,5% 5,5% 0%
Chúng tôi (n=12, cố định chỉ PDS) 91,7% 8,3% 0%
Dựa trên kết quả trung bình của thang điểm Lysholm trước mổ là 44,17 ± 6,59 tăng
lên sau mổ là 88,83 ± 9,86 với thời gian theo dõi trung bình là 5 tháng. Trong đó tỷ lệ tốt và
rất tốt đạt 91,7%, tỷ lệ trung bình là 8,3% và không có trường hợp nào có kết quả xấu. Qua đó
cho thấy có sự cải thiện đáng kể về chức năng của khớp gối sau mổ tuy nhiên cần nghiên cứu
với mẫu lớn hơn.
Đặng Hoàng Anh 2011 đính lại chỗ bám DCCT qua nội soi bằng chỉ thép cho 12 BN,
theo dõi từ 6 – 8 tháng đạt điểm Lysholm trung bình sau phẫu thuật là 94,6 điểm với tỷ lệ tốt
94%. Năm 2010, Nguyễn Đình Chương khâu đính qua nội soi bằng chỉ PDS cho 15 BN với
thời gian trung bình 8 tháng với kết quả sau phẫu thuật đạt 95±1,8 điểm. Hwang Jung Park
9
(2007) đánh giá 10 BN (từ 14 đến 50tuổi) đính lại chỗ bám tận DCCT bằng chỉ PDS qua nội
soi sau 1 năm theo dõi với điểm Lysholm trung bình sau mổ đạt 94,5±7,2 điểm.
Thang điểm Lysholm đánh giá sự hồi phục chức năng của khớp gối, vì vậy sự cải
thiện của điểm số này sau phẫu thuật một phần là nhờ vào quá trình PHCN sau mổ và những
1. Đặng Hoàng Anh (2010):”Kết quả phẫu thuật nội soi đính lại điểm bám dây chằng chéo
trước”, Tạp Chí Y Học Việt Nam, tr 34-38.
2. Nguyễn Đình Chương, Trương Trí Hữu, Nguyễn Quốc Trị (2010): “Điều trị bong nơi bám
chày dây chằng chéo trước bằng kỹ thuật khâu cố định dưới nội soi”, Tạp Chí Y Học Việt
Nam, tr. 96-102.
3. Lê Hanh (2003): “Đánh giá kết quả phẫu thuật đính lại điểm bám dây chằng chéo trước
qua nội soi”, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện quân Y.
4. Nguyễn Đức Hồng (1997), “Dấu hiệu tầm vận động khớp”, Atlas nhân trắc học người
Việt Nam trong lứa tuổi lao động, NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr. 69.
5. Nguyễn Quang Quyền, Phạm Đăng Diệu (1997), “Khớp gối”, Atlas giải phẫu người, (dịch
từ Atlas of human Anatomy của F.Netter), NXB Y Học, tr. 478-479.
6. Nguyễn Thành Tâm, Lê Chí Dũng (2012): “Điều trị gãy bong điểm bám chày của DCCT
khớp gối bằng kỹ thuật khâu chỉ PDS néo ép qua nội soi”, Tạp Chí Chấn Thương Chỉnh Hình
Việt Nam, Số đặc biệt, tr. 11-16.
7. Phạm Ngọc Thắng, Đặng Hoàng Anh, Nguyễn Văn Qúi (2009): “Kết quả phẫu thuật nội
soi đính lại điểm bám chày dây chằng chéo trước”, Tạp Chí Y Dược Học Quân Sự, tr. 35-39.
8. Fu FH, Bennett CH, Ma CB et al (2000), “Current trends in anterior cruciate ligament
reconstruction. Part II. Operative procedures and clinical correlations”, Am J Sports, 28,
pp.124–130.
9. Lubowittz J., Elson W., Guttmann D.(2005): “Arthroscopic treatment of tibial plateau
fracture: intercondylar Eminence Avulsion Fractures”, Arthroscopic, pp.86-92.
10. Lysholm J, Gillquist J (1982), “Evaluation of knee ligament surgery results with special
emphasis on use of a scoring scale”, Am J Sports Med, 10, pp.150–154.
11. Mathews D.E, Geissler W.B. (1994): “Arthroscopic suture fixation of displaced tibial
eminence fracture”, Arthroscopy, pp. 418-423.
12. Meyer M.H, McKeever F.M. (1970): “Fracture of the intercondylar eminence of the
tibial”, J.Bone Joint Surg Am, pp. 1677-1684.
13. Park H J, Urabe K, Naruse K, Aikawa J, Fujita M, Itoman M (2007): “Arthroscopic
evaluation after surgical repair of intercondylar eminence fractures”, Arthroscopy and sports
medicine, pp 753-757.